intTypePromotion=1

Đề thi & đáp án lý thuyết Quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2012 (Mã đề LT47)

Chia sẻ: Chien Chien | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
82
lượt xem
11
download

Đề thi & đáp án lý thuyết Quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2012 (Mã đề LT47)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề thi lý thuyết Quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2012 (Mã đề LT47) sau đây có nội dung đề thi gồm 4 câu hỏi với hình thức thi viết và thời gian làm bài trong vòng 180 phút. Ngoài ra, tài liệu này còn kèm theo đáp án giúp bạn có thể dễ dàng kiểm tra so sánh kết quả được chính xác hơn. Mời các bạn cùng tham khảo và thử sức mình với đề thi nghề này nhé.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề thi & đáp án lý thuyết Quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2012 (Mã đề LT47)

  1. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐỀ THI TỐT NGHIỆP CAO ĐẲNG NGHỀ KHÓA 3 (2009 – 2012) NGHỀ: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ MÔN THI: LÝ THUYẾT CHUYÊN MÔN NGHỀ Mã đề thi: QTDNVVN - LT 47 Hình thức thi: Viết Thời gian: 180 phút (Không kể thời gian giao đề thi) ĐỀ BÀI Câu 1: (2 điểm) Anh ( chị) trình bày khái niệm, cơ cấu và ý nghĩa định mức tiêu hao vật tư? Câu 2: (3 điểm) Chi nhánh kinh doanh tổng hợp Đà Nẵng trực thuộc công ty X (có trụ sở chính đặt tại Hà Nội) được thiết lập tại một địa điểm hết sức thuận tiện cho việc tiếp nhận và phân phối hàng hóa cho các cửa hàng nằm trong vùng. Trước đây chi nhánh trưởng là kỹ sư Minh và phụ tá là ông Linh. Kỹ sư Minh là người có nhiều kinh nghiệm về ngành xây dựng và tổ chức; ông đã có đóng góp đáng kể trong việc xây cất chi nhánh kinh doanh Đà Nẵng. Khi hoạt động thương mại còn ít thì công việc tiến triển khá khả quan. Nhưng khi hoạt động thương mại gia tăng thì hiệu năng hoạt động của chi nhánh giảm sút rõ rệt. Toàn thể nhân viên đều ngày đêm bận rộn, không còn thì giờ để huấn luyện mà các cửa hàng vẫn than phiền ngày càng nhiều về việc cung ứng hàng hóa chậm. Công ty phái một Ban thanh tra xuống quan sát tình hình và ngay sau đó kỹ sư Minh được thuyên chuyển đi phụ trách việc xây dựng một chi nhánh khác và kỹ sư Chi được điều tới để phụ trách trạm kinh doanh Đà Nẵng. Kỹ sư Chi là người có nhiều năm kinh nghiệm trong kinh doanh đã từng nắm chức vụ trưởng phòng kho vận của công ty. Đến trạm Đà Nẵng ông được các nhân viên cho biết tình trạng kém khả quan ở đây. Sau một tuần, ông thấy rằng điều kiện làm việc tại trạm rất kém, đa số nhân viên là người tốt nhưng chưa được huấn luyện do vậy họ làm việc không đạt kết quả mong muốn. Và ông cho rằng điều thiết yếu là phải có thêm nhân viên, tăng cường hoạt động quản trị .
  2. Kỹ sư Chi thảo luận hàng ngày với các thuộc viên then chốt và cùng họ lập ra một ban tổ chức mà họ tin là sẽ làm cho hoạt động có hiệu quả hơn và đặt các liên hệ thông đạt rõ rệt hơn. Sau đó ông để tâm lo vấn đề nhân viên quản trị. Ông đã dành nhiều công sức để tìm người. Ông còn gửi thư cho cán bộ lãnh đạo của một số chi nhánh kinh doanh khác nhờ họ tìm giúp. Chẳng bao lâu sau ông nhận được thư phúc đáp của ông Bá – chi nhánh trưởng chi nhánhkinh doanh Cần Thơ có đoạn như sau: “ Tôi vui lòng giới thiệu một người mà tôi tin có thể thích ứng với nhu cầu cần của anh. Người đó là Hà Văn Sơn, đã có đôi lần làm việc với chúng tôi với tư cách cố vấn. Ông Sơn là một cựu sinh viên Luật, có mở một văn phòng dịch vụ pháp lý tại Cần Thơ và nghe đâu rất giỏi trong nghề này. Tôi chắc ông ta có thể giúp anh một cách đắc lực”. Kỹ sư Chi lập tức gọi điện mời ông Sơn ra làm việc tại trạm Đà Nẵng. Mặc dù khi đó ông chưa có dự định giao công việc gì cho ông Sơn, nhưng ông tin chắc có thể tìm một chức vụ xứng đáng với khả năng của người này. Ông Sơn nhận lời mời và tới nhận việc sau đó độ 10 ngày. Kỹ sư Chi sau khi gặp gỡ và chỉ định ông Sơn làm việc tại Ban Thanh tra và hiện trưởng phòng là ông Gấm – một cán bộ vừa tốt nghiệp trường Đại học kinh tế, làm việc có nhiều kết quả khả quan, được mọi người yêu mến; giúp việc cho ông Gấm là ông Huy một người có kinh nghiệm trong công việc hành chính. Nhiệm vụ của Ban Thanh tra là: - Làm báo cáo thường xuyên về sự tiến triển của công việc cải tiến lên trạm trưởng. - Kiểm điểm công việc của các phòng ban thuộc trạm. - Điều tra và làm rõ những khiếu nại gửi tới chi nhánh tìm ra nguyên nhân và đề xuất biện pháp giải quyết. Trưởng phòng Gấm cho đặt một bàn giấy cho ông Sơn tại phòng. Lập tức ông Sơn sắp đặt các vật dụng cá nhân gồm có văn bằng, chứng chỉ luật được đóng khung lên tường và giấy phép của tòa án cho quyền mở văn phòng dịch vụ pháp lý. Ông Sơn không được giao phó một công việc nhất định nào, nhưng trưởng phòng tin rằng ông sẽ giúp đỡ phòng trong việc điều tra và có những đề nghị bổ ích cho việc làm báo cáo để trình trạm trưởng. Một vấn đề nổi cộm tại trạm Đà Nẵng vào thời điểm đó là tình trạng tồn trữ hành hóa ở đây. Ban Thanh tra đang lo thảo một báo cáo dùng để làm cơ sở cho sự cải tổ phòng Kho vận. Trưởng phòng Gấm và ông Huy mời Sơn cho ý kiến về tình trạng này. Sau khi điều tra hết một buổi sáng ông Sơn cho hai người biết rằng: muốn cải tiến tình trạng tồn trữ thì phải kiểm kê hàng tồn kho hàng ngày.
  3. Ông Gấm và ông Huy cho rằng làm như vậy rất khó, bởi vì có 12 nhà kho, một nhà kho dài tới 100 m và chứa đựng hơn 5000 mặt hàng khác nhau. Hơn nữa để thực hiện được việc kiểm kê thì cần có thêm nhiều nhân viên, mà hiện thời sự thiếu hụt nhân công, không thể đào đâu ra. Ông Sơn nhấn mạnh ý kiến của ông là rất hay và ông đề nghị ý kiến đó được nêu trong báo cáo để trình lên trạm trưởng. Rồi ông lại đem ý kiến đó bàn với ông Côi – trưởng phòng kho vận, ông Côi không đồng ý, hai người gây lộn với nhau và ông Côi phải ra lệnh tống cổ ông Sơn ra khỏi phòng mình. Vài ngày sau, trạm trưởng nhận được báo cáo của trưởng ban Thanh tra rằng ông Sơn quấy rầy họ và đề nghị những chuyện thiếu thực tế. Các trưởng phòng khác cũng có ý kiến cho rằng ông Sơn đang gây rối tổ chức. Trạm trưởng đáng rất đau đầu về việc này: dù ông Sơn là người có năng lực đi nữa, thì với tư cách khó hòa hợp của ông cũng ngăn trở việc thu thập tài liệu, không làm cho người khác nghe theo. Chưa biết định đoạt ra sao thì một hôm ông Chi thấy xôn xao. Khi tới nơi thì ông Chi thấy tất cả nhân viên trong phòng đang nhìn ông Sơn mà cười khi ông này đang ngủ gục ngáy o o trên bàn giấy. Câu hỏi: 1. Vận dụng lý thuyết quản trị nhân lực để phân tích tình huống trên. 2. Trách nhiệm của chi nhánh trưởng Chi, trưởng phòng Gấm đối với ông Sơn? Và ông Sơn có làm tròn trách nhiệm đối với ông Chi không? 3. Nếu bạn là ông chi nhánh trưởng Chi bạn sẽ giải quyết vấn đề với ông Sơn như thế nào? Câu 3: (2 điểm) Một DN sản xuất 3000 sản phẩm (sp) A và 2000 sản phẩm B. Tình hình chi phí như sau: Định mức hao phí Danh mục chi phí Đơn giá Sp A Sp B 1. Nguyên VL cho 1 sp 11.500đ/kg 13.5 kg 15 kg 2. Giờ công sản xuất cho 1 sp 4.000đ/h 2.5 h 3.0 h 3. Giá bán 1 sp 200.000 đ 220.000 đ 4. Chi phí gián tiếp tính cho toàn bộ sp 10.000.000đ
  4. 5. Chi phí khấu hao TSCĐ tính cho toàn bộ sp 7.000.000đ Hãy xác định giá thành 1 đơn vị sản phẩm, lợi nhuận 1 đơn vị sp (sản phẩm), tổng lợi nhuận tiêu thụ theo 3 chìa khoá phân bố K1, K2, K3. Tính tổng mức lãi thô, lãi đích thực. Câu 4: (3 điểm ) Các trường tự ra câu hỏi theo modul, môn học tự chọn. .........ngày …. tháng…. năm…….. DUYỆT HỘI ĐỒNG THI TN TIỂU BAN RA ĐỀ THI (Thí sinh không được sử dụng tài liệu, Giám thị coi thi không giải thích gì thêm.)
  5. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ĐÁP ÁN ĐỀ THI TỐT NGHIỆP CAO ĐẲNG NGHỀ KHÓA 3 (2010 – 2012) NGHỀ: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ MÔN THI: LÝ THUYẾT CHUYÊN MÔN NGHỀ Mã đề thi: ĐA QTDNVVN - LT 47 Câu Nội dung Điểm 1 Trình bày khái niệm, cơ cấu và ý nghĩa định mức tiêu hao vật tư? 2 1. Khái niệm 0,5 Định mức tiêu hoa vật tư được hiểu là lượng vật tư lớn nhất cho phép để chế tạo một đơn vị sản phẩm hoặc hoàn thành một khối lượng công việc phù hợp với điều kiện tổ chức, kỹ thuật của doanh nghiệp. * Định mức tiêu hoa vật tư không phải là một đại lượng cố định theo sự thay đổi của cơ cấu định mức của kỹ thuật công nghệ và trình độ của người lao động. Chính vì vậy hàng năm ta phải rà soát lại định mức tiêu hao. 2. Cơ cấu định mức tiêu hao vật tư. 0,5 - Mức tiêu dùng thuần việt: Hay gọi là mức tiêu dùng hữu ích trực tiếp cấu thành thức thể sản phẩm và quyết định trọng lượng của sản phẩm. - Tổn thất vật tư: Là những tổn thất do quá trình công nghệ gây ra hoặc do sự tác động của điều kiện tự nhiên. 3. Ý nghĩa của định mức. 1 - Định mức tiêu hao vật tư là căn cứ để xác định chỉ tiêu kế hoạch vật tư. - Định mức tiêu hao vật tư là căn cứ để tổ chức cấp phát vật tư. - Là căn cứ hạch toán giá thành và lập dự toán chi phí sản xuất. - Là cơ sở để sử dụng hợp lý tiết kiệm vật tư. - Là căn cứ xác định trách nhiệm vật chất từ đó khen chê đúng mức. 2 Câu hỏi tình huống 3 (Dưới đây là một vài gợi ý, GV chấm bài phải dựa trên sự sáng tạo 1 trong mỗi bài làm cụ thể của SV) 1. Vận dụng lý thuyết quản trị nhân lực để phân tích tình huống trên: - Quản trị nhân lực là tổng hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụngcó hiệu quả yếu tố con người trong tổ chức nhằm để đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp đặt ra. - Trước đây trạm trưởng là kỹ sư Minh và phụ tá là ông Linh. Kỹ sư Minh là người có nhiều kinh nghiệm về ngành xây dựng và tổ chức; ông đã có đóng góp đáng kể trong việc xây cất trạm Đà Nẵng.
  6. - Sau khi hoạt động kinh doanh của trạm bị giảm sút, công việc thì chất đống, hàng hóa bị ứ đọng, phòng nhân sự của công ty đã có sự điều chỉnh nhân sự của mình. Đó là việc kỹ sư Minh được thuyên chuyển đi phụ trách việc xây dựng một trạm khác và kỹ sư Chi được điều tới phụ trách trạm kinh doanh Đà Nẵng. Việc điều chỉnh nhân sự này xuất phát từ yêu cầu “đúng người đúng việc” hay nói cách khác là làm đúng việc trước khi làm việc đúng. - Tuy kỹ sư Minh là người có năng lực, có tài nhưng năng lực hiện giờ của ông không thể đáp ứng tốt công việc kinh doanh ở trạm và thay vào đó là một người có nhiều năm kinh nghiệm trong kinh doanh. Tuy nhiên vấn đề quản trị nhân lực ở trạm còn có nhiều thiếu xót và có những sai lầm. Sai lầm và thiếu xót ở các công việc: tuyển dụng nhân sự, bố trí và sử dụng nhân sự, đào tạo và đãi ngộ nhân sự.. - Việc tuyển dụng, đào tạo và đãi ngộ nhân viên của trạm kinh doanh Đà Nẵng chưa tốt. Nhân viên là người tốt nhưng chưa được huấn luyện để bố trí sắp xếp lại phù hợp với tình hình mới.Ở đây, việc bố trí ông Sơn vào vị trí mới là “không đúng người, đúng việc”. 2. Trách nhiệm của trạm trưởng Chi, trưởng phòng Gấm đối với ông 1 Sơn: - Cả ông Chi và Ông Gấm đều chưa làm tốt công tác tuyển dụng. Chỉ nghe qua lời giới thiệu mà tuyển ông Sơn nhưng không giao việc cụ thể cho ông Sơn, bố trí công việc không đúng sở trường của ông Sơn. - Ông Sơn không làm tròn trách nhiệm đối với ông Chi. Được tuyển dụng nhưng không quan tâm đến công việc mà mình được giao là gì? - Không có thái độ hợp tác làm việc. - Đưa ra những đề xuất không phù hợp với thực tế. 3. Nếu là ông trạm trưởng Chi tôi sẽ giải quyết vấn đề với ông Sơn 1 như sau: - Tìm hiểu kỹ lại những việc ông Sơn đã làm và những đề xuất của ông khi đưa về làm việc tại trạm. - Mời ông Sơn lên nói chuyện. Lựa lời phân tích những ưu, nhược điểm của ông Sơn đối với công việc thời gian qua tại trạm. - Cung cấp những thông tin và các vấn đề hiện nay của trạm cần giải quyết. - Khéo léo phân tích và thuyết phục để ông Sơn thấy ông thật sự là người có tài nhưng lại không phù hợp với vị trí hiện tại nên hiệu quả chưa như mong muốn. - Vì ông Sơn là một người có trình độ, tuy nhiên do xắp xếp công việc không cụ thể, không đúng sở trường của ông. Hiện nay do đã nhận một người có trình độ như ông Sơn về làm việc nên thuyết phục ông Sơn tham gia tập huấn một khóa huấn luyện nghiệp vụ và tiếp tục làm việc. - Nếu ông Sơn không đồng ý đi học lớp đào tạo nghiệp vụ mới thì có thể cân nhắc và chuyển ông Sơn đến một vị trí khác phù hợp năng lực, sở
  7. trường của ông Sơn (trong trường hợp Cty đang khuyết vị trí ấy và ông Sơn cảm thấy ổn). - Dựa vào yêu cầu cụ thể của vị trí cần tuyển người để tuyển nhân sự “đúng người, đúng việc” tránh sai lầm như trên (có thể tuyển trưởng kho hàng hoặc tìm người có năng lực tại trạm lên làm trưởng kho để có trách nhiệm, kỹ năng tổ chức, quản lý, dự trữ hàng hóa và lập phiếu kiểm tra theo dõi hàng hóa trong kho). 3 * Tính CPtt1sp =CPNVL1sp +CPtiencong1sp 2 Sp A = (11.500 x 13,5) + (4000 x 2,5) = 165.200đ Sp B = (11.500 x 15) + (4000 x 3,0) = 184.500 đ * Tổng chi phí gián tiếp ∑ CP chung = ∑ CP gián tiếp + CPKHTSCĐ = 10.000.000 + 7.000.000 = 19.000.000 đ * Phân bố CP chung, tính £, LN K1 =  CPchung  Doanhthu ∑DT = (3.000 x 200.000) + (2.000 x 220.000) = 1.040.000.000đ 1 7 . 0 0 0 .0 0 0 = 0,0163 K1 = 1 .0 4 0 . 0 0 0 . 0 0 0 SP SP tt CP Phân bổ £ Giá bán LN A 165.250 + (0.0163 x 200.000) = 168.510 200.000 31.490 B 184.500 + (0,0163 x 200.000) = 188.086 220.000 31.914 K2 =  CPchung  CPtt ∑CPtt = (3.000 x 165.250) + (1.000 x 184.500) = 864.750.000đ 17.000.000 K2 = = 0,0196 864.750.000 SP SP tt CP Phân bổ £ Giá bán LN A 165.250 + (0.0196 x 165.250) = 168.489 200.000 31.511 B 184.500 + (0,0196 x 184.500) = 188.116 220.000 31.884 K3 =  CPchung  giocongsx ∑ gc sx = (3.000 x 2,5) + (2.000 x 3) = 13.500 giờ 17.000.000 K3 = = 1.259 13.500 SP SP tt CP Phân bổ £ Giá bán LN A 165.250 + (1.259 x 2,5) = 168.397 200.000 31.603 B 184.500 + (1.259 x 3) = 188.259 220.000 31.723
  8. * Tính tổng lợi nhuận: ∑LN 1 = (3.000 x 31.490) + (2.000 x 31.914) = 158.298.000đ ∑LN 2 = (3.000 x 31.490) + (2.000 x 31.914) = 158.298.000đ ∑LN3 = (3.000 x 31.603) + (2.000 x 31.723) = 158.255.000đ * Tính tổng lãi thô ∑MLT = ∑DT - ∑CPtt = 1.040.000.000 - 864.750.000 = 175.250.000đ * Tổng lãi đích thực: ∑L đíchthực = ∑MLT - ∑CPchung = 175.250.000 - 17.000.000 = 158.250.000đ 4 Tự chon, do trường biên soạn 3 Cộng 10 ……. ngày…… tháng…… năm…….
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2