intTypePromotion=3

Đề tài nghiên cứu khoa học: Phân tích thực trạng tỷ giá hối đoái giai đoạn 2006-2010

Chia sẻ: Nguyễn Minh Duy | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:47

0
84
lượt xem
13
download

Đề tài nghiên cứu khoa học: Phân tích thực trạng tỷ giá hối đoái giai đoạn 2006-2010

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài nghiên cứu khoa học: Phân tích thực trạng tỷ giá hối đoái giai đoạn 2006-2010 với mục đích nhằm hiểu rõ hơn, nắm vững hơn về mặt lý thuyết và cơ sở ứng dụng của tỷ giá hối đoái, chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Đặc biệt là ứng dụng thực tiễn vào thực trạng tình hình biến động tỷ giá hối đoái ở Việt Nam giai đoạn 2006 đến nay, trên cơ sở đó rút ra một số bài học kinh nghiệm, đưa ra một số giải pháp giải quyết biến động tỷ giá hối đoái cho Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài nghiên cứu khoa học: Phân tích thực trạng tỷ giá hối đoái giai đoạn 2006-2010

  1. MỤC LỤC TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI KHOA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ                GVHD: LƯƠNG BẢO LINH Nhóm thực hiện: NGUYỄN MINH DUY XNK17I LÝ CHÍ THANH THẢO XNK17I LÊ THỊ NGỌC LINH XNK17I HỒ THỊ TRÚC LY XNK17I NGUYỄN THỊ MỘNG HẰNG XNK17I 1GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  2. MỤC LỤC LÊ THỊ MỸ DUYÊN XNK17I THIỀU THỊ THÙY TRANG XNK17I 2GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  3. MỤC LỤC MỤC LỤC            3GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  4. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮC ADB Ngân hàng phát triển châu Á CP Chính phủ CNY Nhân dân tệ EUR Euro FDI Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài GBP Bảng Anh IMF Quỹ tiền tệ thế giới JPY Yên Nhật LNH Liên ngân hàng ODA Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế NHNN Ngân hàng nhà nước NHTM Ngân hàng thương mại NHTW  Ngân hàng trung ương SDR Đồng tiền tập thể TCTD  Tổ chức tín dụng TGHĐ Tỷ giá hối đoái USD Đôla Mỹ VND Đồng Việt Nam 4GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  5. Lời mở đầu LỜI MỞ ĐẦU Trong 20 năm trở  lại đây, chúng ta đã từng chứng kiến những sự  kiện Tài chính –  Tiền   tệ   làm   rung   chuyển   thế   giới,   đó   là:   cuộc   khủng   hoảng   đồng   peso   Mexico   tháng  12/1994; sự  mất giá kỉ  lục của USD vào năm 1995, để  rồi lên giá đột biến sau đó; cuộc   khủng hoảng Tài chính – Tiền tệ  Đông Nam Á vào năm 1997 – 1998; sự  ra đời đồng tiền   chung Châu Âu EURO; cuộc khủng hoảng tài chính thế  giới   bắt đầu từ  Mỹ  năm 2008,  những sản phẩm mới trên thị  trường ngoại hối...Những biến động về  Tài chính ­  Tiền tệ  với quy mô và tốc độ  chưa từng có, đã  ảnh hưởng lây lan có tính dây chuyền và để  lại   những hậu quả nặng nề cho nhiều quốc gia, nhiều tập đoàn kinh tế và công ty. TGHĐ luôn gắn liền với các nền kinh tế  thị  trường mở, do đó trước nhu cầu hội   nhập quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải có sự  am hiểu thấu đấu về  lĩnh vực này, đặc biệt là   những kiến thức hiện đại đang được áp dụng phổ  biến trên thế  giới. TGHĐ là một trong  những vấn đề phức tạp, nhạy cảm và là một yếu tố vô cùng quan trọng. Không ít nền kinh   tế  lâm vào tình trạng khó khăn do TGHĐ gây ra. TGHĐ đang tạo ra một sự chú ý đặc biệt   đối với các nhà kinh tế, các nhà chính trị và nó đã trở thành một chủ đề thảo luận sôi nổi và  kéo dài không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Trong một loạt các chính sách tài chính ­  tiền tệ, thì chính sách điều chỉnh TGHĐ mà điển hình là chính sách nâng giá tiền tệ hay phá  giá tiền tệ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế  cả  về đối  nội lẫn đối ngoại. Với chính sách TGHĐ, CP các quốc gia có thể  đưa nền kinh tế  thoát ra  khỏi những   cuộc khủng hoảng tài chính…và ngược lại cũng có thể  vì một chính sách  TGHĐ không hợp lý mà đưa nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng nghiêm  trọng. Thêm vào đó, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế  lạm phát, giảm tỷ  lệ  thất nghiệp, cân  bằng cán cân thương mại, chính sách thu hút đầu tư  nước ngoài… luôn là những mục tiêu   kinh tế quan trọng của mọi quốc gia, đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay; để thực   hiện được những mục tiêu đó, tùy vào tình hình cụ  thể  của từng nước mà áp dụng chính   sách điều chỉnh TGHĐ cho phù hợp. Thấy rõ   được tầm quan trọng của vấn đề  TGHĐ trong xu thế  phát triển của nền   kinh tế thế giới cũng như tính cấp thiết của vấn đề này đối với nền kinh tế của Việt Nam.   Đặc biệt là sau khi Việt Nam tiến hành mở cửa cải cách nền kinh tế vào năm 1986, việc gia   nhập tổ  chức thương mại thế  giới WTO vào đầu năm 2007,  ảnh hưởng của cuộc khủng   5GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  6. Lời mở đầu hoảng kinh tế  thế  giới diễn ra vào năm 2008 tới nền kinh tế  Việt Nam, điển hình là trong   năm 2011. Với sự gia tăng mạnh mẽ của TGHĐ chủ  yếu là tỷ  giá VND/USD, lạm phát có   tình hình diễn biên phức tạp trong năm 2011, giá vàng tăng lên chóng mặt liên tục phá kỷ lục  về giá, giới đầu cơ liên tục làm giá. Bên cạnh đó, hiện tượng tích trữ  ngoại tệ trong người   dân còn phổ  biến dẫn đến sự  khan hiếm ngoại tệ, cán cân thanh toán bị  thâm hụt, lái suất   ngân hàng tăng cao…đã tác động tới TGHĐ. Để làm rõ những tác động đó tới TGHĐ, hiểu   rõ được thực trạng TGHĐ thực tế ở Việt Nam Đề  tài nghiên cứu với mục đích là nhằm hiểu rõ hơn, nắm vững hơn về  mặt lý  thuyết và cơ sở  ứng dụng của TGHĐ, chính sách điều chỉnh TGHĐ. Đặc biệt là ứng dụng   thực tiễn vào thực trạng tình hình biến động TGHĐ  ở  Việt Nam giai đoạn 2006 đến nay,   trên cơ  sở  đó rút ra một số bài học kinh nghiệm, đưa ra một số  giải pháp giải quyết biến  động TGHĐ cho Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu của đề  án là thực trạng TGHĐ của Việt Nam cùng với chính  sách TGHĐ đối với hoạt động thương mại, phát triển kinh tế  nói chung. Phạm vi nghiên   cứu là vấn đề TGHĐ, chính sách điều chỉnh TGHĐ ở Việt Nam giai đoạn 2008 đến nay với   những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam.  6GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  7. CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. I. KHÁI NIỆM TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. I. KHÁI NIỆM TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1. Sự hình thành tỷ giá hối đoái Toàn cầu hóa và ngoại thương ngày càng phát triển cho nên hoạt động trao đổi, buôn   bán, đầu tư  không chỉ  xảy ra trong một quốc gia, mà còn giữa các quốc gia với nhau. Khi   một nước nhập hay xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ  từ  nước ngoài cần phải có một lượng   đồng tiền của quốc gia đó hay đồng tiền được chấp nhận thanh toán quốc tế  nhất định để  thanh toán. Để  biểu hiện giá trị  trao đổi của đồng tiền nước ngoài so với đồng tiền trong   nước thì TGHĐ ra đời. Thương mại quốc tế chính là cơ sở để hình thành TGHĐ. 2. Khái niệm về tỷ giá hối đoái (Exchange rate). Khi thực hiện các giao dịch tiền tệ trên thị trường tiền tệ, các chủ thể kinh doanh tùy   theo khả năng tham gia thị trường sẽ hình thành quan hệ cung cầu giữa hai đồng tiền và hình   thành nên giá cả cân bằng của hai đồng tiền đó. Hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu trên   thị  trường   tiền tệ  nên tỷ  giá hối đoái được định nghĩa khác nhau tùy theo mục đích hoạt   động của chủ thể tham gia thị trương. Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh về mặt giá trị giữa hai  đồng tiền của hai quốc gia.  Chẳng hạn, tỷ  giá hối đoái giữa Bảng Anh và Đô la Mỹ  là 1,8235, có nghĩa là quan hệ  so  sánh về giá trị giữa hai đồng tiền này 1 Bảng Anh bằng 1,8235 Đô la Mỹ hay 0.5484 Bảng  Anh tương đương 1 Đô la Mỹ. Cách định nghĩa này không cho thấy bản chất của tỷ giá hối   đoái là giá cả tiền tệ được hình thành do quan hệ cung cầu và không cho phép các nhà kinh  doanh tiền tệ lựa chọn được các phương thức kinh doanh phù hợp. Mặt khác, về bản chất, tỷ  giá hối đoái chính là giá cả  của một đơn vị  tiền tệ  nước   này được thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ của nước khác. Do đó, tỷ  giá hối đoái được   định nghĩa là “giá cả mà tại mức giá đó một đơn vị tiền tệ được đổi lấy một số đơn vị tiền  tệ khác” hoặc “ tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơ  vị tiền tệ được thể  hiện bằng một số  đơn vị  tiền tệ khác”. Chẳng hạn, một nhà nhập khẩu Mỹ  bỏ  ra 180.000 Đô la Mỹ  để  mua  một tờ  Séc có mệnh giá là 100.000 Bảng Anh. Như  vậy, giá 1 Bảng Anh bằng 1,8 Đôla   Mỹ.Tỷ giá hối đoái được xác định là 180000 USD/100000 GBP = 1,8 USD/GBP Định nghĩa tỷ giá hối đoái như trên cho thấy bản chất tỷ giá là giá cả của một đơn vị  tiền tệ, nó gắn với quan hê cung cầu về đồng tiền đó trên thị trường nên tỷ  giá sẽ  thay đổi   nếu cung cầu thay đổi Cách định nghĩa này cũng giúp cho các nhà kinh doanh và các tổ chức  tài chính có thể tính toán được giá cả tiền tệ, xây dựng các phương án kinh doanh tiền tệ  và  thanh toán tiền  hàng sao cho có lợi nhất. Cách định nghĩa này cũng cho thấy phương pháp có  thể áp dụng để phân tích sự biến động và dự báo tỷ giá hối đoái là trên cơ sở các nhân tố tác   động   trực   tiếp   và   gián   tiếp   đến   cung   cầu   một   đồng   tiền. 7GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  8. CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. I. KHÁI NIỆM TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. Luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (1997) định nghĩa tỷ  giá hối đoái là tỷ  lệ  giữa giá trị  của đông Việt Nam với giá trị của đồng tiền nước ngoài. Tỷ giá này được hình thành trên cơ  sở  cung cầu ngoại tệ trên thị  trường có sự  điều tiết của Nhà Nước và do Ngân hàng Nhà   nước Việt Nam xác định và công bố, Bảng tỷ giá giao dịch được công bố theo ngày trên cơ  sở tỷ giá của thị trường liên ngân hàng và các ngân hàng thương mại được quyền giao dịch  trên cơ sở tỷ giá công bố và biên độ dao động do ngân hàng nhà nước qui định. 8GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  9. CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. II. PHÂN LOẠI TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. II. PHÂN LOẠI TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. 1. Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, tỷ giá hối đoái được chia ra làm 2  loại: ­ Tỷ giá mua: là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào. ­ Tỷ giá bán: là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra. Tỷ  giá mua bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán và khoảng chênh lệch đó (SPREAD) là lợi  nhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng. 2. Căn cứ vào chế độ quản lý tỷ giá, tỷ giá hối đoái được chia ra thành tỷ giá cố  định và tỷ giá thả nổi: − Tỷ  giá cố  định (Tỷ  giá chính thức) là tỷ  giá do NHTW công bố  và không thay đổi  trong một khoảng thời gian. − Tỷ  giá thả  nổi (Tỷ  giá thị  trường) là tỷ  giá được hình thành theo quan hệ  cung cầu   ngoại hối. Tỷ giá này biến động thường xuyên thùy theo tình hình cung cầu ngoại tệ  trên thị trường ngoại hối. 3. Căn cứ vào phương diện thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái được chia ra thành: − Tỷ giá tiền mặt: là loại tỷ giá áp dụng cho các ngoại tệ tiền mặt, séc, thẻ tín dụng. − Tỷ giá chuyển khoản: là tỷ giá áp dụng cho các trường hợp giao dịch thanh toán ngoại   hối được thực hiện bằng cách chuyển khoản qua ngân hàng. Loại tỷ giá này thường   thấp hơn tỷ giá tiền mặt do khi sử dụng tỷ giá chuyển khoản không cần phải có sự  xuất hiện của một lượng tiền mặt thực sự, do vậy giảm được chi phí lưu thông tiền  mặt. 4. Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối, tỷ giá hối đoái được chia ra thành: − Tỷ  giá mở cửa: là tỷ  giá chào hàng đầu tiên của một ngày giao dịch. Nó có thể  là tỷ  giá chào hàng vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối của phiên giao dịch   đầu tiên trong ngày làm việc. − Tỷ  giá đóng cửa: là tỷ  giá vào cuối giờ  giao dịch hay tỷ  giá mua bán ngoại hối của   phiên giao dịch cuối cùng trong ngày làm việc. Trong giao dịch ngoại, thông thường các ngân hàng không thông báo tất cả tỷ giá của   các hợp đồng ký trong ngày mà chỉ công bố tỷ giá mở cửa và tỷ giá đóng cửa. Hai tỷ giá này  có mối quan hệ mật thiết với nhau, tỷ giá mở cửa thường được hình thành trên cơ sở tỷ giá  đóng cửa của ngày hôm trước có tham khảo sự  biến động tỷ  giá trên thị  trường quốc tế  trong đêm đó. 5. Căn cứ vào thời điểm chuyển vốn, tỷ giá hối đoái được chia ra thành: − Tỷ  giá giao ngay: là tỷ  giá được áp dụng trong giao dịch mà việc chuyển vốn, thanh  toán xảy ra đồng thời với thời điểm ký hợp đồng (đồng thời  ở  đây được hiểu theo  nghĩa trong phạm vi 02 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng mua bán ngoại hối). 9GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  10. CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. II. PHÂN LOẠI TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. − Tỷ giá kỳ hạn (forwards): là tỷ giá được áp dụng trong giao dịch mà việc chuyển vốn  được tiến hành sau 1 thời gian nhất định, theo 1 tỷ giá được xác định trước vào thời  điểm ký kết hợp đồng. 6. Căn cứ vào hình thức thanh toán sử dụng: − Tỷ  giá điện hối: là tỷ  giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm chuyển   ngoại hối bằng điện. Tỷ giá điện hối là tỷ giá làm cơ sở xác định các loại tỷ giá khác. − Tỷ  giá thư  hối: là tỷ  giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm chuyển   ngoại hối bằng thư. Tỷ giá thư  hối nhỏ hơn tỷ  giá điện hối do chi phí chuyển bằng   thư  rẻ  hơn chuyển bằng điện. Ngoài ra, việc chuyển ngoại hối bằng thư chậm hơn  do đó người ta phải tính lãi phát sinh trong thời gian đó và được khấu trừ vào tỷ giá. − Tỷ giá check: là tỷ giá được xác định trên cơ sở bằng tỷ giá điện hối trừ đi số tiền lãi  phát sinh theo số  ngày cần thiết của bưu điện để  chuyển check từ  nước này sang   nước khác. − Tỷ  giá hối phiếu: là tỷ  giá được xác định bằng tỷ giá điện hối trừ  đi số  tiền lãi phát  sinh tính từ lúc ngân hàng mua hối phiếu cho đến lúc hối phiếu đó được trả tiền. 7. Căn cứ vào mối quan hệ tỷ giá với chỉ số lạm phát, tỷ giá hối đoái được chia ra   thành tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực: − Tỷ  giá danh nghĩa (E): Là giá cả  của một đồng tiền được biểu thị  thông qua đồng  tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hoá và dịch vụ  giữa chúng.   Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá phổ biến được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên các  thị trường ngoại hối. − Tỷ giá thực: Là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh   bởi tỷ lệ lạm phát giữa trong nước với nước ngoài,do đó nó là chỉ số phản ánh tương  quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. Từ  khái niệm trên tỷ  giá thực được xác định  theo công thức:  Er = E.P*/P Trong đó:  Er là tỷ giá thực                 E là tỷ giá danh nghĩa                  P* là giá cả ở nước ngoài bằng ngoại tệ                  P là giá cả ở trong nước bằng nội tệ.                                                                                            10GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  11. CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI.  III.  CÁC NHÂN T   Ố ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI .  III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. Sau khi chế  độ  tiền tệ  Bredtton Woods sụp đổ  năm 1971, quan hệ  tiền tệ  giữa các   nước được "thả nổi". Với cơ chế này, tỷ giá hối đoái của các nước biến động lên xuống do  chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau. 1. Chênh lệch lạm phát của hai nước làm ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái Theo lý thuyết cân bằng sức mua, tỷ giá hối đoái phản ánh so sánh sức mua của đồng   nội tệ so với đồng ngoại tệ hay mức giá trong nước và mức giá của nước ngoài. Vì vậy, khi  chênh lệch lạm phát giữa hai nước thay đổi, tức là mức giá cả  ở  hai nước này thay đổi, tỷ  giá hối đoái giữa hai đồng tiền của hai nước đó sẽ biến động theo. Nếu mức lạm phát trong nước cao hơn mức lạm phát của nước ngoài, sức mua của đồng   nội tệ  giảm so với ngoại tệ thì tỷ  giá hối đoái có xu hướng tăng lên. Ngược lại, nếu mức  lạm phát trong nước thấp hơn mức lạm phát ở  nước ngoài, sức mua của đồng nội tệ  tăng   tương đối so với đồng ngoại tệ và tỷ giá giảm xuống. Ví dụ, trước lạm phát, mặt hàng A bán tại Mỹ  với giá 1USD, bán tại Việt Nam với  giá 16.000 VND. Tỷ  giá hối đoái USD/VND lúc này là 1 USD = 16.000 VND. Giả sử, năm  2006, mức lạm phát tại Mỹ là 3%, tại Việt Nam là 7% thì mức giá của mặt hàng A lúc này   đã thay đổi.  Ở  Mỹ, mặt hàng A sẽ  được bán với giá 1 USD + 1USD×3% = 1,03 USD. Tại   Việt Nam, giá của mặt hàng A do tác động của lạm phát lúc này sẽ  là 16.000 VND +  7%×16.000 VND = 17.120 VND. Tỷ  giá USD/VND sau tác động của lạm phát là 1 USD =  17.120/1,03 = 16.621 VND. Như vậy, do chênh lệch lạm phát dương giữa Việt Nam và Mỹ,  tỷ  giá hối đoái giữa hai đồng tiền này đã tăng lên. Nếu chúng ta giả  sử  ngược lại, tức là  mức lạm phát ở Mỹ là 7% và ở Việt Nam là 3% thì tỷ giá sẽ giảm đi, nhỏ hơn mức 1 USD   tương đương với 16.000 VND. 2. Chênh lệch lãi suất giữa các nước Nước nào có lãi suất ngắn hạn cao hơn thì luồng vốn ngắn hạn có xu hướng chảy   vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cung ngoại hối tăng lên, cầu  ngoại hối giảm đi và tỷ giá hối đoái có xu hướng giảm. Để  xác định mức lãi suất của một nước là cao hay thấp, thông thường người ta so sánh  mức lãi suất của nước đó với các lãi suất quốc tế  như  lãi suất đi vay trên thị  trường liên   ngân hàng London LIBID, lãi suất quốc tế trên thị trường liên ngân hàng Singapore SIBID... Cần lưu ý rằng, chênh lệch lãi suất có tác động tới sự biến động của tỷ giá nhưng đó   chỉ  là sự tác động gián tiếp chứ  không phải trực tiếp bởi lãi suất trong nhiều trường hợp   không phải là nhân tố  quyết định tới sự  di chuyển của các dòng vốn. Chênh lệch lãi suất  phải trong điều kiện ổn định kinh tế  chính trị  thì mới thu hút được nhiều vốn ngắn hạn từ  bên ngoài đổ vào. 3. Tình hình thiếu thừa trong cán cân thanh toán quốc tế Nhân tố này tác động trực tiếp đến quan hệ cung cầu ngoại tệ, thông qua đó tác động  tới tỷ giá. Khi cán cân thanh toán bội thu, theo tác động của quy luật cung cầu ngoại tệ sẽ  11GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  12. CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI.  III.  CÁC NHÂN T   Ố ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI .  làm cho đồng ngoại tệ mất giá, đồng nội tệ lên giá, tỷ giá hối đoái giảm. Ngược lại, khi cán  cân thanh toán quốc tế bội chi sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên giá, đồng nội tệ mất giá, tỷ giá   hối đoái tăng. 4. Tình hình tăng trưởng hay suy thoái kinh tế Nếu các yếu tố khác không đổi mà thu nhập quốc dân của một nước tăng lên so với  nước khác thì nhu cầu nhập khẩu hàng hóa từ  nước khác cũng tăng dẫn tới cầu ngoại hối   tăng. Kết quả là tỷ giá hối đoái sẽ có xu hướng tăng lên. 5. Yếu tố tâm lý và các hoạt động đầu cơ Yếu tố tâm lý được thể hiện bằng sự phán đoán của thị  trường về các sự  kiện kinh   tế, chính trị... từ những sự kiện này, người ta dự đoán chiều hướng phát triển của thị trường   và thực hiện những hành động đầu tư  về  ngoại hối, làm cho tỷ  giá có thể  đột biến tăng,   giảm trên thị trường. Ngoài ra, tỷ giá hối đoái còn phụ thuộc vào chính sách có liên quan tới quản lý ngoại  hối, các sự kiện kinh tế ­ xã hội, các rủi ro bất khả kháng như chiến tranh, thiên tai... Nguồn: Ths. Đặng Thị Việt Đức ­ Ths. Phan Anh Tuấn (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa 12GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  13. CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. IV. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. IV. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. Từ khái niệm tỷ giá hối đoái , tùy thuộc vào mục đích kinh doanh và sự phát triển của  thị  trường tiền tệ và thị  trường hàng hóa, dịch vụ  thế giới mà phương pháp xác định tỷ  giá  hối đoái khác nhau. Trong hệ thống tiền tệ và thanh toán quốc tế  dựa trên cơ  sở  bản vị  vàng, tỷ  giá hối   đoái được xác định trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng giữa hai đông tiền với nhau, còn gọi   là trên cơ  sở  ngang giá vàng (Gold parity). Chẳng hạn,hàm lượng vàng của một Bảng Anh   (GBP) là 2,1328 gam và của Đôla Mỹ (USD) là 0,7366, tỷ giá hối đoái giữa GBP và USD là: 1 GBP = 2,8954 USD Tỷ giá hối đoái xác định theo phương pháp này phổ biến trong chế độ lưu thông tiền   vàng và tiền giấy được tự do đổi ra vàng căn cứ vào hàm lượng vàng của nó. Trong điều kiện nền kinh tế thế giới với hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế  hàng hóa, dịch vụ phát triển cao, tiền tệ được xem là phương tiện thanh toán giữa các quốc   gia, tỷ giá hối đoái được xác định trên cơ sở so sánh sức mua của cả hai đồng tiền hay trên   cơ sở cân bằng sức mua ( Purchasing Power Parity). Chẳng hạn, hàng hóa X mua bằng Đôla   Mỹ  với giá là 10 USD, mua bằng Đôla ÚC có giá trị  là 15 AUD, trên cơ  sở  cân bằng sức  mua, tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền là: 1USD = 1,5 AUD Các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu sử dụng tỷ giá hối đoái tính theo cân bằng sức  mua để  so sánh giá cả  hàng hóa, dịch vụ, xây dựng các phương án kinh doanh xuât nhập   khẩu, tính hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu và thực hiện các ngiệp vụ hải quan. Tỷ giá   trên cơ sở cân bằng sức mua cũng cho thấy sức mua của các đồng tiền, tạo cơ sở để so sánh   sức mua của các khoản thu nhập. Tỷ giá này không sử  dụng cho các nghiệp vụ  kinh doanh   thị trường, tín dụng và thanh toán quốc tế Hiện nay, thị  trường tiền tệ  hoạt động  ở  trình độ  cao, kinh doanh tiền tệ  với các   phương thức đa dạng, khối lượng tiền tệ mua bán cao hơn nhiều lần khối lượng hàng hóa,   dịch vụ. Trong điều kiện thanh toán, lưu giữ giá trị, thực hiện tín dụng mà là hàng hóa được   mua bán trên thị  trường. Vì vậy, tỷ  giá hối đoái phản ánh quan hệ  cung cầu tiền tệ, được   hình thành trên thị trường tiền tệ, không tùy thuộc vào việc mua bán đồng tiền đó cho mục  đích gì. Tỷ  giá hối đoái do các nhân tố  thị  trường quyết định nên không phải là tỷ  giá tính   toán, không thể  quy định được mà chỉ  can thiệp thông qua tác động vào các nhân tố  thị  trường. Một khi tỷ  giá đã được hình thành và biến động theo quan hệ  cung cầu trên thị  trường, các hoạt động đầu cơ , mua bán ngoại tệ, tín dụng và thanh toán thương mại quốc   tế đều lấy tỉ giá thị trường làm cơ sở. Giáo trình Tín dụng và Thanh toán Thương mại Quốc tế TS.Trần Văn Hòe ( Chủ Biên) Quantri.vn  biên tập 1. Phương pháp yết tỷ giá. Theo tập quán kinh doanh tiền tệ  của ngân hàng, TGHĐ thường được yết giá như  sau: 13GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  14. CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. IV. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. USD/CNY = 8,15/75      USD/VND = 15.840/45 − Đồng USD đứng trước gọi là tiền yết giá và là một đơn vị  tiền tệ. Các đồng CNY,   VND đứng sau gọi là tiền định giá và là một số đơn vị tiền tệ và thường thay đổi phụ  thuộc vào thời giá của tiền yết giá. − Tỷ  giá đứng trước 8,15 là tỷ  giá mua USD trả  bằng CNY của ngân hàng và tỷ  giá   đứng trước 15.840 là tỷ  giá mua USD trả  bằng VND của ngân hàng, chúng gọi là tỷ  giá mua vào của ngân hàng. − Tỷ giá đứng sau 8,75 là tỷ giá bán USD thu bằng CNY của ngân hàng và 15.845 là tỷ  giá bán USD thu bằng VND của ngân hàng, chúng được gọi là tỷ giá bán ra của ngân   hàng. − Tỷ  giá bán thường lớn hơn tỷ giá mua, chênh lệch giữa chúng gọi là lợi nhuận chưa  thuế của ngân hàng. Trong giao dịch mua bán ngoại hối qua ngân hàng, để  đảm bảo tính nhanh, gọn, các   tỷ  giá thường không được đọc đầy đủ, mà chỉ  đọc những số  nào thường biến động, đó là  những số cuối. Ví dụ: EUR/USD = 1,2015 chỉ được đọc các số lẻ sau dấu phẩy. Các số này chia làm   hai nhóm số. Hai số thập phân đầu tiên đọc là “số”, hai số  kế  tiếp đọc là “điểm”. Tỷ  giá  trên đọc là “EUR, đôla bằng một, hai mươi số, mười lăm điểm”. Cách đọc điểm có thể dùng  phân số “Một phần tư” thay vì đọc 25;  “ba phần tư” thay vì đọc 75. Để thống nhất các kí hiệu tiền tệ của các nước, tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đã   ban hành kí hiệu tiền tệ ISO. Ví dụ:  Đôla Mỹ USD Bảng Anh  GBP Yên Nhật  JPY Phrăng Thuỵ Sĩ CHF Đôla Úc  AUD Đôla Canađa  CAD Nhân dân tệ Trung  CNY Quốc Đôla Hồng Kông  HKD Đôla Sing­ga­po  SGD 14GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  15. CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. IV. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. Đồng Việt Nam  VND 2. Phương pháp biểu thị tỷ giá hối đoái Đứng trên góc độ thị  trường tiền tệ quốc gia  thì có hai phương pháp yết giá: yết giá  trực tiếp và yết giá gián tiếp. a. Phương pháp trực tiếp Là phương pháp biểu thị  một đơn vị  ngoại tệ  bằng bao nhiêu đơn vị  tiền tệ  trong   nước. Đối với phương pháp trực tiếp thì ngoại tệ  là đồng tiền yết giá, tiền trong nước là  đồng tiền định giá. Đa số các quốc gia trên thế giới áp dụng phương pháp trực tiếp. Ví dụ: Tại Hà Nội niêm yết USD/VND = 15.840/45 Có nghĩa là: Tại Hà Nội ngân hàng mua 1 USD trả  15.840 VND và bán 1USD thu  15.845 VND. b. Phương pháp gián tiếp Là phương pháp biểu thị  một đơn vị  tiền tệ  trong nước bằng bao nhiêu đơn vị  tiền  ngoại tệ. Đối với phương pháp gián tiếp thì tiền trong nước là đồng tiền yết giá, còn ngoại tệ  là đồng tiền định giá. Anh, Hoa Kì và một số nước liên hiệp Anh thương sử dụng phương  pháp này. Ví dụ: Tại London niêm yết GBP/USD = 1,835/15 Có nghĩa là: Tại London ngân hàng mua 1 GBP trả 1,835 USD và bán 1 GBP thu 1,815   USD.                   Nếu đứng ở góc độ thị trường tiền tệ quốc gia , thì nước Anh và nước Mỹ dùng  cách yết giá gián tiếp để thể hiện giá cả ngoại hối ở nước họ, các quốc gia còn lại thì dùng  cách yết giá trực tiếp để thể hiện giá cả ngoại hối. Ví dụ : Tại Hà Nội, TGHĐ được công bố như sau: USD/VND = 15.840/15.845 Với cách yết giá trực tiếp này trên thị  trường Hà Nội, giá một ngoại tệ  USD đã thể  hiện trực tiếp ra bên ngoài. Tỷ giá 1USD = 15.840VND là tỷ giá ngân hàng mua USD vào. Tỷ giá 1 USD = 15.845   VND là tỷ giá ngân hàng bán USD ra. Nếu đứng ở góc độ thị trường tiền tệ quốc tế thì trên thế giới chỉ có hai tiền tệ quốc   gia (USD, GBP) và hai tiền tệ  quốc tế  (SDR, EUR) là dùng cách yết giá trực tiếp, tiền tệ  còn lại dùng cách yết giá gián tiếp. Ví dụ:  15GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  16. CHƯƠNG I : TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI. IV. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI.                   USD/VND                                       SDR/VND                   USD/JPY                                         EUR/CHF                       GBP/VND                                       SDR/USD                  Có nghĩa là giá của USD, GBP hay của SDR, EUR  được thể hiện trực tiếp ra bên   ngoài, còn các tiền tệ khác như VND, CHF, JPY.. chưa thể hiện trực tiếp ra bên ngoài, mới  thể hiện gián tiếp. Ví dụ:  USD /VND = 15.840 Tức là giá 1 USD = 15.840 VND, còn giá 1 VND thì chưa thể  hiện trực tiếp ra bên   ngoài, muốn tìm, chúng ta làm phép chia như sau: 1VNĐ =  USD = 0,0000631 USD 16GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  17. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006­2010. I. THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 2006­2010. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH  TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006­2010. I. THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 2006­2010 1. THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI NĂM 2006­2007   Tỷ  giá hối đoái là giá của một đồng tiền (quốc gia) tính bằng đồng tiền (quốc gia)  khác.  TGHĐ được điều hành linh hoạt có sự  điều tiết. Chính sách ngoại hối được thực  hiện theo hướng nới lỏng các giao dịch vãng lai. NHNN cho phép cá nhân được gửi tiết   kiệm bằng ngoại tệ không kể  nguồn gốc, được rút cả  vốn và lãi bằng ngoại tệ. Tín dụng   bằng ngoại tệ  cũng được mở  rộng về  đối tượng vay . Ban hành Pháp lệnh quản lý ngoại  hối có hiệu lực từ 1/6/2006 thúc đẩy sự  phát triển của thị trường ngoại hối, góp phần tăng  dự  trữ  ngoại hối quốc gia. Ban hành Pháp lệnh quản lý ngoại hối có hiệu lực từ  1/6/2006  thúc đẩy sự phát triển của thị trường ngoại hối, góp phần tăng dự trữ ngoại hối quốc gia. Vào năm 2006 , tỷ  giá danh nghĩa VND/USD có xu hướng tăng nhẹ,  ổn định trong  biên độ  0,01% đến 0,25% và 0,5%. Thay đổi tỷ  giá sẽ  khuyến khích hoạt động xuất khẩu,  giảm bớt thâm hụt cán cân thương maị  và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Hơn nữa,   thay đổi tỷ giá có khả năng hạn chế nhập khẩu nhằm bảo vệ khả năng sản xuất trước cạnh   tranh của nước ngoài. Đồng thời thay đổi tỷ giá theo hướng ngăn chặn việc nhập khẩu tràn   lan những hàng hóa dịch vụ  mà trong nước có thể  sản xuất được, góp phần giảm bớt về  cầu ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩu trên thị  trường ngoại hối. Không những thế ,  khi gia  nhập WTO  ảnh hưởng đến biến động của tỷ  giá hối đoái  ở  Việt Nam.VNlaf thành viên  chính thức Tổ  chức thương mại thế  giới WTO vào ngày 7.11.2006, mở  ra những vận hội   Mowisnhuwng cũn đầy thách thức.  Từ  tháng 9­ 1985 đến cuối năm 2007, VND luôn luôn mất giá so với USD. Cụ  thể  tháng 9­1985, tỷ  giá VND/USD là 15 VND/1 USD, đến năm 2007 thì tỷ  giá đó đã là 16.115  VND/ 1 USD. Như vậy, sau 22 năm VND mất giá so với USD 16.100 VND hay 107.333,33%   {[(16.115 VND ­ 15 VND) : 15 VND] x 100 = 107.333,33%}. Năm 2001, đồng tiền chung châu Âu (Euro) ra đời, sức mua của USD so với Euro:1,1   USD/1 Euro. Cuối tháng 12­2007, tỷ giá giữa hai loại tiền trên là 1,44 USD/1 Euro. Như vậy,   sau 7 năm, USD mất giá 30,9% so với Euro. Đầu năm 2001, tỷ giá VND/USD: 14.200 VND/   1 USD; cuối tháng 12­2007 trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng 16.114 VND/1 USD. Như  vậy, sau 7 năm, VND mất giá 13,48% so với USD. 17GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  18. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006­2010. I. THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 2006­2010.     Năm 2007, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ theo   hướng VND yếu so với USD từ 1% đến 2%/năm. Ngược lại, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed)   tiếp tục thực hiện chính sách USD yếu nhằm giải quyết món nợ gần 1.000 tỷ USD thể hiện  trên tài khoản vãng lai, trong bảng cân đối thanh toán quốc tế  của Mỹ. Như  vậy, “hai cái   yếu chồng lên VND” ­ USD yếu so với các loại tiền mạnh; VND lại yếu so với USD.     Đầu năm 2007, NHNN Việt Nam đưa ra tỷ giá VND/USD trên thị trường ngoại tệ liên  ngân hàng 16.165 VND/1 USD, trong khi tỷ  giá   VND/USD trên thị  trường tư  do là 16.070  VND/1 USD. Do đó, một số  NHTM bán USD cho NHNN Việt Nam để  kiếm lời. Nguyên   nhân chính là do tỷ giá VND/USD trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do NHNN công bố  để   NHNN   mua   USD,   đem  lại   lợi   nhuận   cao   cho   NHTM.   Những  tháng   cuối   năm   2007,  NHNN Việt Nam vẫn đưa ra tỷ  giá 16.114 VND/1 USD theo hướng VND mất giá so với  USD, nhưng tỷ giá ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng vẫn cao hơn tỷ giá VND/USD trên   thị trường tự do.       Lạm phát 2 con số cũng là một vấn đề đáng quan tâm trong năm 2007.  Năm 2007 lạm  phát của Việt Nam tăng cao  ở  mức hai con số 12,63%. Nếu so sánh với mức lạm phát của  một số nước trong khu vực và trên thế  giới như  Trung Quốc: 6,5%; Indonesia: 6,59%; Mỹ:   4,08%, Thái Lan: 3,21%, Khu vực đồng Euro: 3,07%, Nhật Bản: 0,7% thì lạm phát của Việt  Nam có phần cao hơn. Bước sang Quý I/08 lạm phát của Việt Nam đạt 9,19%, vẫn cao hơn   so với mức 3,02% của Quý I/07 và bằng khoảng trên 70% so với mức tăng của cả năm 2007  đây là mức tăng cao trong vòng 12 năm trở lại đây. Nguyên nhân dẫn đến lạm phát của Việt Nam tăng cao là do các xuất phát từ nội tại nền   kinh tế Việt Nam.  Thứ  nhất: Chi phí sản xuất tăng cao: Trước bối cảnh lạm phát toàn cầu gia tăng đã tác   động làm giá hầu hết các nhóm hàng nhập khẩu của Việt Nam gia tăng mạnh mẽ như xăng  dầu, sắt thép, phân bón, thuốc trừ  sâu ­ là những nguyên nhiên vật liệu đầu vào chính của  sản xuất. Mặc dù Chính phủ  đã cố  gắng kiểm soát giá xăng dầu, nhưng từ  đầu năm 2007   đến hết Quý I/08 giá xăng dầu đã phải điều chỉnh tăng 4 lần, tính chung giá xăng dầu đã   tăng tới 38%, giá thép tăng 91%, giá điện tăng 7,6%; giá than tăng 30%; giá xi măng tăng 15%;  giá phân bón tăng 58%. Điều này đã tác động làm chi phí sản xuất tăng cao. Thứ  hai: Giá lương thực, thực phẩm tăng cao: biến đổi khí hậu toàn cầu trên thế  giới  không những tác động đến nhiều quốc gia mà Việt Nam cũng bị   ảnh hưởng nặng nề. Chỉ  trong tháng 10/2007, miền Trung phải hứng chịu 5 cơn bão liên tiếp, trong khi đó dịch bệnh  trong chăn nuôi, trồng trọt như cúm gia cầm, lợn tai xanh, lở mồm long móng ở lợn, vàng lùn  ở lúa cùng với rét đậm, rét hại khiến cho nguồn cung lương thực ­ thực phẩm bị sụt giảm. Mặc dù Chính phủ đã ban hành Công văn 639/BTM­XNK ngày 16/8/2007 và Công văn số  266/TTg­KTTH ngày 21/2/2008 để khống chế lượng gạo xuất khẩu tối đa nhằm kiểm soát  lạm phát và đảm bảo an ninh lương thực trong nước, nhưng việc giá lương thực, thực phẩm   thế giới tăng cao đã khiến giá gạo xuất khẩu và giá một số mặt hàng thực phẩm xuất khẩu   18GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  19. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006­2010. I. THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 2006­2010. khác như  thuỷ  hải sản gia tăng cộng với chi phí sản xuất tăng cao đã đẩy giá lương thực,   thực phẩm trong nước tăng cao ở mức 18,92% năm 2007 và 14,45% trong QI/2008, cao gấp 5   lần so với mức tăng 4,18% của quý I/2007, trong khi nhóm này có quyền số 42,85%, lớn nhất   trong rổ hàng hoá CPI, có thể nói đây là nguyên nhân chủ yếu tác động làm CPI tăng mạnh. Thứ  ba: Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ  liên tục mở  rộng từ  2001­2006 nhằm   thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Trong vòng 3 năm trở lại đây kinh tế  Việt Nam liên tục tăng   trưởng ở mức rất cao trên 8%, và mục tiêu của giai đoạn này đối với Chính phủ  Việt Nam  là ưu tiên tăng trưởng kinh tế. Với mục tiêu này đã khuyến khích cho “chính sách tài   chính,   tiền   tệ   nới   lỏng   đã   thực   hiện   trong   nhiều   năm   liền   nhưng   quản   lý   chưa   chặt  chẽ” nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và đây cũng là nhân tố  góp phần  khiến lạm phát bình quân từ  2005 đến 2007 tăng trên 8,01%. Tín dụng ngân hàng cho nền   kinh tế  tăng mạnh trong một thời gian dài nhằm phục vụ  mục tiêu tăng trưởng kinh tế  là  một nguyên nhân quan trong làm gia tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. Các  ngân hàng cũ mở rộng tín dụng bằng việc nới lỏng điều kiện cho vay, cạnh tranh nhau bằng   giảm lãi suất cho vay, tăng lãi suất huy động để  tìm kiếm nguồn vốn cho vay,chuyển đổi  mô hình, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp, tập đoàn để tăng vốn điều lệ, mở rộng   mạng lưới nhanh chóng vượt quá khả năng quản trị, cho thành lập thêm các ngân hàng mới  và tất cả  các ngân hàng chủ  yếu đua nhau tìm kiếm lợi nhuận từ  nghiệp vụ  cho vay nên  càng làm cho tín dụng của hệ thống ngân hàng tăng cao trong suốt năm 2007 và 3 tháng đầu  năm 2008, đó là nguyên nhân rất quan trong gây sức ép rất lớn làm gia tăng lạm phát trong  thời gian qua. Thứ tư: Luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam gia tăng mạnh: bắt đầu từ  cuối năm 2006   khi Việt Nam chính thức trở  thành thành viên của Tổ  chức thương mại thế  giới (WTO),   cùng với những cải cách về  cơ chế chính sách và môi trường đầu tư  đã tạo điều kiện cho   các luồng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng mạnh. Năm 2007 luồng vốn FDI tăng 20,3   tỷ  USD vốn đăng ký, cao hơn nhiều so với mức 10,2 tỷ  USD của năm 2006, đặc biệt là   luồng vốn đầu tư gián tiếp gia tăng mạnh mẽ khoảng trên 6 tỷ, gấp 5 lần con số của năm   2006 mà chủ  yếu đổ  vào thị  trường chứng khoán, trái phiếu đặc biệt là đổ  vào IPO các  doanh nghiệp nhà nước lớn. Đứng trước bối cảnh này, Ngân hàng nhà nước đã phải cung  ứng một lượng lớn tiền VND để  mua ngoại tệ  vào nhằm mục tiêu ổn định và phá giá nhẹ  tỷ giá để hỗ trợ xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và điều này làm cho tổng phương   tiện thanh toán tăng cao, tác động làm lạm phát gia tăng. Và bối cảnh kinh tế toàn cầu cũng tác động đến tình hình lạm phát Việt Nam: Thứ  nhất: Giá dầu và giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào của sản xuất liên tục gia tăng:   Trong 4 năm từ  2003­2006 kinh tế toàn cầu liên tục tăng trưởng cao, đặc biệt là nhóm các   nước “mới nổi”  ở  khu vực Châu á, nhất là Trung Quốc đã đẩy nhu cầu năng  lượng toàn cầu tăng cao đột biến, cùng với những bất ổn và xung đột chính trị  quân sự  tại  khu vực Trung Đông là các nguyên nhân trực tiếp đẩy giá dầu lên cao chưa từng có trong lịch  sử  110 USD/thùng trong tháng 3/2008, đồng thời giá các nguyên vật liệu đầu vào khác như  sắt thép, phân bón, xi măng cũng liên tục gia tăng. Như  vậy, giá dầu đã tăng 72%, sắt thép   tăng 114%, phân bón tăng 59,6%, khí hoá lỏng tăng 95% kể  từ  đầu năm 2007 đến tháng   3/2008 và đây cũng là mức tăng cao nhất từ trước tới nay. 19GVHD: LƯƠNG BẢO LINH
  20. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006­2010. I. THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 2006­2010. Thứ hai: Giá lương thực, thực phẩm liên tục gia tăng: xuất phát từ quá trình biến đổi khí  hậu toàn cầu, thiên tai dịch bệnh diễn ra liên tiếp, cùng với những năm tăng trưởng kinh tế  mạnh trên thế  giới ­ là những năm quá trình công nghiệp hoá được đẩy mạnh khiến diện  tích đất sử dụng cho trồng trọt, chăn nuôi bị thu hẹp. Tất cả những điều trên làm sản lượng  lương thực ­ thực phẩm ngày càng giảm mạnh. Ngoài ra, giá năng lượng tăng cao đã khiến   nhiều nước sử dụng một sản lượng lớn ngũ cốc chuyển sang sản xuất nhiên liệu sinh học   càng làm cho nguồn cung lương thực đã giảm càng giảm sút. Thứ ba: Một khối lượng tiền lớn được đưa ra nền kinh tế toàn cầu: Trước việc giá dầu  và giá lương thực ­ thực phẩm liên tục leo thang đã tạo nên cú sốc cung rất lớn đẩy lạm   phát toàn cầu tăng cao, tình hình này đã buộc các NHTW phải tăng các mức lãi suất chủ chốt   để  kiềm chế  lạm phát, cụ  thể: Nhật Bản tăng 1 lần từ  0,25%­ 0,5%/năm; khu vực đồng  Euro tăng 2 lần từ  3,5%­3,75%­4,0%/năm; Anh tăng 3 lần từ  5%­5,5%/năm (trong đó có 1  lần   giảm);   Thuỵ   Điển   tăng   4   lần   từ   3,0%­4,0%/năm;   Trung   Quốc   tăng   6   lần   từ   6,12­ 7,47%/năm. Việc các nước thực hiện thắt chặt tiền tệ thông qua tăng lãi suất chủ  đạo cùng với việc  giá dầu, giá lương thực ­ thực phẩm tiếp tục tăng cao chính là nguyên nhân cơ  bản đã đẩy   nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái vào những tháng đầu năm 2008, mà biểu hiện là cuộc  khủng hoảng cho vay dưới tiêu chuẩn của Mỹ bắt đầu từ tháng 7/2007. Trước bối cảnh lạm   phát gia tăng và kinh tế  toàn cầu rơi vào suy thoái, các NHTW không còn cách nào khác là   phải bơm một lượng tiền khổng lồ  để  cứu vãn nền kinh tế, trong đó riêng Mỹ  từ  tháng   8/2007 đến nay đã phải đưa ra nền kinh tế trên 2.300 tỷ  USD, trong đó có 800 tỷ USD tiền   mặt để  cứu vãn hệ  thống ngân hàng, NHTW Châu âu, Nhật Bản, Anh cũng phải đưa một   lượng tiền lớn để cứu vãn nền kinh tế cũng như hệ thống ngân hàng; cùng với việc một số  NHTW phải thực hiện cắt giảm lãi suất từ tháng 8/2007 trở lại đây như  Mỹ, Anh, Canada.   Việc cứu vãn nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái bằng biện pháp đưa hàng nghìn tỷ USD   ra nền kinh tế lại càng đẩy lạm phát toàn cầu tiếp tục tăng cao. Tình hình ngoại tệ tại Việt Nam như vậy là do các nguyên nhân sau:     Thứ nhất, năm 2007 nước ta nhập siêu khoảng 12 tỷ USD, nhưng kim ngạch xuất khẩu  hàng hoá, dịch vụ  của nước ta đạt 45 tỷ  USD, tăng hơn năm trước, nhiều mặt hàng xuất   khẩu vượt kim ngạch 1 tỷ USD;     Thứ hai, thị trường chứng khoán nước ta phát triển mạnh, vốn đầu tư gián tiếp (FII) đổ  vào thị trường chứng khoán tăng mạnh, vào khoảng hơn 6 tỷ USD;     Thứ  ba, vốn đầu tư  trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2007  ước đạt 20,3 tỷ  USD, tăng   69,3% so với năm 2006;     Thứ tư, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, chúng ta tự do hoá nguồn vốn vãng lai, gồm:  nguồn vốn USD từ nước ngoài chuyển  vào nước ta và từ nước ta chuyển ra nước ngoài;     Thứ năm, kiều hối năm 2007 đạt khoảng gần 6 tỷ USD, bên thụ hưởng kiều hối được  lĩnh bằng ngoại tệ; 20GVHD: LƯƠNG BẢO LINH

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản