intTypePromotion=1

Đề tài: Phân tích tài chính và tình hình hoạt động Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi 2015

Chia sẻ: Võ Duy Thịnh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:49

0
97
lượt xem
23
download

Đề tài: Phân tích tài chính và tình hình hoạt động Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi 2015

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài: Phân tích tài chính và tình hình hoạt động Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi 2015 nêu lên tổng quan về ngành Thực phẩm và Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi; phân tích môi trường kinh doanh và cạnh tranh dự đoán tương lai sự phát triển doanh nghiệp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Phân tích tài chính và tình hình hoạt động Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi 2015

  1. LỜI MỞ ĐẦU Trong điều kiện kinh tế  thị  trường phát triển như  hiện nay, nhu cầu của xã hội  luôn có sự thay đổi. Chính vì thế, đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải   có sự quan tâm thích đáng tới việc sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Trong đó   vấn đề  cơ  bản là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như  thế  nào…?    Mỗi  doanh nghiệp, tùy thuộc vào đặc điểm , lợi thế trong kinh doanh để đáp ứng được nhu   cầu xã hội, đưa doanh nghiệp mình đi lên, và góp phần vào sự tăng trưởng, phát triển   của nền kinh tế thị trường. Để làm được điều này thì đối với mỗi doanh nghiệp, kế  toán và việc phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng   trong hệ thống các công cụ quản lý. Nó cung cấp cho chủ doanh nghiệp những thông   tin tài chính chính xác để  tổ  chức tốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, và có   những chiến lược kinh doanh đúng hướng. Phân tích hoạt động kinh doanh nói chung hiện nay càng trở  thành nhu cầu của   doanh nghiệp nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO.    Nền kinh tế tăng trưởng cao, đời sống người dân được cải thiện do đó nhu cầu   về  các sản phẩm bánh kẹo cũng ngày một tăng.   Trong đó có Công Ty Cổ  Phần  Đường Quảng Ngãi (QNS) được người tiêu dùng bình chọn là doanh nghiệp nằm  trong danh sách năm Công ty hàng đầu của ngành mía đường Việt Nam. QNS đã 10   năm liên tiếp đạt danh hiệu “ Hàng Việt Nam chất lượng cao” (từ  1997­2006). Bên   cạnh đó, những năm gần đây trước hiệp định hội nhập ASEAN Việt Nam và các  nước Đông Nam Á sẽ  miễn giảm thuế nhập khẩu đường từ  các nước trong khu vực   ASEAN xuống 0%, nhận thấy đây là thách thức vừ  là cơ  hội nằm bắt thời cơ, nên  nhón em quyết định chon Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi để nghiên cứu.  Trong quá trình làm bài không tránh khỏi thiếu sót, thông tin tìm kiếm còn hạn  chế  nên nhiều chỗ  không chuyên sâu,   kính mong thầy bỏ  qua. Chúng em xin chân  thành cám ơn! 1
  2. CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỰC PHẨM VÀ CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƯỜNG QUẢNG NGÃI 1.Tổng quan về ngành Mía Đường và Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi: 1.1 Tổng quan chung: Đường từng là mặt hàng xa xỉ  vào giai đoạn từ  cuối thế  kỷ  XV đầu thế  kỷ  XVI. Đến thế  kỷ  XVII, đế  quốc Anh thiết lập vùng canh tác mía và sản xuất   đường quy mô lớn tại quần đảo Tây  Ấn, biến đương trở  thành 1 sản phẩm phổ  dụng mọi tầng lớp. Sang đến đầu thế  kỷ  XIX, củ  cải đường bắt đầu được sử  dụng để sản xuất đường ở Đức và gần một thế kỷ sau đó, nông sản này gần như  thay thế  cây mía và trở  thành nguồn nguyên liệu chính sản xuất đường tại châu   Âu. Tính đến nay ngành đường là một trong những ngành công nghiệp chế  biến  nông sản lâu đời nhất trên thế  giới. Với hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ  tham   gia vào chuỗi giá trị. Quy mô đường sản lượng toàn cầu vào khoảng 174,8 triệu  tấn vào vào mùa vụ năm 2013/2014 và tăng dần qua các năm, đạt mức tăng trưởng   trung bình 2%/năm. Đường sản xuất từ  Mía chiếm 75% – 80% lượng cung toàn   cầu, được trồng chủ  yếu  ở  những quốc gia có khí hậu nhiệt đới như  khu vực   Đông Nam Á, Nam Mỹ,… Củ cải đường vào khoảng 25% ­ 30% được trồng chủ  yếu  ở  các nước có khí hậu ôn đới. Một số  quốc gia như  Mỹ  và Trung Quốc với   đặc thù đa khí hậu và diện tích rộng lớn nên có để trồng được cả 2 loại nông sản   này. Củ cải đường là cây nông sản ngắn ngày, nên diện tích gieo trồng phụ thuộc   vào biến động giá của các loại nông sản khác, đặc biệt là ngũ cốc. Trong khi đó   cây mía mất khoảng từ  12 tháng đến 16 tháng để  từ  lúc gieo trồng đến lúc thu   hoạch và 1 gốc mía có thể  được sử  dụng đến 5 năm, sau khoảng thời gian này   chữ đường trong mía sẽ giảm xuống.  Mía hiện nay là cây trồng được trồng lớn nhất thế  giới, với diện tích 23,8  triệu ha, cây mía hiện được trồng trên 90 quốc gia chủ  yếu ở các vùng nhiệt đới  và cận nhiệt đới, sản lượng trung bình là vào khoảng 1,69 tỷ  tấn mỗi vụ  thu   2
  3. hoạch. Các quốc gia hiện tại sản xuất cũng như  tiêu thụ  nhiều về  đường như  Brazil, Ấn Độ và Trung Quốc.  Ngành mía đường Việt Nam thực sự  hình thành và phát triển  ở  miền Nam  Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, tập trung ở miền Trung và khu vực Đồng bằng Sông   Cửu Long. Tính đến năm 2015, Việt năm có 41 nhà máy đường chủ yếu là quy mô  nhỏ. Sản lượng khai thác mía của Việt Nam hiện nay đứng thứ 21 trong tổng các   quốc gia sản xuất đường. Năng suất sản xuất cao nhất là Đồng bằng Sông Cửu  Long, tuy nhiên chất lượng mía khu vực này lại thấp hơn các khu vực còn lại.  Theo Bộ  Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì công nghệ  chế  biến quá lạc   hậu, phương thức thu mua chưa hợp lý, cơ cấu giống mía chưa phù hợp làm tăng  mức tiêu hao nguyên liệu trong chế  biến của nước ta. Ngoài ra hiện nay ngành  mía đường Việt Nam còn phải đối diện với lượng tốn kho lớn và sự  cạnh tranh   của đường nhập lậu. Tất cả những yếu tố này làm giảm sự cạnh tranh của ngành   mía đường Việt Nam trên thị  trường trong nước cũng như quốc tế. Hiện nay sản   phẩm ngành mía đường chủ  yếu phục vụ  cho nhu cầu tiêu thụ  nội địa. Khoảng   2/3 lượng  đường  Việt  Nam  được  tiêu thụ   tại khu vực  phía  Nam  với  khoảng  950,000 tấn/năm. Vùng mía nguyên liệu và yếu tố  giống mía giữ  vai trò quan   trọng  ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cũng như  chữ  đường của cây mía.  Theo quy định của các nhà máy đường, chữ đường là căn cứ để xác định mức giá   cao hay thấp của mía nguyên liệu. Tuy nhiên đặc thù ngành mía đường Việt Nam   là các vùng nguyên liệu phân tán, quy mô nhỏ, chất lượng giống mía chưa cao, bên  cạnh đó lại phụ  thuộc chủ  yếu vào giống mía nhập ngoại (90%) gây tốn kém  trong chi phí sản xuất cũng như giảm năng lực cạnh tranh. Nhìn chung ngành mía đường Việt Nam vẫn đang trong quá trình phát triển   và còn gặp nhiểu khó khăn, thách thức trong tương lai. Tuy nhiên với những lợi  thế  vể  điều kiện thiên nhiên sẵn có phù hợp cho sự  phát triển của cây mía hứa  hẹn sẽ đem lại triển vọng tích cực cho sự phát triển chung toàn ngành.  1.2 Tổng quan về công ty cổ phần đường Quảng Ngãi: 1.2.1 Lịch sử hình thành: 3
  4. Công ty Cổ  Phần Đường Quảng Ngãi: tiền thân là công ty đường Quảng  Ngãi, thuộc Bộ  Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2005 tiến hành cổ  phần hóa thành lập Công ty Cổ  phần đường Quảng Ngãi và hoạt động từ  năm  2006.  Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƯỜNG QUẢNG NGÃI ­ Tiếng Anh : Quang Ngai Sugar joint stock Company ­ Tên viết tắt: QNS ­ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: Mã số  thuế  doanh nghiệp 4300205943 do Sở  Kế  hoạch và Đầu tư  Tỉnh Quảng  Ngãi cấp lần đầu ngày 28/12/2005 Đăng ký thay đổi lần thứ 15 ngày 26/06/2015 ­ Vốn đầu tư chủ sở hữu đến ngày 31/12/2015: 1.410.152.520.000 đồng Mã cổ phiếu: QNS Mệnh giá: 10.000 đồng/ cổ phiếu Tổng số lượng cổ phần: 141.015.252 cổ phiếu ­ Địa chỉ : 02 Nguyễn Chí Thanh , TP Quảng Ngãi, Tỉnh Quảng Ngãi Điện thoại : 055 3726 110 Fax : 055 3822 843 Website: www.qns.com.vn CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC NGÀNH MÍA ĐƯỜNG ­ NHÀ MÁY ĐƯỜNG AN KHÊ Địa chỉ : xã Thành An, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai Điện thoại : 059 ­ 3532 084 Fax : 059 ­ 3532 002 ­ NHÀ MÁY ĐƯỜNG PHỔ PHONG 4
  5. Địa chỉ : Xã Phổ Phong , huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Điện thoại : 055 – 3855 059 Fax : 055 – 3855 040 1.2.2 Lịch sử hình thành: Công ty Cổ Phần Đường Quảng Ngãi tiền thanan là Công ty Đường Quảng   Ngãi thuộc Bộ  Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được thành lập từ  những   năm 70 của thế  kỷ  XX với 2 sản phẩm chính là Đường RS và Cồn cùng số  lao  động khoảng 650 người; Công ty Cổ  phần Đường Quảng Ngãi được thành lập  trên cơ sở cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước theo quyết định số 2610/QĐ­ĐMD   ngày 30/9/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, được Sở  Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Quảng Ngãi cấp lần đầu ngày 28/12/2005 và chính thức   đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2006 1.2.3 Quá trình phát triển:  Kể từ khi cổ phần hóa, dưới sự điều hành của Ban Lãnh đạo cùng với sự nổ  lực lao động của toàn thể  cán bộ  công nhân viên Công ty, QNS đã gặt hái các   thành công nhất định trong hoạt động sản xuất: Tổng tài sản tại 31/12/2015 của Công ty đạt 5.172 tỷ  đồng, gấp 10,3 lần so   với cuối năm 2006 Tổng Nguồn vốn chủ  sở  hữu tại ngày 31/12/2015 của Công ty đạt 2.608 tỷ  đồng; gấp 40,4 lần so với cuối năm 2006 Lợi nhuận sau thuế TNDN của Công ty năm 2015 đạt 1.230 tỷ đồng, gấp 47,3   lần so với năm 2006 5
  6. 1.2.3 Ngành nghề kinh doanh : ­ Công nghiệp chế biến đường, mật, thực phẩm, đồ uống, bao bì. ­ Khai thác, sản xuất chế biến và kinh doanh nước khoáng. ­ Kinh doanh thương mại, dịch vụ tổng hợp và hoạt động xuất nhập khẩu.  ­ Xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng. ­ Xây dựng, sửa chữa và lắp đặt máy móc thiết bị, gia công chế tạo các sản phẩm  cơ ­ khí phục vụ các ngành sản xuất và dân dụng. ­ Sản xuất và kinh doanh mía ( mía giống và mía nguyên liệu). ­ Sản phẩm, dịch vụ  chính : Đường, Bánh Kẹo, Bia, Nước Khoáng, Sữa, Nha,   Cồn, CO2, Mía Giống, ... 1.2.4 Định hướng phát triển: QNS luôn luôn nỗ  lực trong hoạt động và kinh doanh. Đồng thời QNS chú   trọng vào mục tiêu và định hướng chiến lược phát triển trong tương lai cũng như  6
  7. chính sách được củng cố và hoàn thiện sao cho phù hợp nhát trong từng thời kỳ. QNS xác định mục tiêu này trong trung và dài hạn, QNS đã đưa ra các chiến   lược phát triển như  sau: “Đầu tư  hợp lý, phát triển bền vững, gia tăng hiệu quả,   tài chính lành mạnh và phòng ngừa rủi ro” Phát triển lĩnh vực kinh doanh cốt lõi là mía đường, sữa đậu nành và các sản   phẩm khác. Xây dựng vùng nguyên liệu mía và đậu nành bền vững nhằm tạo nguồn   nguyên liệu chất lượng và ổn định cho các nhà máy sản xuất Đẩy mạnh hoạt động Marketing thỏa mãn nhu cầu của thị  trường mục tiêu   đã lựa chọn Nghiên cứu, đầu tư  máy móc thiết bị  và công nghệ  mới, ứng dụng sáng tạo   thành tựu khoa học vào trong sản xuất và quản lý. Đồng thời, nghiên cứu phát  triển sản phẩm mới và ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ Chú trọng vào phát triển vào nguồn nhân lực Đẩy mạnh củng cố  năng lực tài chính và tài chính là hạt nhân cho sự  phát  triển ổn định và bền vững với thông điệp xuyên suốt là uy tín và trách nhiệm. 1.2.5 Các chứng nhận và tiêu biểu doanh nghiệp đã đạt được: 7
  8. 1.2.4 Thông tin về mô hình Quản trị, tổ chức kinh doanh và Bộ máy quản lý: QNS được sở hữu bởi hơn 2.000 cổ đông là các cá nhân và tổ  chức trong và   ngoài nước. Công ty Cổ  phần Đường Quảng Ngãi là Công ty mẹ  với 14 đơn vị  trực thuộc và có một công ty con được tổ chức theo hình thức Công ty trách nhiệm   hữu hạn. Công ty đã trở  thành công ty đại chúng quy mô lớn vào năm 2009 và  tháng 09/2014 cổ phiếu của Công ty đã được lưu ký tập trung tại Trung tâm Lưu   ký Chứng khoán Việt Nam Cơ cấu tổ chức Quản trị  của Công ty: 8
  9. Năm 2015, sản phẩm sữa đậu nành luôn của QNS liên tiếp dẫn đầu ngành  hàng sữa đậu nành bao bì giấy tại Việt Nam với thị  phần hơn 80%. Công ty Cổ  phần Đường Quảng Ngãi là một trong những doanh nghiệp lớn của ngành mía  đường cũng như thực phẩm, đồ uống. Mặc dù là công ty đường nhưng sản phẩm   sữa đậu nành hiện là sản phẩm chủ  lực đóng góp chính vào doanh thu và lợi   nhuận cho công ty. Thay vì chỉ  tập trung vào các sản phẩm liên quan tới mía  đường, QNS đã định hướng trở  thành một doanh nghiệp hàng tiêu dùng với các  9
  10. dòng đa dạng từ mía đường, sữa đậu nành (Fami, Vinasoy), Bánh kẹo (Bisca Fun),   Nước khoáng & bia (Thạch Bích, Dung Quất). Mặc dù vẫn giữ  tên gọi Đường   Quảng Ngãi nhưng hiện mía đường chỉ  còn đóng góp 1/4 tổng doanh thu và chưa   tới 10% lợi nhuận của QNS. Trong khi đó, mảng sữa đậu nành với sự tăng trưởng   rất ấn tượng hiện chiếm tới 1/2 tổng doanh thu và 2/3 tổng lợi nhuận gộp. Quyết định đầu tư  vào lĩnh vực sữa đậu nành là quyết định mang tính đột  phá, góp phần đưa QNS trở  thành một trong những doanh nghiệp lớn nhất trong   ngành hàng tiêu dùng.Năm 2005, nhận định thị  trường sữa đậu nành là phân khúc   đầy tiềm năng trong khi các đối thủ  còn “bỏ  ngỏ”, QNS đã đổi tên nhà máy sữa  Trường Xuân thành nhà máy Sữa đậu nành Việt Nam – Vinasoy với mục tiêu là  chỉ tập trung vào duy nhất sản phẩm sữa đậu nành.Với hướng đi đúng, Vinasoy đã  nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường, vươn lên vị trí số 1 kể từ năm 2010. Doanh thu sữa đậu nành tăng trưởng bình quân 51,4% trong giai đoạn 2010­ 2014. Trong giai đoạn 2010­2014, doanh thu của Vinasoy tăng gấp 5 lần từ 600 tỷ  lên 3.100 tỷ đồng, tương ứng mức tăng trưởng bình quân hơn 50%/năm. Bên cạnh  nhà máy tại Quảng Ngãi, Vinasoy đã đầu tư nhà máy mới tại Tiên Sơn, Bắc Ninh. 10
  11. Tăng trưởng của QNS chủ  yếu đến từ  sữa đậu nành nhưng sẽ  là không đủ  nếu không nhắc đến các mảng kinh doanh còn lại – những mảng đang góp 1/2   doanh thu. Với doanh thu hơn 1.600 tỷ đồng, quy mô mảng mía đường của QNS   tương đương với Mía đường Lam Sơn (LSS). Hiện ngành đường trong nước vẫn   ở  trong giai đoạn khó khăn, nhiều doanh nghiệp nhỏ  đã lỗ.Tuy nhiên, QNS lại  quyết định đầu tư mở rộng công suất. Công ty đang tiến hành mở rộng công suất   Nhà máy đường An Khê lên mức 18.000 tấn mía/ngày. Sau khi hoàn thành mở  rộng vào năm 2016, QNS với 2 nhà máy đường An Khê và Phổ Phong sẽ trở thành   một trong những doanh nghiệp đường lớn nhất cả nước. 11
  12. CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ  CẠNH TRANH DỰ ĐOÁN TƯƠNG LAI SỰ PHÁT TRIỂN  DOANH NGHIỆP 2.1. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH 2.1.1. Tổng quan chung về môi trường kinh doanh: Trong những năm gần đây, mía đường là một trong những ngành có tốc độ  tăng  trưởng cao và  ổn định tại Việt Nam.  Theo xu hướng của thị  trường thì người tiêu  dùng quan tâm hàng đầu đến các mặt hàng thực phẩm, ngành đường chỉ  là thức yếu,   nên trong chỉ tiêu của người tiêu dùng thì hàng đường không được đưa vào khoản tiêu   dùng chính mà nó hoàn toàn phụ  thuộc vào thu nhập. Do vậy, bất cư 1 sự biến động   nho nhỏ  nào trong thu nhập của người dần cũng khiến thu nhập của công ty bị   ảnh   hưởng. Với đặc điểm của ngành đường là chịu  ảnh hưởng rất lớn theo mùa vụ  như  :  phụ thuộc rất lớn vào mùa vụ thu hoạch mía. Do vậy thu nhập có thể biến động phụ  thuộc vào chu kỳ  thu hoạch mía . Việc này  ảnh hưởng lớn dòng tiền và chi phí mùa  vụ tăng nhanh. Tham gia vào thị trường đường có nhiều doanh nghiệp sản xuất có tên tuổi trên  thị trường. Số lượng các cơ sở sản xuất đường nhỏ  không có thống kê chính xác, với  sản phẩm là đường có phẩm chất thấp, được tiêu thụ tại các địa phương riêng lẻ.  Ngành mía đường Việt Nam hoạt động gần như trên khắp đất nước từ Bắc vào  Nam (từ  Sơn La, Tuyên Quang, Cao Bằng đến tận Kiên Giang, Cà Mau) và sản xuất   theo mùa vụ, mỗi mùa vụ  theo vùng kéo dài khoảng 4­6 tháng nhưng khác nhau tùy  từng vùng miền bắt đầu từ tháng Tám, Chín năm nay đến tháng Sáu, Bảy năm sau. Về năng lực sản xuất, với tổng công suất  ép mía hiện nay đạt hơn 145.000 tấn   mía/ngày có khả  năng sản xuất 2 triệu tấn đường thành phẩm/vụ, trong đó đường   luyện chiếm 50%.Vụ 2014­2015 cả nước sản xuất được hơn 1,4 triệu tấn đường từ  mía, sụt giảm gần 11% so với niên vụ  trước, do một phần bị  giảm diện tích, phần   khác do khô hạn. Trong niên vụ  mới 2015­2016, có nơi tăng có nơi giảm diện tích  12
  13. nhưng tổng hợp lại diện tích có giảm và vẫn bị  khô hạn nên sản lượng dự  báo cũng  sẽ chỉ đạt như vụ trước. 2.1.2. Phân tích 2.1.2.1. Môi trường vi mô ­ Nhà cung cấp  Với sản lượng đó thêm nguồn cung từ  đường nhập khẩu theo hạn ngạch thuế  quan hàng năm và đường của Hoàng Anh Gia Lai mà Chính phủ cho nhập, cộng thêm   tồn kho từ đầu vụ, tổng nguồn cung khoảng 1,8 triệu tấn. Với sản lượng này, đường   luôn dư thừa trong các năm gần đây. Ngoài ra, còn một nguồn đáng kể là đường nhập lậu có xuất xứ  Thái Lan mà theo  thông tin của Tổ chức Đường thế giới có thể ước khoảng 400.000 – 500.000 tấn/năm  và có thể  có thêm nguồn cung từ  gian lận thương mại tham gia, góp phần gây khó  khăn cho sản xuất trong nước ­ Khách hàng + Đối với tiêu dùng nội địa: Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có dân  số  trẻ  với hơn 90 triệu người, do đó tiềm năng phát triển trong tương lai của Việt  Nam còn rất lớn.Theo báo cáo của BMI, dân số Việt Nam sẽ tăng từ 90,7 triệu người   lên 97,7 triệu người trong giai đoạn 2013­2020.Thực tế cho thấy mức tiêu thụ  đường  bình quân của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khá cao. Bình quân giai đoạn2013­2015  tiêu dùng tăng khoảng 5.1%/năm. Bên cạn đó, hiện nay nhiều công ty mía đường trong  nước đang tập trung vào hoạt động khai thác chuỗi giá trị  ngành đường, đầu tư  sau  đường nâng cao giá trị  gia tăng, góp phần vào mục tiêu giảm giá thành nên dự  báo   lượng tiêu dụng đường trong nước tiếp tục tăng trong thời gian tới. + Đối với tiêu dùng ngoài nước: Trong những niên vụ 2014/2015 vừa qua, hoạt   động xuất khẩu của Việt Nam có dấu hiệu tăng trưởng. Cụ  thể sau nhiểu năm nhập  siêu đường thì niên vụ  này Việt Nam đã xuất siêu đường. Chương trình sản xuất 1   13
  14. triệu tấn đường đã của Chính phủ đề ra năm 2005 đã hoàn thành và đang hướng tới 2   triệu tấn đường vào năm 2020 nhằm phục vụ tiêu dùng ngoài nước. Đạt được những   thành tựu như  vậy là do chất lượng đường không ngừng được cải thiện và nâng cao  đáp  ứng những yêu cầu khắc khe và nghiêm ngặt của khách hàng ngoài nước, do đó  sản lượng đường tiêu thụ  ngoài nước cũng tăng trưởng không thua kém gì thị  trường  trong nước. +Sản phẩm thay thế: như  đã đề  cập sản phẩm thay thế của công ty cổ  phần  đường Quảng Ngãi là sản phẩm đường từ một số công ty khác như SBT – CTCP Mía  đường Thành Thành Công Tây Ninh, BHS – CTCP Đường Biên Hoà, LSS – CTCP Mía  đường Lam Sơn, NHS – CTCP Đường Ninh Hoà,.... + Thị trường lao động: với 1 thị trường năng động lợi thế về vấn đề lao động,  giá nhân công rẻ và dồi dào đã tạo điều kiện thuận lợi giúp doanh nghiệp phát triển và  mở rộng quy mô sản xuất. 2.1.2.2. Môi trường vĩ mô ­ Về tự nhiên­ Cơ sở hạ tầng:  Tác động rất lớn đến hoạt động doanh nghiệp. Về cơ bản thường tác động bất  lợi đến hoạt động doanh nghiệp. Vấn đề môi trường ( khí hậu, thời tiết.) ảnh hưởng  rất nhiều đến sản xuất, nó quyết định đến nguồn nguyên liệu đầu vào ( mía, đường..)   Cơ  sở  hạ  tầng  ảnh hưởng đến sự  vận chuyển nguyên vật liệu cũng như  phân phối   sản phẩm của doanh nghiệp. ­ Kinh tế Thời gian gần đây tốc độ  tăng trưởng nên kinh tế  ngày càng cao, nền kinh tế  ngày càng ổn định, chỉ số lạm phát được kìm hảm. Các yếu tố này ảnh hưởng đé kinh   doanh, tạo ra những cơ hội và thách thức với doanh nghiệp. ­ Kĩ thuật­ công nghệ Công nghệ ngày càng phát triển được  ứng dụng nhiều hơn vào dây chuyền sản  xuất. Dây chuyền, máy móc, trang thiết bị  hiện đại đã cho ra đời những dòng sản   phẩm cao cấp với chất lượng phù hợp đáp ứng nhu cầu của thị  trường đem lại hiệu   quả cao trong sản xuất và kinh doanh. 14
  15. ­ Văn hóa­xã hội Đây là yếu tố tác động sâu sắc đến kết quả hoạt động quản trị và sản xuất kinh  doanh. Thị hiếu tiêu dùng có sự ảnh hưởng của văn hóa vì vậy doanh nghiệp cần tìm  hiểu 1 cách rõ ràng văn hóa phong tục tập quán, thói quen của thị trường mục tiêu để  có chiến lược marketing phù hợp cho từng sản phẩm. ­ Chính trị xã hội Với các chính sách ưu tiên phát triển sản xuất, chính phủ   ngày càng   tạo   điều  kiện cho doanh nghiệp phát triển. Điển hình như  chính sách kích cầu hàng tiêu dùng,  chính sách phá giá tiền tệ đẩy mạnh xuất khẩu... tạo môi trường thuận lợi cho doanh   nghiệp tìm chỗ đứng trong thị trường nội địa. ­ Môi trường quốc tế Tình hình cạnh tranh trên trường quốc tế  ngày càng gay gắt. Sở  mở  rộng thị  trường­ gia nhập WTO đem lại nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp trong   nước nói chung và QNS nói riêng. 2.1.2.3. Thị trường tài chính ­ Thị trường chứng khoán Năm 2015, nhóm cổ  phiếu ngành Mía đường tiếp tục gặp khó khăn khi vẫn đối  mặt với những bất lợi về nguồn mía nguyên liệu, cạnh tranh với đường nhập lậu, và   giá đường thế giới cũng như trong nước tiếp tục sụt giảm mạnh. Điều này được thể hiện khá rõ trên số liệu kết quả kinh doanh khi doanh thu của  hầu hết các doanh nghiệp trong ngành đều suy giảm so với các năm trước, đáng chú ý  chỉ QNS có mức tăng trưởng ấn tượng 38%. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn vượt khó trong năm 2014. Mặc dù doanh thu  sụt giảm nhưng một số công ty trong ngành như  LSS, BHS và QNS vẫn có mức tăng  trưởng lợi nhuận ấn tượng nhờ vào: (1) nỗ lực duy trì tỷ lệ lợi nhuận gộp ổn định, và   (2) cải thiện chi phí tài chính (chủ  yếu là giảm chi phí lãi vay do hưởng lợi từ  xu  hướng lãi suất giảm). Với những khó khăn phải đương đầu, giới đầu tư  dường như  bỏ  quên nhóm cổ  phiếu ngành mía đường trong năm qua. Điều này đã khiến cho các chỉ số định giá (P/E  15
  16. và P/B ) của các doanh nghiệp ngành mía đường duy trì  ở  mức thấp mà QNS cũng   không ngoại lệ. Trong năm 2015, đặc biệt là các chỉ số P/B đều đứng ở mức dưới 1x. Tuy nhiên bước sang năm 2016, thị  trường chứng khoán ngành mía đường đã có  những bước khởi sắc hơn cụ thể giá cổ phiếu mía đường đã tăng mạnh trong 4 tháng   vừa qua và hiện vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. QNS nằm trong top các mã tăng   mạnh nhất trong bộ ba SBT, BHS và QNS. ­ Tác động của môi trường kinh tế đến ngành đường Tốc độ  tăng trưởng kinh tế   ổn định cũng như  môi trường đầu tư  ­ kinh doanh   được cải thiện đang khiến Việt Nam ngày càng trở thành mối quan tâm của nhiều tập  đoàn lớn trên thế  giới với quy mô đầu tư  vào các dự  án ngày một lớn hơn, cụ  thể  trong ngành mía đường việc đầu tư các trang thiết bị, làm chủ nguồn nguyên liệu đầu  vào sẽ  là vấn đề  được quan tâm hàng đầu để  đem đến cho khách hàng sản phẩm  đường tốt nhất cũng như đáp ứng được những yêu cầu khắc khe, nghiêm ngặt từ các   nhà đầu tư  nước ngoài. Bên cạnh những cơ  hội đặt ra vẫn còn tồn tại một số  khó   khăn vướng mắc cần giải quyết. Cụ  thể cùng với sự  phát triển của nền kinh tế  thị  trường thì đường nhập lậu về  Việt Nam ngày càng nhiều với giá quá rẻ  là áp lực   cạnh tranh lớn nhất mà ngành mía đường từ  xưa đến nay phải đối mặt. Bên cạnh đó   chất lượng đường nước ta còn thấp trong khi giá thì lại cao hơn các nước khác trong  khu vực, áp lực từ  phía khách hàng khi nền kinh tế  biến động thì người mua luôn   nhạy cảm về giá.  Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập đã để lộ mặt yếu thế trong  cạnh tranh so với ngành mía đường từ các nước khác nên tạo áp lực không chỉ cho các  doanh nghiệp mía đường mà toàn ngành mía đường Việt Nam nói chung. Song đối  mặt với những vướn mắt trên ngành mía đường nói chung và QNS nói riêng vẫn tỏ ra   lạc quan khi thị  trường tiêu thụ  đối với sản phẩm này rất lớn, khách hàng đa dạng,  hầu như trong cuộc sống ai cũng không thể sử dụng thiếu đường điều này có nghĩa là  đường sẽ không bị thay thế hoàn toàn bởi bất kỳ một sản phẩm nào khác. Do đó trong  tương lai không xa cùng với tiến trình phát triển của nền kinh tế, QNS với những cải   tiến về công nghệ, đột phá về  chất lượng hứa hẹn sẽ là một ngôi sao sáng trên bầu   trời mía đường Việt Nam. 16
  17. 2.2. PHÂN TÍCH THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN, MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH 2.2.1. Những thuận lợi cơ bản QNS là một thương hiệu mạnh trên thị  trường mía đường Viêt Nam hiện nay.  Thương hiệu luôn được người tiêu dùng tín nhiệm bình chọn đạt danh hiệu hàng Việt  Nam chất lượng cao từ 1997 ­ 2015. Thương hiệu đường Quảng Ngãi cũng được chọn là một thương hiệu mạnh  trong một trăm thương hiệu mạnh tại Việt Nam, đồng thời cũng là một thương hiệu  mạnh trong năm và trở thành thương hiệu nổi tiếng do Tổ chức Đường thế giới (ISO)   công nhận.  Sản lượng đường của QNS sản xuất được trong niên vụ  2014/15  ước đạt 0,3  triệu tấn đường, chỉ  chiếm khoảng 0,9% tổng sản lượng đường của cả  nước. Niên   vụ  này, năng suất mía bình quân cả  nước đạt khoảng 11,9 tấn mía/ha, tăng khoảng   19,5% so với mười năm trước đây. Khoảng cách này đang dần được thu hẹp theo thời   gian. Quy mô thương mại đường của Việt Nam với các nước còn lại trên thế  giới là  không đáng kể, kim ngạch xuất khẩu đường năm 2015 đạt 12,2 triệu USD, chủ yếu là   hoạt động xuất đường tinh đi Trung Quốc ( khoảng 95%) trong khi nhập khẩu năm   2013 vào khoảng 10,8 triệu USD chủ yếu từ Thái Lan (đường tinh), Mỹ (đường thô và   đường khác) và Trung Quốc (đường khác). Tính trong khu vực Asean, Việt Nam gần  nước xuất khẩu đường lớn thứ 2 thế giới là Thái Lan ( khoảng 14,8% kim ngạch xuất  khẩu toàn cầu vụ 2013/14) và chịu tác “Đầu tư chiều sâu, mở rộng các nhà máy đường  hiện có, xây dựng một số nhà máy có quy mô vừa và nhỏ  ở những vùng nguyên liệu  nhỏ. Ở những vùng nguyên liệu tập trung lớn, xây dựng các nhà máy có thiết bị công   nghệ  tiến tiến hiện đại, kể  cả  liên doanh với nước ngoài”. Việt Nam còn nằm gần  các nước nhập khẩu đường lớn nhất thế  giới như  Indonesia (khoảng 7% kim ngạch   nhập khẩu toàn cầu vụ  2013/14) và Trung Quốc (khoảng 5,3%). Công ty cổ  phần   đường Quảng Ngãi là một trong những công ty sản xuất đường đứng đầu Việt Nam.   Thời gian qua công ty đã hợp tác với nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước để phát  triển sản phẩm mới, áp dụng công nghệ, mở rộng marketing và bán hàng. Sản phẩm  của QNS đã xuất khẩu sang Thái, Trung Quốc, Philippines, Mỹ... 2.2.2. Khó khăn mà công ty phải gặp 17
  18. 2.2.2.1. Về kinh tế Việt Nam đã gia nhập WTO, việc mở cửa giao thương với các nước khác khiến  các công ty mía đường trên thế  giới cũng dần tham gia vào thị  trường, viêc thiết lập  hệ thống phân phối của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam,  từ đó làm tăng thêm áp  lực cạnh tranh cho công ty. Biến động trong tăng trưởng kinh tế cũng gây  ảnh hưởng đến tỷ  giá đồng Việt  Nam và ngoại tệ  mạnh, từ  đó sẽ  làm tăng chi phí trong việc nhập khẩu nguyên vật   liệu phục vụ cho sản xuất. Ngoài ra, khi nền kinh tế không ổn định sẽ tạo ra sự thay   đổi về giá chứng khoán trên thị  trường khiến cho công ty không chủ  động trong việc   huy động vốn. 2.2.2.2. Đặc điểm ngành kinh doanh Theo xu hướng của thị  trường thì người tiêu dùng quan tâm hàng đầu đến các  mặt hàng thực phẩm, ngành mía đường chỉ  là thứ  yếu nên trong chỉ  tiêu của người  tiêu dùng thì đường không được đưa vô khoảng tiêu dùng chính mà nó hoàn toàn phụ  thuộc vào thu nhập. Do vậy, bất cứ biến động nhỏ nào trong thu nhập của người dân  cũng khiến thu nhập của công ty bị ảnh hưởng. Với đặc điểm của ngành mía đường chịu  ảnh hưởng rất lớn theo thời vụ  như:   thời vụ trồng mía. Do vậy, thu nhập có thể tăng nhanh vào vụ này nhưng giảm mạnh  vào   các   vụ   khác   do   chịu   sự   chi   phối   của   yếu   tố   thời   tiết,   yếu   tố   giá   mía   đầu  vào...,việc này ảnh hưởng lớn đến dòng tiền và chi phí thời vụ tăng nhanh. Do tính chất của ngành kinh doanh nên doanh nghiệp thường xuyên thay đổi nhân  sự. Đặc biệt là nhân viên bán hàng, nếu nhân viên bán hàng qua làm việc cho đối thủ  cạnh tranh sẽ khiến cho mạng lưới tiêu thụ tại khu vực nhân viên đó quản lý sẽ bị đối  thủ cạnh tranh nắm bắt và chiếm lĩnh thị phần. 2.2.2.3. Môi trường và các đối thủ cạnh tranh a. Đối thủ trong nước: Sản phẩm của QNS vẫn chiếm thị  phần khá lớn, tuy nhiên về  mảng sữa đậu  nành thì  các tên tuổi như  Soya Number One của Tân Hiệp Phát, Trisoy của Tribeco  (TRI) và đặc biệt là GoldSoy của Vinamilk ( VNM) vẫn đang cạnh tranh khá gay gắt.  Mặt   mạnh   của   các   doanh   nghiệp   này   là   hê   thống   phân   phối   rất   lớn.  Trong   đó,  18
  19. Vinamilk chỉ  mới tham gia thị  trường từ năm 2013 với mục tiêu các sản phẩm nước   giải khát (bao gồm cả sữa đậu nành) đóng góp khoảng 5% doanh thu. Được biết, tổng  doanh thu năm 2015 của VNM đạt hơn 35,700 tỷ đồng thì 5% của khoản này là con số  không hề nhỏ. SBT – CTCP Mía đường Thành Thành Công Tây Ninh  : SBT có công suất  thiết kế  lớn (9,800 tấn mía/ngày) và vùng nguyên liệu rộng lớn tại khu vực có khả  năng áp dụng cơ giới hoá cao, là nhà cung cấp đường RE cho nhiều công ty lớn trong   ngành công nghiệp thực phẩm khu vực Đông Nam Bộ, hoạt động bán sỉ  chiếm đến   90­95% tổng doanh thu. Năm 2015 kỳ vọng sản lượng tiêu thụ xấp xỉ năm trước trong   khi giá đường sẽ được hỗ trợ vào nửa cuối năm, về dài hạn có thể xem xét tiềm năng   của dự án nhà máy sản xuất cồn thực phẩm Alcohol công suất 21 triệu lít/năm. BHS – CTCP Đường Biên Hoà  : BHS có kênh bán lẻ  phát triển, giá bán lẻ  đường RE cao hơn các doanh nghiệp khác do có lợi thế thương hiệu. Doanh nghiệp có  doanh thu cao nhất trong số các công ty mía đường niêm yết do bên cạnh hoạt động  sản xuất đường còn thu mua đường thô để  tinh luyện hoặc thu mua đường tinh lưu  kho bán dần trong mùa thấp điểm, điều này cũng khiến biên lãi gộp ở mức rất thấp so  với mặt bằng chung. Chi phí tài chính, bán hàng và quản lý doanh nghiệp chiếm tỷ  trọng quá lớn trên doanh thu khiến hoạt động không hiệu quả, lợi nhuận sau thuế năm   2013 chỉ  đạt dưới 40 tỷ. Kỳ  vọng năm 2014 nằm  ở  hoạt động tạm nhập đường từ  HAGL  ở Lào về tinh luyện và tái xuất, nếu giá thu mua thấp (do giá thành sản xuất  của HAG rất thấp) sẽ cải thiện đáng kể lợi nhuận. HAG – CTCP Hoàng Anh Gia Lai: có vùng trồng tập trung và rộng lớn tại  Attapeu ­ Lào, có sông hồ bao quanh và hệ thống tưới tiêu hiện đại tới từng gốc mía   giúp giải quyết vấn đề  nước trong các tháng mùa khô, cơ  giới hoá triệt để  từ  khâu   làm đất tới thu hoạch dẫn đến năng suất và chữ  đường rất cao so với doanh nghiệp   mía đường trong nước. Giá thành sản xuất đường rẻ (dưới 5 triệu đồng/tấn), biên lãi   gộp rất cao (~60%) và đủ sức cạnh tranh với đường thế giới. b. Đối thủ nước ngoài: Thái Lan là một trong những nước có nền nông nghiệp phát triển trong khu vực   châu Á. Đặc biệt, ngành mía đường Thái Lan trong những năm gần đây đã vươn lên  19
  20. mạnh mẽ và trở thành đối thủ cạnh tranh của các nước sản xuất mía đường trong khu   vực nói chung và ngành sản xuất mía đường Việt Nam nói chung trong đó có công ty   cổ phẩn đường Quảng Ngãi nhờ giá thành sản xuất thấp và chất lượng cao. Là nước xuất khẩu ròng đường duy nhất ở Đông Nam Á, 4 năm trở lại đây, mỗi  năm Thái Lan sản xuất từ  8 ­ 11 triệu tấn  đường. Trong đó, 70 ­ 75% sản lượng   đường này được dùng để  xuất khẩu. Bên cạnh sự   ưu ái của điều kiện tự  nhiên, các  chính sách đầu tư, quản lý và điều hành ngành đường khá tốt của Chính phủ Thái Lan  cũng góp phần quan trọng đưa Thái Lan vươn lên trở  thành nước sản xuất và xuất  khẩu đường lớn của khu vực. 2.2.3. DỰ ĐOÁN SỰ PHÁT TRIỂN TRONG TƯƠNG LAI Ở tất cả các quốc gia và Việt Nam cũng không ngoại trừ. Khi xã hội ngày càng   phát triển thì mọi người càng quan tâm tới nhu cầu dinh dưỡng và sức khỏe của mình.  Chính điều này bắt buộc công ty phải luôn nghiên cứu, tìm hiểu và phát triển sản   phẩm mới đáp  ứng nhu cầu khách hàng. Đây là một vấn đề đòi hỏi công ty phải hết   sức quan tâm.  Trong khi đó,  vấn đề  nhập khẩu đường do Tập đoàn Hoàng Anh­Gia Lai Việt  Nam đầu tư sản xuất tại Lào vào Việt Nam đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm.   Nhìn chung ngành mía đường Việt Nam thời gian qua tồn tại vấn đề  bất cập là giá  thành quá cao. Nhiều năm qua, 90 triệu người dân Việt Nam liên tục phải tiêu thụ  đường ăn với giá cao gấp rưỡi, thậm chí có thời điểm gấp đôi so với thế  giới. Tại  thời điểm hiện tại, giá bán đường giao tại cửa các nhà máy trong  nước đang cao  khoảng gấp rưỡi giá đường ăn thế  giới. Người dân Việt Nam không có quyền lựa   chọn nào khác. Và tình trạng đó chỉ  có lợi cho một bộ phận nhỏ trong xã hội. Lý do  của thực trạng này là do Hiệp hội Mía đường và các doanh nghiệp mía đường không   quan tâm đúng mức đến công tác nghiên cứu để  đổi mới và phát triển ngành. Nhiều   năm qua, Hiệp hội và các doanh nghiệp mía đường đã không phổ biến được các giống   mía mới, năng suất cao tại Việt Nam để  tăng năng suất và hiệu quả  canh tác. Trong   khi đó Công ty Hoàng Anh­Gia Lai chỉ trong một thời gian ngắn đã làm được điều này.   Các doanh nghiệp mía đường Việt Nam hiện nay nói chung và công ty cổ phần đường  Quảng Ngãi nói riêng vẫn dựa chủ yếu vào nguồn nguyên liệu do người nông dân tự  20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản