Hình tượng Bụt trong tục ngữ- ca
dao Việt Nam
Trong tục ngữ, ca dao hình tượng Bụt xuất hiện với nhiều ý nghĩa phong phú trong một
phạm vi rộng. Ông Bụt không chlà hình tượng biểu trưng tôn giáo hay tín ngưỡng dân
gian mà đã đi vào đời sống hàng ngày của người bình dân để chuyển hoá thành nhiều ý
nghĩa khác nhau. Sự chuyển hoá đó thể hiện rõ nhất là trong thể loại tục ngữ, có lẽ là do
tính chất đặc trưng gm hai nghĩa (nghĩa đen và nghĩa bóng) của thể loại này. Hình tượng
Bụt trong tục ngữ dù được thể hiện dưới góc độ nào đi nữa cũng bao gồm những ý nghĩa
sâu xa hơn những gì nó thể hiện trên văn bản....
1. Nguồn gốc từ Bụt trong dân gian:
Đạo Phật đến nước ta vào đầu Tây lịch khi nhân dân Việt Nam đang sống những tháng
ngày nô lệ Bắc thuộc. Người dân Việt Nam lúc bấy giờ chỉ cầu mong một cuộc sống tự
do, thanh bình, giải thoát khỏi những gông kiềm ngoại quốc. Trong hoàn cảnh đó Phật
giáo đã xuất hiện và mau chóng trở thành chỗ dựa tinh thần cho một dân tộc đang bị mất
nước. Phật giáo lấy lý tính làm chủ đạo, lấy sự giác ngộ để giải thoát, giải cứu”(1) vì thế
không có gì đáng ngạc nhiên khi Phật giáo hoà nhập vào tín ngưỡng dân gian, trở thành
nơi gởi gắm nim tin của nhân dân lao động.
“Phật – tiếng Phạn là Buddha (âm Hán Việt là Phật Đà, gọi tắt là Phật) nghĩa là bậc giác
ngộ viên mãn. Từ tiếng Phạn Buddha, người Việt Nam ngày xưa đọc là Bụt”(2)
“Chúng ta thấy cái tên đức Chúa hay đức Mẹ truyền vào Việt Nam từ thế kỷ XVI kể đến
nay đã hơn 400 năm mà vẫn chưa thể nào quen với tâm lý dân tộc. Trái lại cái tên Bụt,
Tiên cũng là mượn của những thứ tôn giáo ngoại lai nhưng đã tr thành truyền thống, vì
từ rất xưa, những tôn giáo này đã từng hoá thân vào đời sống dân tộc, chấp nhận những
thứ thanh lọc gay gắt, trở thành tôn giáo chung chi phối tâm linh của cộng đồng”(3)
2. Sự chuyển nghĩa từ đức Phật tôn giáo đến ông Bụt dân gian:
Từ khi hòa nhập vào tín ngưỡng dân gian và được dân gian hóa thì hình tượng Bụt trong
dân gian không còn nguyên vẹn ý nghĩa là bậc giác ngộ như trong giáo lý đạo Phật. Bụt
không còn là một đấng Thích Ca uy nghiêm trầm mặc ngự trên toà sen cao chín b
trong các ngôi chùa nữa. Mà Phật bây giờ đã trở thành Bụt – một ông Phật của dân gian,
một vị thần của dân gian, một ông Bụt hiền, Bụt nh đầy quyền năng phép màu nhưng
không cao siêu huyền bí mà gần gũi cạnh bên. Bụt trong tâm thức của dân gian là một
ông thần Thiện có quyền năng tuyệt đối, có thể nghe thấu được mọi ước vọng, mọi lời
cầu xin của người bất hạnh, nghèo khổ. Ông Bụt luôn luôn xuất hiện bên cạnh những
người chân thật hiền lành, yếu đuối khi họ bị các thế lực mạnh hơn ức hiếp. Ông Bụt còn
là vị quan toà đứng ra giải quyết mọi bất công trong xã hội dân gian xa xưa, trừng trị kẻ
ác đem lại thanh bình yên vui cho người nghèo khổ, hiền lành.
Từ một con người của tôn giáo, đức Phật trở thành một con người của dân gian, được
dân gian âu yếm gọi bằng một cái tên thân thương, bình dân là “Bụt”. Ông Bụt ấy không
mặc áo cà sa, không xung tóc, không ngồi xếp bằng dưới bóng cây bồ đề mà lại xuất
hiện trong hình dáng của một ông già râu tóc bạc phơ giống một ông Tiên hơn là một đức
Phật.
“Các nhân vật vốn là biểu tượng của tôn giáo như Bụt, Tiên, Ngọc Hoàng … đều đã được
cái nhìn thực tiễn của dân gian dân tộc nhân cách hoá để trở thành lực lượng cứu tinh
đối với mọi nời dân cùng khổ..”(4)
Việt Nam là một đất nước đa tôn giáo nhưng qua nhiều biến động lịch sử và qua s
thanh lọc gay gắt của thời gian, của tâm lý dân tộc thì những tôn giáo còn tồn tại trong tín
ngưỡng dân gian không nhiều. Qua lịch sử văn học dân gian ta có thể thấy được Phật giáo
chính là tôn giáo phù hp nhất với tâm lý của nhân dân lao động Việt nam và đã chiếm
lĩnh hoàn toàn đời sống tinh thần của họ. Dù được chuyển hoá dưới hình thức nào đi nữa
như là một ông Tiên hay một ông Thần thì ta vẫn biết đó chính là đức Phật Thích Ca
được nhìn qua con mắt của người dân lao động.
Từ biểu trưng tôn giáo, hình tượng Bụt đi vào dân gian và được thể hiện bằng nhiều hình
ảnh đặc sắc trong văn học. Đặc biệt trong tục ngữ, ca dao hình tượng Bụt đã được chuyển
hóa với nhiều hàm nghiã phong phú. Tùy theo tính chất đặc trưng cuả từng thể loại, ý
nghĩa của hình tượng Bụt được thể hiện khác nhau trong tục ngữ, ca dao.
3. Những xu hướng chung quy định sự hình thành các hàm nghĩa của hình tượng Bụt
trong tục ngvà ca dao:
a. Hình tượng Bụt trong tục ngữ:
Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc do nhân dân lao động sáng tạo
nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ. Mỗi câu tục ngữ thường có hai nghĩa, nghĩa đen và
nghĩa bóng (nghĩa đen là nghĩa gốc chỉ ý nghĩa trực tiếp, ý nghĩa ban đầu khi mới hình
thành câu tục ngữ. Còn nghĩa bóng là ý nghĩa được lan tỏa, mở rộng qua quá trình lưu
truyền trong không gian và thi gian)
Lối nói bằng tục ngữ thường là một lối nói ẩn dụ, hình thức thể hiện súc tích, giàu hình
ảnh, do đó có tác dụng truyền cảm và thuyết phục mạnh mẽ, để nói lên những tư tưởng
thâm trầm, những khái quát rộng rãi.
Tục ngữ là tm gương phản ánh, qua lời nói hàng ngày, mọi biểu tượng của đời sống dân
tộc và quan niệm của nhân dân về lao động, về các hiện tượng lịch sử xã hội, về đạo đức,
về tôn giáo.(5)
Hình tượng Bụt trong tục ngữ thường được thể hiện dưới nhiều lớp nghĩa phong phú,
nghĩa đen thường là để chỉ việc thờ cúng Bụt trong tín ngưỡng dân gian, các cúng phẩm
như hương, xôi, oản, lộc Bụt… cũng được nhắc đến nhiều lần. Đồng thời cũng có không
ít các câu tục ngữ nhắc đến các cơ sở vật chất có liên quan đến tôn giáo như chùa chiền,
bệ thờ, đất nặn Bụt, phong cảnh Bụt, áo cà sa, tiền Bụt…. Qua đó nhân dân lao đã th
hiện thái độ tôn kính, sùng bái hay thân mật, gần gũi của mình đối với ông Bụt đức
Phật Thích Ca trong tâm thức dân gian.
Nghĩa bóng của những câu tục ngữ có hình tượng Bụt đa số là dùng để nói đến các phạm
trù đạo đức, lối sống, cách cư xử hàng ngày của người dân lao động. Qua hình tựơng Bụt
nhân dân thường có ẩn ý khen ngợi những con người hiền lành, sống có nghĩa, có nhân
trong xã hội. Đồng thời cũng qua đó mà ám chỉ phê phán những kẻ giả danh tôn giáo làm
điều xằng bậy. Sâu xa hơn trong ýnghĩa của những câu tục ngữ này là lời khuyên răn
chân thành của cha ông đối với con cháu, hãy nghe theo li Phật mà làm lành tránh dữ,
siêng năng thờ cúng để được đấng thiêng liêng phù hộ độ trì.
b. Hình tượng Bụt trong ca dao :
Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt. Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của
các bài hát dân ca dã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy….hoặc ngược lại, là những
câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca. Ca dao dân ca dù được biểu hiện dưới
hình thức nào đi nữa cũng đều tập trung phản ánh một cái tôi trữ tình tập thể: tâm hồn
nhân dân lao động, tâm hồn dân tộc Việt Nam(6)
Hình tượng ông Bụt trong ca dao không được thể hiện tập trung như là trong tục ngữ. Đa
số nội dung của các câu ca dao thường là mượn hình tượng Bụt hoặc những vấn đề có
liên quan đến Bụt để nói đến một nội dung, ý nghĩa khác nhiều khi chẳng ăn nhập gì với
hình tượng Bụt đã dùng trong câu mđầu. Hình tượng Bụt đôi khi chỉ là một cái cớ để
dân gian triển khai một ý đồ khác.
Cũng như vậy, ở một số bài ca dao hay đồng dao có dung lượng cỡ từ 10 câu trở lên
có nhắc đến hình tượng Bụt cũng không chứa đựng một ý nghĩa đặc biệt gì về Bụt mà ch
là “nhân tiện” nhắc đến Bụt cùng với các sự vật khác. Vì thế ở những câu ca dao này
hoàn toàn không còn mang ý nghĩa tôn giáo mà cũng chẳng phải là thể hiện ý nghĩa của
tín ngưỡng dân gian .
Ở những câu ca dao tập trung vào hình tượng Bụt thì thường gắn liền với các hình thức
thờ cúng, nhắc đến ngày rằm hàng tháng hay các ngày lễ lớn hàng năm của đạo Phật. Có
nhiều câu miêu tkiến trúc chùa chiền, các đạo cụ dùng trong nghi lnhư mõ, chuông ..
và tất nhiên cũng không quên nhắc đến những người tu hành theo đạo Phật như sư, vãi…
Một đều đáng lưu ý hơn nữa là có một bộ phận các câu ca dao sử dụng lại tục ngữ
hình tượng Bụt trong nội dung của mình. Vì thế khi đi vào phân tích ý nghĩa của các câu
ca dao này ta lại dễ dàng bắt gặp ý nghĩa của những câu tục ngữ đã được phân tích ở trên
4. Các hàm nghĩa của hình tượng bụt trong ca dao, tục ngữ:
a. Hình tượng biểu trưng tôn giáo tín ngưỡng dân gian:
Ở trong lớp nghĩa này Bụt chính là đối tượng thờ phụng thiêng liêng của nhân dân lao
động. Hình tượng Bụt xuất hiện trong ca dao, tục ngữ bên cạnh cácsở vật chất và các
hoạt động nghi lễ đặc trưng của đạo Phật. Bụt ở đây vẫn còn gi được tính chất thiêng
liêng của đạo Phật chỉ khác ở chỗ tên gọi. Thay vì gọi Phật, dân gian gọi là Bụt cách
diễn đạt nôm na theo âm Hán Việt Budha.
Tuy nhiên vì qua cách nhìn và cách diễn đạt của dân gian nên hình tượng Phật không
được thể hiện trên phạm vi rộng toàn thế giới như trong lịch sử tôn giáo của nó. Đạo Phật
ở đây được thu hẹp lại, các hình thức lễ nghi, cúng bái diễn ra trong từng ngôi làng và