intTypePromotion=1
ADSENSE

Khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty rau quả, nông sản (Vegetexco)

Chia sẻ: Sdgsxf Sdgsxf | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:100

231
lượt xem
64
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty rau quả, nông sản (Vegetexco) nhằm trình bày khái quát chung về rau quả xuất khẩu Việt Nam, những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và xuất khẩu rau quả Việt Nam, phân tích và đánh giá thực trạng xuất khẩu rau quả của Tổng công ty rau quả, nông sản, đưa ra phương hướng và một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty rau quả, nông sản (Vegetexco)

  1. TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI ---------***--------- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU RAU QUẢ TẠI TỔNG CÔNG TY RAU QUẢ, NÔNG SẢN (VEGETEXCO) Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Hà Lớp : Anh 5 Khoá : K42B Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Đào Thị Thu Giang HÀ NỘI, 11/2007
  2. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Sau hơn 20 năm đổi mới, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam đã có những bƣớc tiến rõ rệt, từ một nƣớc nông nghiệp phải nhập khẩu lớn lƣơng thực triền miên, giờ đây chúng ta đã trở thành một nƣớc xuất rau quả và nông sản có vị thế trên thế giới. Đặc biệt từ khi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII hƣớng dẫn thực hiện đa dạng hoá cây trồng, hƣớng về xuất khẩu, ngành rau quả Việt Nam đã có những bƣớc phát triển đáng kể .Tuy nhiên kết quả đạt đƣợc vẫn chƣa tƣơng xứng với tiềm năng của đất nƣớc; trình độ sản xuất, năng suất, sản lƣợng, chất lƣợng còn thấp, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu trong và ngoài nƣớc. Trong tình hình hiện nay, việc hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt là việc gia nhập WTO tuy mở ra nhiều cơ hội cho ngành xuất khẩu rau quả Việt Nam song cũng đặt ra không ít thách thức đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng nỗ lực trong cuộc chạy đua ngày càng khốc liệt trên trƣờng quốc tế. Nhận thức đƣợc những khó khăn đó, Tổng công ty Rau quả, nông sản (trƣớc đây là Tổng công ty Rau quả Việt Nam), một doanh nghiệp Nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo trong ngành rau quả Việt Nam, đã xác định hƣớng phát triển và xây dựng chiến lƣợc phát triển cho Tổng công ty bằng việc định hƣớng cho xuất khẩu trên cơ sở phát huy tối đa các nguồn lực về lao động, điều kiện tự nhiên…Với nỗ lực của mình, Tổng công ty đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể với 58 thị trƣờng xuất khẩu, với nhiều các chủng loại mặt hàng và kim ngạch xuất khẩu tăng đều qua các năm. Tuy nhiên, so với tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả cả nƣớc thì xuất khẩu rau quả của Tổng công ty chiếm tỷ trọng chƣa lớn và chƣa tƣơng xứng với tiềm năng và thế mạnh của Tổng công ty. Từ thực tế đó, em đã quyết định lựa chọn đề tài “Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản (VEGETEXCO)” làm khoá luận tốt nghiệp của mình. Nguyễn Thị Thu Hà 1 Anh 5 - K42B - KTNT
  3. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu Khoá luận tập trung nghiên cứu thực trạng xuất khẩu rau quả của Tổng công ty Rau quả, nông sản, trong đó có đề cập đến những nhân tố ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Tổng công ty, nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Tổng công ty trong xuất khẩu rau quả đồng thời đƣa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu rau quả của Tổng công ty Rau quả, nông sản. Phƣơng pháp nghiên cứu Khoá luận sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ: thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá, dự báo, bảng biểu kết hợp với những kiến thức lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩu để rút ra những kết luận và đề xuất chủ yếu. Cấu trúc của khoá luận Khoá luận gồm ba chƣơng:  Chƣơng 1: Tổng quan hoạt động xuất khẩu rau quả Việt Nam.  Chƣơng 2: Thực trạng xuất khẩu rau quả của Tổng công ty Rau quả, nông sản  Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể các cán bộ giảng dạy và công tác tại trƣờng Đại học Ngoại thƣơng Hà Nội đã hết lòng dạy dỗ và giúp đỡ em trong suốt thời gian qua. Xin cảm ơn các bác, các cô chú công tác tại Tổng công ty Rau quả, nông sản đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi tìm hiểu và cung cấp các dữ liệu thống kê cần thiết để hoàn thành khoá luận này. Đặc biệt em xin gửi tới cô giáo ThS. Đào Thị Thu Giang, ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn em hoàn thành tốt bản khoá luận này lời cảm ơn sâu sắc nhất. Nguyễn Thị Thu Hà 2 Anh 5 - K42B - KTNT
  4. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản CHƢƠNG I TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ VIỆT NAM 1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ RAU QUẢ XUẤT KHẨU VIỆT NAM 1.1.1. Vị trí của rau quả trong nền kinh tế quốc dân Rau quả không chỉ là sản phẩm thiết yếu trong cơ cấu bữa ăn của dân cƣ mà trong xu thế thu nhập và đời sống dân cƣ ngày càng đƣợc cải thiện nhanh, nó còn là sản phẩm để nâng cao đời sống. Dân số quốc gia ngày càng tăng, đời sống xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu, đòi hỏi về khối lƣợng, chất lƣợng rau quả cũng lớn hơn, tốt hơn. Hiện nay, xu hƣớng tiêu dùng trong tƣơng lai của nhiều quốc gia trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam có sự thay đổi lớn, tức là tăng dinh dƣỡng bằng thực vật và các loại sinh tố khác có trong rau quả, sử dụng đồ uống pha trộn nhiều nƣớc quả nguyên chất, mặt khác giảm tiêu dùng các loại thực phẩm nhiều chất béo, tinh bột… Sự tiêu dùng một số loại rau quả đặc sản còn đƣợc coi là một dấu hiệu của đời sống cao. Điều này có thể lý giải tại sao các nƣớc công nghiệp phát triển lại sản xuất, tiêu dùng ngày càng nhiều các loại rau quả, cũng nhƣ nhập khẩu ngày càng nhiều để đáp ứng đủ nhu cầu. Trong điều kiện đó, Việt Nam đã đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu rau quả, đƣa sản xuất và xuất khẩu rau quả trở thành một trong những ngành quan trọng trong phát triển kinh tế của mình. Việt Nam có điều kiện khí hậu và thổ nhƣỡng khá thuận lợi cho việc trồng trọt các loại rau, hoa, quả để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc và xuất khẩu. Phát triển sản xuất và xuất khẩu các loại rau, hoa, quả để thay thế cho những cây trồng khác có hiệu quả kinh tế thấp, qua đó mà chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần vào tăng trƣởng xuất khẩu hàng hoá của cả nƣớc là rất cần thiết. Hơn nữa, đây lại là một lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa xã hội và nhân văn rất to lớn, góp phần xóa đói giảm nghèo cho một bộ phận xã hội quan trọng với 70% là Nguyễn Thị Thu Hà 3 Anh 5 - K42B - KTNT
  5. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản nông dân, đời sống còn rất khó khăn, diện tích đất canh tác đang bị thu hẹp. Do vậy, việc tập trung sức để phát triển cho đƣợc ngành này đi lên lại càng có ý nghĩa kinh tế, chính trị xã hội cực kỳ quan trọng. 1.1.2. Đặc điểm của rau quả xuất khẩu Việt Nam Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên các loại thực vật, rau quả cũng nhƣ các sản phẩm lƣơng thực rất phong phú và đa dạng. Ở nƣớc ta, nghề trồng rau quả đã hình thành từ rất lâu cùng với sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp. Song song với việc phát triển sản xuất lƣơng thực, phát triển rau quả cũng là khai thác một lợi thế khác của đất nƣớc, đồng thời đáp ứng đƣợc nhu cầu thiết yếu ngày càng tăng của đời sống nhân dân. Rau quả là sản phẩm nông nghiệp mang những đặc điểm khác với các sản phẩm của các ngành khác. Nói chung sản phẩm rau quả xuất khẩu đƣợc chia thành hai dạng: rau quả tƣơi và rau quả chế biến. Rau quả tươi: Rau quả tƣơi là sản phẩm tƣơi nên vẫn giữ nguyên đƣợc hàm lƣợng chất dinh dƣỡng, mang lại những hƣơng vị đặc trƣng của rau quả nhiệt đới. Nhƣng rau quả tƣơi lại là mặt hàng dễ hỏng; không để đƣợc lâu; khai thác theo thời vụ và phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu, đất đai; chất lƣợng giảm mạnh nếu không đƣợc bảo quản tốt sau khi thu hoạch. Rau tƣơi xuất khẩu của Việt Nam còn ít và chủng loại chƣa phong phú và trƣớc mắt chƣa có khả năng xuất khẩu với khối lƣợng lớn vì rau quả xuất khẩu dƣới dạng tƣơi ngoài việc cần có giống tốt đảm bảo chất lƣợng màu sắc, hƣơng vị phù hợp nhu cầu của khách hàng, đòi hỏi có đầu tƣ lớn: thiết bị lạnh tiên tiến đảm bảo rau quả không bị mất nƣớc, kho chứa và phƣơng tiện vận chuyển lạnh. Các loại rau tƣơi xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là cải bắp, cải xanh, ngô ngọt, cà tím, các loại đậu, khoai tây… Nguyễn Thị Thu Hà 4 Anh 5 - K42B - KTNT
  6. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản Trái lại, hoa quả tƣơi xuất khẩu có phần ngày càng đa dạng về chủng loại. Chuối là mặt hàng xuất khẩu từ lâu, có thể nói là truyền thống với số lƣợng và chất lƣợng xuất khẩu khá ổn định do áp dụng kỹ thuật trồng bằng cây giống nuôi cấy mô. Ngoài ra còn có: xoài, thanh long, nhãn, bƣởi… Rau quả chế biến: Rau quả chế biến có thể giữ đƣợc lâu dài, thuận lợi trong việc sử dụng, vận chuyển, nhƣng hƣơng vị bị giảm sút so với rau quả tƣơi, giá thành lại cao hơn do đã qua chế biến. Rau quả chế biến có thể chia thành hai loại: sơ chế hay chế biến thủ công và chế biến công nghiệp. Sơ chế và chế biến thủ công: các công đoạn chế biến đƣợc tiến hành đơn giản, mang nhiều tính chất thủ công nhƣ: phơi, sấy khô, muối, ép nƣớc hoa quả, nƣớc cô đặc, mứt ô mai... Sơ chế và chế biến thủ công rau quả ở Việt Nam đƣợc tiến hành với tỷ trọng nhỏ dùng cho công nghiệp thực phẩm và xuất khẩu. Chế biến công nghiệp: Các công đoạn chế biến đƣợc tiến hành chủ yếu bằng dây chuyền máy móc và có các công nghệ chế biến chủ yếu: đông lạnh, đóng hộp, ép nƣớc, nƣớc quả cô đặc, hoa quả nghiền. Chế biến công nghiệp ở Việt Nam đƣợc lƣu ý và tiến hành từ lâu song tính đến nay số rau quả tƣơi đƣợc chế biến công nghiệp vẫn còn hạn chế. Việt Nam là nƣớc có nhiều quả nhiệt đới có thể chế biến thành nƣớc quả và nƣớc cô đặc với chủng loại phong phú đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng thế giới nhƣ: dứa, đu đủ, xoài, chôm chôm, sữa dừa, cam, táo, ổi, mãng cầu, dâu tây, dƣa hấu, thanh long. 1.1.3. Vai trò của xuất khẩu rau quả Rau quả là loại sản phẩm rất cần thiết cho con ngƣời, và nhu cầu về rau quả là nhu cầu thƣờng xuyên, liên tục và không thể thiếu đƣợc. Với tình hình dân số thế giới ngày càng tăng, đời sống xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu và đòi hỏi về khối lƣợng, chất lƣợng rau quả cũng lớn hơn, tốt hơn. Việt Nguyễn Thị Thu Hà 5 Anh 5 - K42B - KTNT
  7. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản Nam là một nƣớc nông nghiệp với khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thích hợp cho các loại cây trồng phát triển, đặc biệt là các loại cây ăn trái và các loại rau, cùng với lực lƣợng lao động dồi dào, nƣớc ta hoàn toàn có lợi thế trong sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm từ nông nghiệp mà rau quả là một trong những mặt hàng cần đƣợc phát triển để khai thác tối đa những lợi thế có sẵn. Việc đặt nền sản xuất nông nghiệp nƣớc ta trong quan hệ với thị trƣờng trong nƣớc cũng nhƣ thị trƣờng ngoài nƣớc sẽ đem lại nhiều lợi ích to lớn. Chính vì vậy, xuất khẩu rau quả có vai trò hết sức quan trọng. Điều đó thể hiện ở các mặt sau: Thứ nhất, xuất khẩu rau quả là một trong những giải pháp quan trọng tạo nguồn ngoại tệ mạnh phục vụ cho sự phát triển kinh tế. Việt Nam là nƣớc kinh tế đang phát triển trong đó nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Muốn đẩy nhanh phát triển kinh tế phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế. Điều đó đòi hỏi phải có vốn, có thiết bị, máy móc, công nghệ sản xuất tiên tiến. Trong điều kiện kinh tế chƣa phát triển, muốn có thiết bị, máy móc và công nghệ tiên tiến cần phải nhập từ nƣớc ngoài, nghĩa là cần phải có ngoại tệ. Thứ hai, xuất khẩu rau quả tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng khai thác các nguồn lợi tự nhiên, tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập cho ngƣời lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xoá đói giảm nghèo và giải quyết các vấn đề xã hội khác ở nông thôn. Sau những năm đổi mới, sản xuất rau quả nƣớc ta có bƣớc phát triển về chất. Điều đó không chỉ biểu hiện ở lƣợng rau quả sản xuất ra ngày càng tăng mà còn biểu hiện ở việc tạo thêm nhiều việc làm trong nông nghiệp, nông thôn, thu nhập của các tầng lớp trong nông thôn ngày càng tăng, đói nghèo đang từng bƣớc đƣợc khắc phục. Đó là những thành tựu rất cơ bản và cũng rất quan trọng của ngành rau quả nƣớc ta trong những năm vừa qua. Nguyễn Thị Thu Hà 6 Anh 5 - K42B - KTNT
  8. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản Thứ ba, xuất khẩu rau quả góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất rau quả, nhờ bán đƣợc sản phẩm rau quả với giá cả cao hơn. Cơ sở kinh tế của xu hƣớng đó là lợi ích của các tác nhân khi tham gia vào quá trình đó thƣờng lớn hơn khi không tham gia vào giao thƣơng quốc tế. Trong đó, nhóm các nƣớc nhập khẩu nông sản tìm cách xuất khẩu tƣ bản, tìm môi trƣờng đầu tƣ có lợi về mặt tài chính, nhóm các nƣớc xuất khẩu nông sản tìm cách khai thác lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ… để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong nhiều trƣờng hợp do xuất khẩu nông sản ở dạng thô nên hiệu quả chƣa thật cao. Nhƣng nếu không xuất khẩu nông sản, lƣợng tiêu thụ trong nƣớc tăng sẽ làm giá cả giảm sút. Hiệu quả sản xuất nông nghiệp sẽ bị giảm mạnh. Đẩy mạnh xuất khẩu rau quả là đòn bẩy để kích thích sản xuất nông nghiệp phát triển. Trong điều kiện khả năng thanh toán trong nƣớc chƣa cao, khả năng tiêu thụ sản phẩm rau quả chƣa lớn, thì với một lƣợng rau quả sản xuất ra chƣa nhiều nhƣ hiện nay song đã có tình trạng “thừa” sản phẩm. Nếu tiếp tục khuyến khích sản xuất, thì tình trạng ế thừa càng có nguy cơ trầm trọng hơn. Do đó, cần thiết phải mở rộng xuất khẩu sang thị trƣờng thế giới để có thể mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế. Thứ tƣ, đẩy mạnh xuất khẩu rau quả cũng là đòn bẩy để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hƣớng công nghiệp hoá hƣớng về xuất khẩu. Ngày nay, nông dân có thể trồng các loại cây trồng phi lƣơng thực nhƣng lại giải quyết đƣợc vấn đề lƣơng thực với hiệu quả cao hơn. Hàng vạn hộ nông dân vùng trung du và miền núi phía Bắc đã trồng vải, trồng mận trên đất mà trƣớc kia họ trồng ngô, sắn… Với việc xuất khẩu rau quả, vừa đáp ứng đƣợc nhu cầu về rau quả cho thị trƣờng trong và ngoài nƣớc, vừa đảm bảo vấn đề lƣơng thực của ngƣời nông dân và đem lại cho họ nguồn thu nhập để nâng cao đời sống. Thứ năm, xuất khẩu rau quả góp phần tạo mở các mối quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho quan hệ kinh tế chính trị chủ động hơn. Một số nƣớc kinh Nguyễn Thị Thu Hà 7 Anh 5 - K42B - KTNT
  9. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản tế phát triển đã sử dụng xuất khẩu nông sản, xuất khẩu rau quả nói riêng làm con bài chính trị trong các quan hệ đối ngoại. Vì vậy, giải quyết tốt nhu cầu về nông sản là điều quan trọng để ổn định xã hội, giữ vững chủ quyền dân tộc. Điều này cho thấy, xuất khẩu nông sản có vai trò to lớn không chỉ với các nƣớc kinh tế phát triển mà cả các nƣớc chậm phát triển. 1.2. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU RAU QUẢ VIỆT NAM 1.2.1. Thuận lợi 1.2.1.1. Điều kiện tự nhiên Về vị trí địa lý: Việt Nam nằm ở vòng cung Châu Á - Thái Bình Dƣơng, là nơi đang diễn ra những dòng giao lƣu kinh tế sôi động và hứa hẹn những bƣớc phát triển trong tƣơng lai. Nằm trên các tuyến giao thông quốc tế quan trọng với hệ thống cảng biển, là cửa ngõ không chỉ cho nền kinh tế Việt Nam mà còn cho các quốc gia khác. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam có thể xuất khẩu rau quả tƣơi đi hầu hết các thị trƣờng lớn của thế giới, đặc biệt là thị trƣờng vùng Đông Bắc Á, với thời gian vận chuyển ngắn, chi phí thấp. Đây là lợi thế so với các nƣớc nằm sâu trong lục địa hoặc nằm ở những nơi ít diễn ra các hoạt động thƣơng mại quốc tế trên biển. Lợi thế về địa lý đã và đang đƣợc nƣớc ta khai thác để phát triển thƣơng mại quốc tế. Về khí hậu: Việt Nam với nhiều vùng tiểu khí hậu khác nhau, phần lớn mang tính chất nhiệt đới, một phần mang tính chất cận nhiệt đới và ôn đới, đã hình thành các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau với những sản phẩm rau quả đa dạng, đƣợc trồng khắp các vùng trong cả nƣớc. Khí hậu nƣớc ta có thể chia thành ba miền khí hậu nhƣ sau: Miền Bắc có bốn mùa trong năm, có mùa đông rõ rệt thích hợp cho các cây cận nhiệt đới và nhiệt đới nhƣ: nhãn, vải, Nguyễn Thị Thu Hà 8 Anh 5 - K42B - KTNT
  10. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản cam…, cũng có thể phát triển các loại rau quả mang tính ôn đới nhƣ cà chua, khoai tây, rau ăn lá; Miền Nam có nhiệt độ quanh năm luôn ổn định, ít biến động, có hai mùa khô và mùa mƣa rất thích hợp cho các loại cây nhiệt đới cận xích đạo nhƣ các cây ăn quả: thanh long, dƣa hấu, xoài, dứa, chuối, mít …; Miền Trung có khí hậu trung gian giữa hai miền Bắc Nam, mùa mƣa đến chậm thích hợp với các loại cây nhiệt đới (dứa…). Sự khác nhau về khí hậu giữa các miền và trong từng vùng tạo thuận lợi cho nƣớc ta phát triển một nền nông nghiệp đa canh với sản phẩm nông nghiệp phong phú, đa dạng. Về đất đai: Diện tích đất cả nƣớc vào khoảng 330.363 km2 trong đó có tới 50% là đất nông nghiệp và ngƣ nghiệp. Điều kiện khí hậu nhiệt đới, mƣa nắng điều hoà đã giúp cho đất đai trở nên màu mỡ và có độ ẩm lớn. Đây là một thuận lợi đáng kể cho việc gieo trồng các loại rau và phát triển cây ăn quả. Đặc biệt là các loại cây vừa ƣa nhiệt, vừa ƣa ẩm nhƣ chuối, dừa, xoài… Nói chung, chất lƣợng đất đai của nƣớc ta rất tốt, phong phú về chủng loại, đất có tầng canh tác dày, kết cấu tơi xốp, chất dinh dƣỡng khá cao cho phép phát triển các loại rau, quả phong phú. 1.2.1.2. Lao động Nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ cũng là một lợi thế đáng kể trong việc sản xuất và xuất khẩu rau quả ở nƣớc ta. Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp với 50% dân số đang ở tuổi lao động. Đây là một lực lƣợng lao động dồi dào cung cấp cho các ngành sản xuất nói chung và ngành sản xuất, chế biến, xuất khẩu rau quả nói riêng. Và đặc biệt nông dân nƣớc ta có nhiều kinh nghiệm trong canh tác vƣờn quả, ruộng rau. Theo nguyên lý lợi thế so sánh: một nƣớc sẽ sản xuất và xuất khẩu những loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tƣơng đối sẵn có của nƣớc đó. Ngành sản xuất và chế biến rau quả sử dụng nhiều lao động trong tất cả các khâu: gieo trồng, chăm sóc, chế biến… bởi vì, về cơ bản sản xuất nông nghiệp Nguyễn Thị Thu Hà 9 Anh 5 - K42B - KTNT
  11. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản ở nƣớc ta vẫn mang nặng tính chất thủ công, việc áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất còn rất hạn chế nên cần số lƣợng lao động lớn. Mặt khác, giá nhân công ở Việt Nam rẻ hơn rất nhiều so với các nƣớc cũng góp phần làm cho giá thành rau quả ở nƣớc ta thấp hơn các sản phẩm cùng loại trên thế giới. Bên cạnh nguồn lao động dồi dào, cả nƣớc còn có độ ngũ cán bộ quản lý, cán bộ nghiên cứu, đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề có khả năng đảm đƣơng các khâu trọng yếu trong sản xuất - chế biến - lƣu thông - xuất khẩu rau quả. 1.2.1.3. Thị trường xuất khẩu Cùng với quá trình phát triển khoa học kỹ thuật, con ngƣời ngày càng sử dụng đa dạng và triệt để hơn các sản phẩm rau quả. Theo Tổ chức lƣơng nông LHQ (FAO), nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thế giới tăng bình quân 3,6%/năm, nhƣng mức cung chỉ tăng 2,8%/năm [19]. Nhƣ vậy đối với thị trƣờng rau quả thế giới, cung vẫn chƣa đáp ứng đƣợc cầu. Điều này cũng cho thấy thị trƣờng xuất khẩu rau quả có nhiều tiềm năng. Đây chính là cơ hội cho các nƣớc xuất khẩu rau quả trong đó có Việt Nam. Những nƣớc có mùa đông lạnh giá không sản xuất đƣợc rau quả nhƣ SNG, Đông Âu, Bắc Âu hoặc những nƣớc và khu vực tuy khí hậu cho phép sản xuất rau quả nhƣng thiếu đất, thiếu lao động do lao động bị các ngành công nghiệp, dịch vụ thu hút nhƣ Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore là những thị trƣờng cần nhập khẩu rau quả với số lƣợng lớn. Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ rau quả, các nƣớc đó phải nhập khẩu rau quả. Có nƣớc hàng năm nhập khẩu hàng triệu tấn rau quả nhƣ: Đức, Pháp, Mỹ, Canada, Nga, Tây Ban Nha. Đây là thị trƣờng xuất khẩu tiềm năng cho những nƣớc có lợi thế về trồng rau quả nhƣ nƣớc ta. Một số nƣớc trƣớc đây sản xuất nhiều rau quả nhƣng gần đây có xu hƣớng giảm dần cả về diện tích, sản lƣợng và các chủng loại rau quả. Điều đó càng làm cho cung về rau quả trên thị trƣờng giảm xuống, cầu về rau quả ngày càng tăng. Tình hình trên đã và đang là những vấn đề bức xúc đối với thị Nguyễn Thị Thu Hà 10 Anh 5 - K42B - KTNT
  12. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản trƣờng rau quả thế giới, đồng thời tạo ra những lợi thế lớn cho việc phát triển ngành sản xuất, xuất khẩu rau quả nƣớc ta, trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong tƣơng lai. 1.2.1.4. Chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước Chính sách đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nƣớc đƣợc xem nhƣ một trong những lợi thế có vai trò quyết định đối với thành công của hoạt động xuất nhập khẩu thông qua các chủ trƣơng chính sách điều tiết, quản lý nền kinh tế, điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các chính sách ban hành đã tạo ra những thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, cũng nhƣ xuất khẩu rau quả nói riêng. Trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, lƣu thông và xuất khẩu nông sản trong đó có rau quả, từ khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trƣờng có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nƣớc, Chính phủ đã không ngừng ban hành, sửa đổi, bổ sung những chính sách kinh tế nhằm thúc đẩy sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế. Đặc biệt, hệ thống chính sách cơ chế hợp lý có tác động tích cực thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất và xuất khẩu, nâng cao lợi thế cạnh tranh của sản phẩm rau quả xuất khẩu trên thị trƣờng thế giới. Đảng và Nhà nƣớc ta đã có nhiều chủ trƣơng, chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nhƣ chủ trƣơng tự do hoá thƣơng mại, đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi…Nhƣ vậy, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp vừa là phƣơng thức, vừa là động lực của quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, nó tạo điều kiện cho các vùng ở trung du, miền núi chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ trồng cây lƣơng thực sang trồng rau quả phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu. Chủ trƣơng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá, theo hƣớng xuất khẩu đƣợc coi là một lợi thế cuả nƣớc ta trong sản xuất và xuất khẩu rau quả. Nguyễn Thị Thu Hà 11 Anh 5 - K42B - KTNT
  13. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản 1.2.2. Khó khăn 1.2.2.1. Kỹ thuật và công nghệ sản xuất- chế biến rau quả Nhìn chung, sản phẩm rau quả xuất khẩu của Việt Nam phần lớn vẫn ở dạng thô, nguyên liệu và thu gom từ các vùng lãnh thổ khác nhau nên chất lƣợng hàng hoá thấp và không đồng đều. Việc sản xuất rau quả vẫn còn nhiều bất cập nhƣ diện tích còn manh mún, chƣa hình thành các vùng tập trung lớn để cung cấp sản phẩm ổn định cho thị trƣờng. Bên cạnh đó, hệ thống giống rau quả của nƣớc ta chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của sản phẩm xuất khẩu, thiếu các giống rau quả mà bên trong có hƣơng vị đặc trƣng, bên ngoài có độ cảm quan hấp dẫn, có độ đồng đều cao. Trong khi đó, nếu nhập giống của nƣớc ngoài sẽ quá đắt và làm tăng giá thành sản phẩm, do đó giá bán cũng tăng cao và làm giảm sức cạnh tranh của rau quả xuất khẩu Việt Nam. Hệ thống bảo quản rau quả còn hạn chế, kỹ thuật bảo quản rau quả tƣơi chủ yếu vẫn sử dụng kinh nghiệm cổ truyền, thủ công. Do công tác bảo quản không tốt nên chi phí cho một đơn vị sản phẩm rau quả xuất khẩu thƣờng vƣợt định mức cho phép. Cũng do chƣa có công nghệ và phƣơng tiện thích hợp để bảo quản sau thu hoạch nên tỷ lệ hƣ hỏng cao. Kỹ thuật bảo quản mới thực hiện ở mức đóng gói bao bì và lƣu giữ tại cảng bằng kho mát chuyên dùng. Tuy vậy, khâu đóng gói và bao bì vẫn chƣa đạt yêu cầu, qui cách, mẫu mã còn xấu, công nghệ lạnh trong bảo quản chƣa đƣợc áp dụng tốt. Công nghệ chế biến còn quá lạc hậu, chủ yếu đƣợc hình thành trong “cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp” nên hầu hết các trang thiết bị, máy móc và công nghệ đã lạc hậu hàng chục thế hệ, không thích hợp với nền kinh tế thị trƣờng hiện nay. Các xí nghiệp, kho tàng, bến bãi, máy móc thiết bị cồng kềnh nhƣng kém hiệu quả, các định mức tiêu hao nguyên- nhiên- vật liệu thƣờng rất cao, mà sản phẩm sản xuất ra chất lƣợng lại thấp. Tuy có nhiều doanh nghiệp rất tích cực đổi mới công nghệ, nhƣng nguồn vốn hạn hẹp, nên thƣờng sử dụng chắp vá, không đồng bộ và kèm theo đó là tổ chức Nguyễn Thị Thu Hà 12 Anh 5 - K42B - KTNT
  14. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản sản xuất và bộ máy quản lý cồng kềnh, bất cập với công nghệ, đang là những cản lực trong cạnh tranh. 1.2.2.2. Sự hạn chế trong việc xâm nhập, tạo lập và ổn định thị trường Các doanh nghiệp Việt Nam tham gia hoạt động kinh doanh xuất khẩu trong bối cảnh thị trƣờng thế giới đã đƣợc phân chia và sự phân công lao động quốc tế đã đƣợc xác lập tƣơng đối ổn định. Các doanh nghiệp Việt Nam còn non trẻ đã phải chấp nhận cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia hoặc với công ty hay doanh nghiệp lớn nhiều kinh nghiệm trên thƣơng trƣờng. Mặt khác là sự yếu kém của chúng ta trong công tác tổ chức thông tin chƣa kịp thời, thiếu đồng bộ, chất lƣợng không cao. Bên cạnh đó trình độ tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động xuất nhập khẩu và khả năng tiếp thị của các doanh nghiệp còn yếu. 1.2.2.3. Tổ chức thu mua Do thiếu tổ chức hợp tác hợp lực một cách chặt chẽ nên hiện nay có quá nhiều doanh nghiệp của trung ƣơng và địa phƣơng, của nhiều ngành nhiều cấp quản lý trên một vùng lãnh thổ cùng tham gia sản xuất kinh doanh, xuất khẩu một ngành hàng, một mặt hàng. Nhƣng không có sự hình thành rõ quan hệ ngành hàng (giữa sản xuất- chế biến- lƣu thông tiêu thụ), vẫn trong tình trạng nhiều nhƣng mà thiếu, đông nhƣng không mạnh, thiếu sự hƣớng dẫn, điều hành, phân công và sự phối kết hợp trong hoạt động kinh doanh đã dẫn đến tình trạng lộn xộn trên thị trƣờng mỗi khi có nhu cầu hàng cho xuất khẩu mạnh ai nấy làm, phân tán cục bộ, tranh mua tranh bán, làm suy yếu lẫn nhau… Hậu quả xảy ra là giá mua trong nƣớc bị đẩy lên cao và giá bán ở thị trƣờng nƣớc ngoài bị đẩy xuống, gây thiệt hại đến lợi ích xã hội và ngƣời sản xuất. 1.2.2.4. Môi trường kinh tế Tuy trong lĩnh vực xuất nhập khẩu Nhà nƣớc đã có nhiều chính sách ban hành nhằm khuyến khích tạo điều kiện mở rộng các hoạt động thƣơng Nguyễn Thị Thu Hà 13 Anh 5 - K42B - KTNT
  15. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản mại, nhƣng do cơ chế quản lý kinh tế nói chung và quản lý xuất nhập khẩu nói riêng thay đổi thƣờng xuyên làm cho các doanh nghiệp không kịp xoay xở, bị động, lúng túng, thậm chí không xác định rõ phƣơng hƣớng hoạt động của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp chƣa thật sự yên tâm bỏ vốn đầu tƣ mở rộng sản xuất kinh doanh hàng rau quả xuất khẩu. Tóm lại, nhận thức đầy đủ những lợi thế và bất lợi trong sản xuất và kinh doanh rau quả là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng để chủ động và tự tin hơn trong quá trình chỉ đạo sản xuất và thị trƣờng. Vấn đề là làm sao kết hợp đƣợc các lợi thế so sánh, phát huy tối đa hiệu quả của chúng. Muốn vậy đòi hỏi sự nỗ lực của cả xã hội và sự kết hợp chặt chẽ của các ngành các cấp, các đơn vị sản xuất, đặc biệt là vai trò điều tiết của Chính phủ, nhằm chủ động tạo lập và xây dựng các chiến lƣợc về mặt hàng xuất khẩu, ngành hàng xuất khẩu và thị trƣờng xuất khẩu chủ lực, để có thể từ những lợi thế tạo ra sức cạnh tranh cao cho mỗi sản phẩm rau quả của Việt Nam trên thị trƣờng thế giới. 1.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ VIỆT NAM 1.3.1. Kim ngạch xuất khẩu Những năm vừa qua, thị trƣờng rau quả có xu hƣớng phát triển nhanh. Xu hƣớng hội nhập cũng tạo điều kiện mở rộng thị trƣờng và là điều kiện tốt cho xuất khẩu rau quả phát triển. Bảng 1. Kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam, 1990-2006 Năm Tổng KNXK Chỉ số phát triển Tỷ trọng KNXK của rau quả KNXK rau quả KNXKRQ/TổngKNXK Việt Nam (triệu (năm (%) (triệu USD) USD) trƣớc=100)% 1990 2404,0 52,3 2,18 1991 2087,1 33,2 63,5 1,59 Nguyễn Thị Thu Hà 14 Anh 5 - K42B - KTNT
  16. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản 1992 2580,7 32,3 97,3 1,25 1993 2.985,2 23,6 73,1 0,79 1994 4.054,3 20,8 88,1 0,51 1995 5.448,9 56,1 269,7 1,03 1996 7.255,8 90,2 160,8 1,24 1997 9.185,0 71,2 78,9 0,78 1998 9.360,3 56,2 78,9 0,60 1999 11.541,4 106,6 189,7 0,92 2000 14.482,7 213,1 199,9 1,47 2001 15.029,2 330,0 154,9 2,20 2002 16.706,1 221,2 67,0 1,32 2003 20.149,3 151,5 68,5 0,75 2004 26.485,0 177,7 117,3 0,67 2005 32.447,1 235,5 132,5 0,73 2006 39.826,2 259,1 110,0 0,65 Nguån: Niªn gi¸m thèng kª – Tæng côc Thèng kª BiÓu ®å 1. Kim ng¹ch xuÊt khÈu rau qu¶ ViÖt Nam giai ®o¹n 1990-2006 350 300 250 200 150 100 50 0 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 00 01 02 03 04 05 06 19 19 19 19 19 19 19 19 19 19 20 20 20 20 20 20 20 KNXK (TriÖu USD) Số liệu bảng 1 và biểu đồ 1 cho thấy từ năm 1990 đến 1994, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam liên tục giảm sút, từ 52,3 triệu USD năm 1990 xuống còn 33,2 triệu USD năm 1991, 32,3 triệu USD năm 1992, 23,6 Nguyễn Thị Thu Hà 15 Anh 5 - K42B - KTNT
  17. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản triệu USD năm 1993 và 20,8 triệu USD năm 1994. Có 3 nguyên nhân chủ yếu làm cho kim ngạch xuất khẩu rau quả bị giảm sút. Một, thị trờng xuất khẩu chủ yếu của rau quả Việt Nam là Liên Xô (cũ) và các nớc Đông Âu bị khủng hoảng sau khi thay đổi chế độ. Hai, Việt Nam thời kỳ này còn đang bị bao vây, cấm vận, nên xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang các thị trờng mới còn hạn chế. Ba, Việt Nam còn đang tập trung vào việc giải quyết an ninh lơng thực ở trong nớc và xuất khẩu gạo, bớc đầu phát triển nông nghiệp toàn diện để khắc phục thiếu hụt các nông sản ngoài lơng thực, cha có điều kiện đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu rau quả. Năm 1995, xuất khẩu rau quả đã tăng khá và đạt đỉnh cao nhất so với trƣớc đó vào năm 1996 với kim ngạch đạt 90,2 triệu USD. Tuy nhiên, lại bị giảm sút mạnh vào hai năm 1997-1998 xuống chỉ còn 56,2 triệu USD năm 1998. Sự phục hồi của kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn này là do sự mở rộng và phát triển của các thị trƣờng mới nhƣ Đông Nam Á. Đồng thời, giai đoạn này cũng chuyển sang tự do hoá xuất khẩu, cho phép các nhà xuất khẩu tƣ nhân tự do tìm kiếm thị trƣờng và các sản phẩm xuất khẩu mới. Đặc biệt, xuất khẩu rau quả bắt đầu đƣợc chú trọng vì có tiềm năng khai thác lớn. Trong giai đoạn 1998-2001, kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng nhanh và tăng liên tục, đạt đỉnh cao nhất vào năm 2001 với giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 330 triệu USD. Nguyên nhân chính là do thị trƣờng xuất khẩu rau quả chủ yếu là Trung Quốc đã gia tăng mạnh và một số thị trƣờng khác cũng tăng lên. Trong 2 năm 2002-2003, kim ngạch xuất khẩu rau quả bị sút giảm mạnh, chủ yếu do xuất khẩu vào thị trƣờng Trung Quốc bị sút giảm ảnh hƣởng tới hoạt động xuất khẩu rau quả của nƣớc ta. Năm 2003, giá trị xuất khẩu chỉ dừng ở mức rất thấp là 151,5 triệu USD. Từ năm 2004 đến nay, kim ngạch xuất khẩu rau quả đã có dấu hiệu phục hồi. Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu đạt 235,5 triệu USD, tăng 32,5% so Nguyễn Thị Thu Hà 16 Anh 5 - K42B - KTNT
  18. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản với năm 2004 (177,7 triệu USD), năm 2006 đạt 259,1 triệu USD, tăng 10% so với năm 2005 [26]. Theo số liệu thống kê (bảng 2), kim ngạch xuất khẩu rau quả cả nƣớc trong tháng 7/2007 đạt 22.542.139 USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả trong 7 tháng đầu năm 2007 lên 179.339.903 USD, tăng 17,85% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu rau quả trong tháng 7/2007 lại giảm 15,3% so với tháng 6/2007 [27]. Đến năm 2010, Việt Nam phấn đấu tăng kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả này lên 600-700 triệu USD, đạt tốc độ tăng trƣởng kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 2006-2010 là 23-25%/năm và đạt kim ngạch khoảng 700 triệu USD vào năm 2010 [30]. Nguyễn Thị Thu Hà 17 Anh 5 - K42B - KTNT
  19. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản Bảng 2. Kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả sang các thị trƣờng trong tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2007 Tên nƣớc Kim ngạch xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng 7/2007 (USD) tháng đầu năm 2007 (USD) CH Ailen 268.362 Ấn Độ 155.784 1.698.940 Anh 235.103 2.262.800 Ả rập Xê út 92.867 353.940 Ba Lan 69.966 408.573 Bỉ 117.985 1.687.075 Braxin 343.030 Tiểu Vƣơng quốc Ả Rập 513.815 2.615.632 thống nhất Campuchia 80.599 1.043.450 Canada 361.349 2.642.450 Đài Loan 2.257.012 14.328.720 CHLB Đức 569.601 3.313.144 Hà Lan 1.165.054 6.081.440 Hàn Quốc 648.950 7.783.412 Hồng Kông 573.510 4.102.710 Hy Lạp 25.600 461.393 Indonesia 215.696 1.267.806 Italia 296.918 2.926.850 Malaysia 505.097 3.018.900 Mỹ 1.460.064 11.192.002 Na Uy 106.215 456.852 CH Nam Phi 27.172 229.835 Niu zi lân 44.045 248.880 Liên Bang Nga 1.841.894 13.081.659 Nhật Bản 2.162.866 16.079.205 Ôxtrâylia 248.834 2.440.750 Pháp 389.677 2.469.940 Philipines 227.650 CH Séc 45.382 522.781 Singapore 716.808 5.775.990 Tây Ban Nha 330.365 990.890 Thái Lan 318.390 4.052.204 Thổ Nhĩ Kỳ 115.000 312.295 Thuỵ Điển 49.308 667.950 Thuỵ Sĩ 59.536 337.960 Trung Quốc 900.972 14.432.090 Ucraina 191.153 1.106.981 Tổng 22.542.139 179.339.903 Nguyễn Thị Thu Hà 18 Anh 5 - K42B - KTNT
  20. Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu rau quả tại Tổng công ty Rau quả, nông sản Nguồn: Vinanet (tổng hợp) 1.3.2. Nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu Nhóm hàng rau quả xuất khẩu bao gồm rau quả tƣơi, rau quả đông lạnh, rau quả đóng hộp và rau quả sấy, muối. Trong đó, nhóm rau quả hộp chiếm tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cao nhất, nhóm hàng rau quả đông lạnh và nhóm hàng rau quả tƣơi có xu hƣớng giảm do thiếu các thiết bị bảo quản nhƣ hệ thống đông lạnh. Các loại quả xuất khẩu chủ yếu là dứa, chuối, xoài, vải, dƣa hấu, nhãn, thanh long và chôm chôm. Các loại rau xuất khẩu chủ yếu là bắp cải, dƣa chuột, hành, cà chua, đậu, súp lơ và ớt. Những năm gần đây, do sự biến động về thị trƣờng xuất khẩu của Việt Nam có sự thay đổi đáng kể. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2000 đối với toàn thế giới nhƣ sau: rau quả tƣơi (chiếm 26,3% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả), rau quả khô (chiếm 50,6%) và rau quả chế biến (chiếm 23,1%). Nhƣ vậy, có thể thấy tỷ lệ rau quả tƣơi xuất khẩu vẫn chiếm tỷ lệ tƣơng đối hạn chế so với số lƣợng rau quả khô và chế biến. Mặt hàng chuối: Xuất khẩu chuối bắt đầu phát triển từ năm 1968, nhƣng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. Trƣớc đây, mặt hàng chuối chủ yếu xuất sang thị trƣờng Liên Xô cũ và các nƣớc Đông Âu, tuy nhiên thị trƣờng này không ổn định. Thời kỳ 1980-1990, Việt Nam thực hiện các hiệp định xuất khẩu hiệu quả cho Liên Xô cũ nên lƣợng chuối tƣơi đƣợc dùng cho xuất khẩu khoảng 10.000 tấn/năm. Từ năm 1991, do biến cố chính trị ở Liên Xô cũ nên lƣợng chuối tƣơi và sấy xuất khẩu sang thị trƣờng này giảm. Những năm gần đây, sản lƣợng và giá trị xuất khẩu mặt hàng chuối liên tục có dấu hiệu khởi sắc, đặc biệt chuối xanh đƣợc thu gom và xuất khẩu sang thị trƣờng tiểu ngạch vùng biên Trung Quốc. Mặt hàng dứa: Nguyễn Thị Thu Hà 19 Anh 5 - K42B - KTNT
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2