intTypePromotion=3

Khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hóa doanh nghiệp

Chia sẻ: Cxzvscv Cxzvscv | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:88

0
400
lượt xem
130
download

Khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hóa doanh nghiệp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hóa doanh nghiệp nhằm đánh giá khái quát về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và công ty FPT nói riêng, trong đó coi văn hóa doanh nghiệp như là một biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó, người viết đề xuất một số giải pháp từ phía Nhà nước, các hiệp hội doanh nghiệp và mô hình xây dựng năng lực cạnh tranh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hóa doanh nghiệp

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Tên đề tài: NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TẬP ĐOÀN FPT THÔNG QUA XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP Sinh viên thực hiện : Kiều Thị Hồng Anh Lớp : Nhật 3 Khoá : 41F - KTNT Giáo viên hướng dẫn : Cô Vũ Thị Hạnh HÀ NỘI, 11/2006
  2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp LỜI NÓI ĐẦU Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, việc hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu cho sự phát triển của bất kỳ quốc gia nào. Để xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam đang nỗ lực hết sức để gia nhập WTO. Tháng 11 năm 2006, Việt Nam sẽ trở thành thành viên chính thức của WTO. Khi ấy, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, dù lớn hay nhỏ, đều phải chấp nhận “chung một sân chơi “ về nhiều lĩnh vực. Việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO sẽ mang lại cho các doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội quan trọng để phát triển nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. Sức ép cạnh tranh để giành giật thị trường diễn ra trên phạm vi toàn cầu và ngay trên thị trường nước ta. Vì vậy, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh được đặt ra cấp thiết. Những năm trở lại đây, văn hóa doanh nghiệp ngày càng được chú ý hơn bao giờ hết. Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, các doanh nghiệp cần phải tạo cho mình một dấu ấn riêng để phân biệt với các đối thủ khác. Việc xây dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp tích cực nhằm thu hút nhân sự tốt đang được coi là một trong nhiều cuộc đua của các doanh nghiệp trong lĩnh vực bưu chính, ngân hàng, điện lực…Văn hóa doanh nghiệp tích cực sẽ là nền tảng vững chắc cho việc xây dựng và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khi Việt Nam gia nhập WTO. Với đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng Văn Hoá Doanh Nghiệp”, người viết muốn đưa ra những đánh giá khái quát về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và công ty FPT nói riêng, trong đó coi văn hóa doanh nghiệp như là một biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh. Từ đó, người viết đề xuất một số giải pháp từ phía Nhà nước, các hiệp hội doanh nghiệp và mô hình xây Kiều Thị Hồng Anh 1 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  3. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp dựng văn hóa doanh nghiệp tại công ty FPT để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế . Kết cấu của khóa luận bao gồm 3 chƣơng: Chương I : Tổng quan về năng lực cạnh tranh và văn hóa doanh nghiệp Chương II : Thực trạng, vai trò của Văn hóa doanh nghiệp công ty FPT trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh Chương III: Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của Tập đoàn FPT thông qua xây dựng Văn hóa doanh nghiệp Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Vũ Thị Hạnh - giảng viên bộ môn Giao dịch Thương mại quốc tế Trường Đại học Ngoại Thương, đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình viết khóa luận này. Em cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các tác giả với những bài viết và công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo to lớn. Dù đã có nhiều cố gắng, song sẽ không tránh khỏi những thiếu sót trong bài viết, em kính mong có được sự góp ý của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn. Kiều Thị Hồng Anh 2 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  4. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP I. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1. Khái niệm về cạnh tranh Bàn về khái niệm cạnh tranh, TS Trần Thị Minh Châu định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những người, những tổ chức cùng hoạt động trong một lĩnh vực, nhằm giành lấy những điều kiện có lợi nhất về phía mình.‟‟ [1]. Từ điển Bách Khoa Việt Nam (tập1) định nghĩa về thuật ngữ cạnh tranh trong kinh doanh như sau: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất‟‟. Quan niệm này đã chỉ ra các chủ thể của cạnh tranh là các chủ thể kinh tế và mục đích của họ là nhằm giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất . Giáo trình Kinh tế chính trị học Mác - Lênin định nghĩa: “cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất - kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất - kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa hoặc dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh”. Các quan điểm trên đây tuy có sự khác biệt trong cách diễn đạt nhưng đều có những nét tương đồng về nội dung. Từ đó, có thể đưa ra một quan Kiều Thị Hồng Anh 3 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  5. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp điểm tổng quát sau đây về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường: “ Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản xuất - kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận‟‟. Trong lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh là yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trường và động lực để thúc đẩy sản xuất phát triển. Cạnh tranh lành mạnh có thể là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại, là yếu tố đảm bảo sự đào thải và chọn lọc hiệu quả cho nền kinh tế. Còn cạnh tranh không lành mạnh sẽ phá hoại tính hiệu quả của nền kinh tế thị trường. Ở Việt Nam, trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã có sự thay đổi về tư duy, quan niệm về cạnh tranh và độc quyền. Khái niệm cạnh tranh lành mạnh ngày nay đã được pháp lý hóa trong các luật chống độc quyền, luật bảo hộ cạnh tranh. Trong văn kiện Đại Hội VIII của Đảng cũng ghi rõ: “Cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh. Cạnh tranh vì lợi ích phát triển của đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, thanh toán lẫn nhau‟‟. Cạnh tranh được hiểu trên nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên trong luận văn này người viết chỉ xin đề cập tới cạnh tranh trong phạm vi doanh nghiệp bởi vì doanh nghiệp chính là những chủ thể kinh tế tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là nơi diễn ra quá trình sản xuất, tiêu thụ, cung cầu, mua bán. Doanh nghiệp phát triển bền vững đồng nghĩa với việc quốc gia đó có một nguồn nội lực quan trọng, ổn định cho phát triển kinh tế. Chúng ta đều biết rằng, đối với doanh nghiệp nào cũng vậy, cạnh tranh là vấn đề quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp. Để cạnh tranh, doanh nghiệp phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả của toàn bộ quá trình sản xuất Kiều Thị Hồng Anh 4 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  6. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp kinh doanh, từ nghiên cứu thị trường đến việc áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm …Do vậy nâng cao năng lực cạnh tranh đã trở thành tiền đề, động lực và mục đích trong suốt quá trình phát triển của các doanh nghiệp. 1.2 Quan niệm về năng lực cạnh tranh Có rất nhiều định nghĩa, quan niệm về thuật ngữ “năng lực cạnh tranh‟‟ hay còn gọi là “khả năng cạnh tranh‟‟ hay “sức cạnh tranh‟‟. Đại từ điển do Nguyễn Như Ý chủ biên ( NXB Văn hóa - thông tin ) có định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trường tiêu thụ‟‟ [5]. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài nghiên cứu của khóa luận này, tác giả sẽ tập trung bàn về quan niệm xoay quanh “ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp‟‟. “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của mình so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường một cách lâu dài, nhằm thu lại lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp của mình.‟‟[3] Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp được phản ánh không chỉ qua năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đó cung ứng, mà còn bằng năng lực tài chính, năng lực quản lý, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường cũng như uy tín của doanh nghiệp. Người viết sẽ sử dụng quan niệm tổng quát này phân tích và đánh giá các tiêu chí sẽ nêu sau đây để có cái nhìn tổng quan nhất về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. 2. Các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 2.1 Yếu tố sản phẩm: chất lượng, công nghệ, kĩ thuật Nâng cao chất lượng sản phẩm làm tăng uy tín, danh tiếng của sản phẩm đó, tạo ra nhiều giá trị hơn cho khách hàng và do đó doanh nghiệp có thể định giá bán cao hơn . Kiều Thị Hồng Anh 5 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  7. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp Ngày nay người mua có xu hướng lựa chọn hàng hóa có chất lượng cao hơn là những hàng hóa giá rẻ. Vì vậy, muốn thu hút được khách hàng, mở rộng thị phần, rồi từ đó chiếm lĩnh thị trường, thì hàng hóa phải có trình độ kĩ thuật cao, sản xuất theo công nghệ tiên tiến. Do đó muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa thì việc đổi mới công nghệ, hiện đại hóa sản xuất là vô cùng cần thiết. Thực tế xã hội ngày càng phát triển thì các sản phẩm càng phong phú hơn. Do vậy việc đánh giá chất lượng của sản phẩm là vô cùng cần thiết. Nếu không đánh giá được chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm thì doanh nghiệp không biết được chất lượng sản phẩm của mình đang ở mức độ nào, sức cạnh tranh của sản phẩm đến đâu, có cần cải tiến sản phẩm hay không ? Như vậy sẽ khó cho doanh nghiệp để đưa ra những chiến lược phù hợp cũng như việc người tiêu dùng không thể đưa ra quyết định lựa chọn và sử dụng sản phẩm. 2.2 Khả năng tài chính của doanh nghiệp Vốn luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi doanh nghiệp. Tất cả những hoạt động nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận đều không thể thiếu vốn. Từ thời điểm thành lập, doanh nghiệp đó phải có một số vốn xác định. Tiếp theo đó những hoạt động như nghiên cứu công nghệ, tổ chức sản xuất, xúc tiến thương mại, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng thương hiệu đều cần tới nguồn lực tài chính. Vì vậy, nguồn lực tài chính eo hẹp sẽ gây rất nhiều khó khăn cho việc xây dựng lợi thế cạnh tranh. 2.3 Thương hiệu của doanh nghiệp Hiện nay thuật ngữ thương hiệu được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Đối với doanh nghiệp, thương hiệu là một yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Đối với doanh nghiệp, thương hiệu có những vai trò sau đây: Kiều Thị Hồng Anh 6 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  8. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp Thương hiệu tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng Khi một thương hiệu lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường, nó hoàn toàn chưa có được một hình ảnh nào trong tâm trí người tiêu dùng. Qua thời gian, bằng kinh nghiệm trong sử dụng và thông điệp mà thương hiệu truyền tải đến người tiêu dùng, vị trí và hình ảnh của hàng hóa đựợc định vị dần dần trong tâm trí khách hàng. Thương hiệu như một lời cam kết giữa doanh nghiệp và khách hàng Các thông điệp mà thương hiệu đưa ra trong các quảng cáo, khẩu hiệu (Slogan) luôn tạo ra sự kích thích lôi cuốn khách hàng. Nó chứa đựng một nội dung như những cam kết ngầm định nào đó của doanh nghiệp về chất lượng hàng hóa hoặc những lợi ích tiềm ẩn về việc sử dụng hàng hóa. Khẩu hiệu là một phần tài sản vô hình của doanh nghiệp. Khẩu hiệu luôn được coi như là một phương thức quảng cáo, tiếp thị, xây dựng thương hiệu và cạnh tranh vô cùng quan trọng. Nó không chỉ nhắc nhở khách hàng về sự tồn tại của công ty, thúc đẩy họ mua sản phẩm, mà trở thành tôn chỉ hoạt động của công ty. Thương hiệu giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường dễ dàng hơn Một thương hiệu khi đã được chấp nhận, nó sẽ mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích đích thực, những lợi thế cạnh tranh rõ rệt trên thương trường. Đó là khả năng tiếp cận trị trường dễ dàng hơn, sâu rộng hơn, ngay cả khi đó là một chủng loại hàng hóa mới. Khách hàng có thể chưa biết về xe máy Future Neo, nhưng họ đã có lòng tin cậy khi dùng các sản phẩm khác của Honda thì dù một loại xe nào đó của Honda cũng sẽ dễ dàng được chấp nhận hơn. II. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về văn hóa ( VH ) Kiều Thị Hồng Anh 7 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  9. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp Để tìm hiểu VHDN, trước hết cần tìm hiểu khái niệm: Văn Hóa. Theo con số thống kê hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa về khái niệm Văn Hóa. Nhưng cách tiếp cận đầy đủ và cụ thể nhất có lẽ là trong “Từ điển xã hội học‟‟ do tác giả Thanh Lê biên soạn. Văn hoá là tổng thể những nét đặc trưng tiêu biểu nhất của một xã hội, thể hiện trên các mặt vật chất, tinh thần, tri thức và tình cảm, biểu hiện sức sống, sức sáng tạo của một dân tộc. “Đó là những giá trị cụ thể nhất định do con người tạo ra - những thành tựu trong lĩnh vực hoạt động sản xuất, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật nói lên trình độ phát triển xã hội trong một thời kỳ lịch sử nhất định, bao gồm cả những giá trị của quá khứ và được xã hội chấp nhận. Văn hoá còn bao gồm những phương thức và hình thức tiếp thu những giá trị ấy, sử dụng chúng cho cuộc sống và hoạt động của con người, nhằm cải tạo thế giới vật chất, xã hội và con người. Và không thể nói tới văn hoá nếu không có sự sáng tạo, trong quá trình đó diễn ra một sự phát triển không ngừng, nếu không có sự tăng thêm những của cải vật chất và tinh thần mà loài người đang có. Văn hoá bao gồm cả những phương pháp hoạt động sáng tạo, định hướng giá trị cá nhân, những kỹ năng lao động, những hình thức hành vi xã hội và cá nhân, những hình thức khác nhau của tư duy khoa học và nghệ thuật.” [4] Như vậy, văn hoá gắn liền với quá trình xuất hiện và phát triển của loài người, do con người tạo ra, nó không những chỉ gồm những giá trị tinh thần mà còn cả những giá trị vật chất. Văn hoá và con người là hai khái niệm không thể tách rời. Con người xuất hiện lúc nào thì văn hoá xuất hiện lúc đó. Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hoá. Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của mình, con người luôn sáng tạo không ngừng để làm nên các giá trị văn hoá. Vậy văn hóa và kinh doanh có mối quan hệ như thế nào ? Thực tế bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng nhằm mục đích sinh lợi. Xét cho cùng khi kinh doanh, hầu hết các doanh nghiệp ( DN ) đều đặt mục tiêu lợi nhuận lên Kiều Thị Hồng Anh 8 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  10. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp hàng đầu. Do đó các DN rất quan tâm đến các chiêu bài phát huy tiềm lực DN. Và nhiều DN cũng đã nhận ra tầm quan trọng của VHDN trong hoạt động kiếm lời cho mình. 1.2. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Thuật ngữ VHDN mới được chúng ta làm quen trong những năm gần đây, song trên thực tế, thuật ngữ này đã tồn tại từ khá lâu trong các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Các nhà nghiên cứu đã tổng kết rằng một trong những nguyên nhân làm cho các doanh nghiệp (DN) ở Mỹ hay Nhật có sự thịnh vượng lâu dài là do các DN có nền VHDN đầy sức mạnh. VHDN là toàn bộ giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một DN, trở thành các giá trị, các quan niệm tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của DN ấy và có tác động tới tình cảm, lí trí và hành vi của tất cả các thành viên DN. Cũng như văn hoá nói chung,VHDN có những đặc trưng cụ thể riêng biệt. Trước hết VHDN là sản phẩm của những người làm trong cùng một DN và đáp ứng nhu cầu giá trị bền vững. Nó xác lập một hệ thống giá trị được mọi người làm trong DN chấp nhận, chia sẻ, đề cao và ứng xử theo các giá trị đó. Xây dựng phong cách VHDN là nhằm xây dựng một phong cách quản trị hiệu quả đưa hoạt động của DN vào nề nếp và xây dựng mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa các thành viên của DN, làm cho DN trở thành một cộng đồng làm việc trên tinh thần hợp tác, tin cậy, gắn bó, thân thiện và tiến thủ. Trên cơ sở đó, hình thành tâm lí chung và lòng tin vào sự thành công của DN. VHDN không chỉ được đúc kết ở những giá trị vô hình, mà nó rất hữu hình và được thể hiện trong hành vi kinh doanh, trong môi trường nội bộ doanh nghiệp, trong giao tiếp ứng xử của cán bộ công nhân viên trong công ty, qua hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp, và qua những quan hệ giao tiếp của doanh nghiệp đó với môi trường bên ngoài. Kiều Thị Hồng Anh 9 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  11. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp VHDN do văn hoá của bản thân các DN hợp thành nhưng gắn liền với văn hoá xã hội. Mỗi nền văn hoá có những giá trị đặc trưng riêng có hệ quả đặc thù với DN. Trong các nền văn hoá phương Tây, chủ nghĩa cá nhân, tự do cá nhân và khả năng cá nhân được đề cao. Vì vậy, các DN trong các nền văn hoá này thường đề cao các phương diện nói trên và có khuynh hướng chú trọng tới tính chủ động và sự thành đạt của cá nhân, đề cao trách nhiệm cá nhân và khuyến khích sự tranh đua giữa các cá nhân ngay trong nội bộ DN. Ngược lại, trong các nền văn hoá phương Đông như của Nhật Bản, Trung Quốc, tinh thần tập thể, tính cộng đồng, tình thân ái được đề cao. Các DN trong nền văn hoá này có khuynh hướng nhấn mạnh thành tích của nhóm, hợp tác thân thiện, sự thống nhất từ trên xuống dưới. 2. Các yếu tố của văn hóa doanh nghiệp 2.1. Thương hiệu, Biểu tượng (Logo), Khẩu hiệu (Slogan) Thương hiệu tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng. Một thương hiệu khi đã được chấp nhận, nó sẽ mang lại cho doanh nghiệp những lợi thế cạnh tranh rõ rệt trên thương trường. Nó giúp DN tiếp cận thị trường dễ dàng hơn, sâu rộng hơn, ngay cả khi DN đưa ra chủng loại hàng hóa mới. Biểu tượng có tác dụng làm cho thương hiệu của DN nổi bật hơn. Nó tạo ra sự nhận biết rất mạnh bằng thị giác và ghi nhớ lâu hơn. 2.2. Lễ nghi, lễ kỉ niệm và lễ hội hàng năm Đây là những hoạt động không thể thiếu để bồi đắp niềm tin cho mọi người vào sức mạnh của tổ chức. Các lễ kỉ niệm sẽ làm tôn vinh những giá trị văn hóa doanh nghiệp. Những sự kiện này được tổ chức đều đặn hàng năm có tác dụng nhắc nhở cho các thành viên về truyền thống văn hóa của doanh nghiệp. 2.3 Triết lý kinh doanh của doanh nghiệp Kiều Thị Hồng Anh 10 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  12. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp Triết lí kinh doanh của DN là ý tưởng, tôn chỉ, phương châm hành động làm cho DN đạt hiệu quả cao trong kinh doanh. Triết lí kinh doanh vạch ra mục tiêu, phương thức thực hiện và các giá trị đạo đức cho mọi thành viên nên nó là cốt lõi của phong cách DN, là hạt nhân và là trụ cột của VHDN. “Triết lý kinh doanh là những tư tưởng triết học phản ánh thực tiễn kinh doanh thông qua con đường trải nghiệm, suy ngẫm và khái quát hoá của các chủ thể kinh doanh” [2,Tr.200]. Theo khái niệm này thì con đường chung hình thành triết lý kinh doanh là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để đi đến các tư tưởng triết học về kinh doanh. Tác giả của các triết lý kinh doanh thường là người hoạt động kinh doanh. Các triết lý kinh doanh đều có tính nghề nghiệp cao, chính vì thế không thể lầm tưởng triết lý kinh doanh với các quy luật hay nguyên tắc triết học. Một nhà kinh doanh có thể vận dụng triết lý kinh doanh khi họ hoạt động ở quy mô cá thể vào tổ chức doanh nghiệp của mình khi người đó đã trưởng thành, đã hoạt động với tư cách là nhà quản lý doanh nghiệp, ví dụ triết lý “khách hàng là thượng đế” hay “luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu”. Vì triết lý kinh doanh là sự phản ánh có mục đích phục vụ cho chủ thể kinh doanh nên sự khác nhau về quy mô, chuyên ngành của nó mang tính khách quan, biểu hiện những nét đặc thù của hoạt động kinh doanh. Triết lý kinh doanh chỉ có giá trị phổ quát khi nó áp dụng được trong các doanh nghiệp. Khi đó, triết lý kinh doanh được gọi là triết lý doanh nghiệp. Nói cách khác nó là triết lý kinh doanh chung của tất cả các thành viên trong một doanh nghiệp cụ thể. Triết lý doanh nghiệp có thể được hình thành từ kinh nghiệm kinh doanh của người sáng lập và lãnh đạo doanh nghiệp hoặc theo kế hoạch của ban lãnh đạo. Nhưng nhìn chung thì dù hình thành như thế nào, mỗi doanh nghiệp khi xây dựng triết lý kinh doanh đều có một mục đích: nó sẽ là một Kiều Thị Hồng Anh 11 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  13. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp thông điệp giúp nhân viên toàn doanh nghiệp hoặc nhắc nhở họ về những thái độ cần có và những hành động cần làm. Triết lý kinh doanh hiện đã trở thành một từ thông dụng. Việc sử dụng nó trong các cuộc đối thoại, thảo luận đã trở thành “mốt”, thành một trong những tiêu chuẩn cơ bản chứng tỏ “đẳng cấp văn hoá” của nhà kinh doanh. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đối với đa số, sự thừa nhận đó mang tính hình thức hơn là nội dung và giá trị thực tiễn. Triết lý kinh doanh là một thuật ngữ trừu tượng, khó nắm bắt và do đó, khó vận dụng được vào các hành động thực tiễn một cách thiết thực và hiệu quả. Nhưng vượt ra ngoài giá trị “trưng diện”, giờ đây, xuất phát từ kinh nghiệm và bằng chứng thực tế, chắc không mấy ai không thừa nhận sự cần thiết của triết lý kinh doanh. Đúng là kinh doanh phải có triết lý. Nhà kinh doanh phải dựa vào và tuân theo một triết lý nào đó, coi đó là kim chỉ nam cho hành động của mình. Có thể tóm tắt vai trò của triết lí kinh doanh trong một số điểm sau: - Triết lý kinh doanh là cốt lõi của VHDN, tạo ra phương thức phát triển kinh doanh bền vững. VHDN bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, trong đó, hạt nhân của nó là các triết lý và hệ giá trị Mỗi yếu tố cấu thành của VHDN có một vị trí, vai trò khác nhau trong hệ thống chung. Triết lý doanh nghiệp vạch ra sứ mạng - mục tiêu, là một hệ các giá trị có tính pháp lý, chủ yếu là giá trị đạo đức của doanh nghiệp, từ đó tạo nên một phong thái văn hoá đặc thù của doanh nghiệp. Nói gọn hơn, triết lý doanh nghiệp là cốt lõi của phong cách - phong thái của doanh nghiệp đó. Triết lý doanh nghiệp rất khó thay đổi, nó là cơ sở bảo tồn phong thái và bản sắc văn hoá của doanh nghiệp. Nó phản ánh cái tinh thần - ý thức của doanh nghiệp ở trình độ, bản chất có tính khái quát, cô đọng và hệ thống hơn so với các yếu tố ý thức đời thường và tâm lý xã hội. Một khi đã phát huy Kiều Thị Hồng Anh 12 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  14. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp được tác dụng thì triết lý doanh nghiệp rất ít thay đổi, nó trở thành ý thức lý luận và hệ tư tưởng chung của doanh nghiệp, bất kể có sự thay đổi về lãnh đạo. Ông Akio Morita, cựu Chủ tịch công ty Sony nhận xét: “Vì công nhân viên làm việc với công ty trong một thời gian dài cho nên họ thường kiên trì giữ vững quan điểm của họ. Lý tưởng của công ty không hề thay đổi. Khi tôi rời công ty để về nghỉ, triết lý sống của công ty vẫn tiếp tục tồn tại.‟‟ Triết lý doanh nghiệp góp phần tạo nên VHDN, là yếu tố có vai trò quyết định trong việc thúc đẩy và bảo tồn nền văn hoá này; qua đó, nó góp phần tạo nên một nguồn nội lực mạnh mẽ từ doanh nghiệp. - Triết lý doanh nghiệp là công cụ định hướng và quản lý chiến lược của doanh nghiệp. Như trên đã nói triết lý doanh nghiệp sẽ là kim chỉ nam trong mọi hoạt động của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp vốn phức tạp và biến đổi không ngừng. Để tồn tại được, doanh nghiệp cần có tính mềm dẻo, linh hoạt và hơn thế nữa, muốn phát triển được lâu dài, nó cần thêm năng lực chủ động kinh doanh với tính khôn ngoan, sáng suốt. Triết lý doanh nghiệp có vai trò định hướng, là một công cụ để hướng dẫn cách thức kinh doanh phù hợp với văn hoá của doanh nghiệp. Nó được các nhà quản lý Nhật Bản coi là một nguồn tài sản vô hình nhưng lại có những tác dụng “cực kỳ to lớn”. Còn nhà khoa học Mỹ, Robert Shook thì cho rằng: “Một triết lý kiên định, vững vàng cuối cùng sẽ quyết định tính vĩ đại của một công ty”. Đối với tầng lớp cán bộ quản trị, triết lý doanh nghiệp là một văn bản pháp lý và cơ sở văn hoá để họ có thể đưa ra các quyết định quản lý quan trọng, có tính chiến lược, trong những tình huống mà sự phân tích kinh tế lỗ lãi vẫn chưa giải quyết được vấn đề. Vì vậy, trong các công ty xuất sắc của Mỹ như IBM, HP, Intel, các nhà quản trị đều có thói quen đối chiếu triết lý doanh nghiệp với các dự định hành động cũng như các kế hoạch chiến lược Kiều Thị Hồng Anh 13 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  15. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp trong giai đoạn xây dựng. Họ nhận thức được rằng nếu làm trái với sứ mệnh và các giá trị của công ty thì kế hoạch sẽ bị thất bại và họ sẽ bị kỷ luật rất nặng. Vai trò của triết lý doanh nghiệp có thể so sánh với bất kỳ một nguồn lực nào khác của doanh nghiệp như vốn, tài sản hoặc công nghệ. Nếu thiếu một triết lý doanh nghiệp có giá trị thì chẳng những tương lai lâu dài của doanh nghiệp có độ bất định cao mà ngay trong việc lập kế hoạch chiến lược và dự án kinh doanh của nó cũng rất khó khăn vì thiếu một quan điểm chung về phát triển giữa các tầng lớp, bộ phận của tổ chức doanh nghiệp. Đối với công ty Honda thì phương pháp kinh doanh của công ty mà triết lý công ty là cốt lõi của nó “có dính dáng sâu đậm tới sự thành công của công ty hơn bất cứ tiềm lực kỹ thuật hay kinh tế nào”[2,Tr.239]. - Triết lý doanh nghiệp là một phương tiện để giáo dục và phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp Công tác giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò quyết định sự thành hay bại của doanh nghiệp. Và vấn đề đầu tiên mà các cán bộ, công nhân viên mới phải học là sự hoà nhập của họ với môi trường văn hoá của công ty. Triết lý doanh nghiệp là bài học thứ nhất đối với mọi thành viên. Triết lý doanh nghiệp - nếu được tổ chức học một cách trang trọng và đúng mức - sẽ truyền lý tưởng và các giá trị cao cả của một cộng đồng tới từng thành viên, tạo ra không chỉ sự di truyền văn hoá trong doanh nghiệp mà còn đem lại sứ mệnh và các chuẩn mực hành vi chung cho mỗi nhân viên, làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Sự tôn trọng các giá trị chung và hành động phù hợp với các chuẩn mực hành vi trong văn bản triết lý sẽ giúp nhân viên nuôi dưỡng lòng tự tin và tinh thần trung thành với sự nghiệp của công ty - nơi mà phẩm giá và sự nghiệp của họ được đảm bảo. Triết lý doanh nghiệp có tác dụng bảo vệ nhân Kiều Thị Hồng Anh 14 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  16. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp viên, chống lại thói tư thù và các hành vi ác ý (nếu có) của những người quản lý họ. Người quản lý nào lạm dụng quyền lực để đối xử với nhân viên một cách bất công, trái với triết lý doanh nghiệp thì hành vi “xấu chơi” đó sẽ bị cấp quản lý cao hơn trừng phạt. Phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp liên quan tới công tác tuyển dụng, đào tạo, tổ chức và sử dụng, đãi ngộ và thúc đẩy, đội ngũ của nó. Nếu đặt mục tiêu xây dựng một nguồn nhân lực thống nhất, phát huy các yếu tố nhân văn của nguồn lực trung tâm này để làm chủ thể cho phương thức phát triển bền vững của doanh nghiệp thì trong các công việc trên, cần được định hướng bằng một triết lý chung. 2.4 Mục đích kinh doanh Mục đích kinh doanh giải thích nguyên nhân tồn tại và hoạt động của tổ chức: hoạt động vì cái gì? Hoạt động vì ai? Hoạt động nhằm mục đích cuối cùng là gì? Việc xác định đúng mục đích kinh doanh có vai trò quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp, vì nó định hướng cho viễc sử dụng tối ưu nhất các nguồn lực, và tạo cơ sở cho việc xác lập những mục tiêu ngắn hạn của tổ chức. Thứ nhất, phải đạt được hiệu quả cao, tức là lợi nhuận tối đa của DN và cộng đồng và cả hiệu quả xã hội. Điều cần phải coi trọng là mục đích lợi nhuận và hiệu quả cá nhân, vừa là động lực trực tiếp của mỗi DN khi tiến hành kinh doanh, nhưng cũng có trường hợp mục đích lợi nhuận và hiệu quả cá nhân mâu thuẫn với mục đích và hiệu quả xã hội. VHDN chính là để đảm bảo sự thống nhất giữa mục đích cá nhân và mục đích cộng đồng, là xác định mức độ của từng mục đích và phương pháp để đạt cả hai mục đích. Thứ hai, mục đích kinh doanh phải có tính nhân văn, thể hiện ở hai mặt: với con người và với thiên nhiên. Đối với con người (là quan trọng nhất), Kiều Thị Hồng Anh 15 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  17. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp đó là đáp ứng đến mức cao nhất nhu cầu của con người, là tôn trọng phẩm giá, nhân cách con người, loại trừ việc xây dựng sự giầu có trên sự khánh kiệt của người khác, cũng là không chơi xấu, dùng thủ đoạn, mánh khoé để hại nhau trong kinh doanh. Đối với thiên nhiên, đó là gắn kinh doanh với bảo vệ môi trường sinh thái, không làm ô nhiễm, huỷ hoại môi trường cũng tức là bảo đảm sự phát triển bền vững của mỗi DN cũng như của toàn bộ nền kinh tế. 2.5 Phương pháp kinh doanh Phương pháp kinh doanh là việc DN đạt tới mục đích bằng con đường nào với những nguồn lực nào. Tuy mục đích kinh doanh là nhân tố quyết định nhưng phương pháp kinh doanh lại liên quan chặt chẽ đối với việc thực hiện mục đích. Điều đó có nghĩa là không thể đạt được mục đích bằng bất cứ cách nào mà phải tuân theo những nguyên tắc luật pháp và đạo đức trong khi thực hiện các phương pháp kinh doanh, đó chính là văn hoá trong phương pháp kinh doanh của DN. Phương pháp kinh doanh được xây dựng bài bản, hợp lý sẽ giúp tập hợp các nguồn lực thành sức mạnh thống nhất để đạt được các mục đích kinh doanh đã đề ra. Trong thực tế, có những quan điểm chung về phương pháp kinh doanh, đó là: - Tuân thủ pháp luật (kể cả pháp luật quốc gia, quốc tế cũng như điều lệ, nội quy của từng DN); bảo đảm minh bạch, công khai trong kinh doanh. - Chú trọng khoa học quản lí, tuân theo các nguyên lí quản lí khoa học, dựa vào khoa học mà tổ chức bộ máy quản lí, thực hiện các phương pháp kinh doanh. - Dựa vào khoa học, kỹ thuật, vận dụng công nghệ tiên tiến trong điều hành sản xuất kinh doanh. Kiều Thị Hồng Anh 16 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  18. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp - Chú trọng quan hệ con người (đây cũng là một khuynh hướng mới của phương pháp kinh doanh hiện đại); phát huy năng lực xã hội (cũng gọi là vốn xã hội). Có thể coi đó là những điểm chung nhất của VHDN. Những điểm chung đó được vận dụng cụ thể trong từng thời kỳ nhất định, chịu ảnh hưởng của chế độ sở hữu, hệ thống thể chế của từng nước mà có những thay đổi theo những chiều hướng khác nhau. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là mục đích kinh doanh quyết định phương pháp kinh doanh; mục đích kinh doanh nói lên tầm vóc cao, thấp của VHDN. 3. Các quan điểm cũ và mới về văn hóa doanh nghiệp Trong lịch sử nước ta, nghề kinh doanh không phải lúc nào cũng được khuyến khích phát triển. Nhà nước phong kiến mang nặng tư tưởng Nho giáo đã đề ra chính sách "trọng nông, ức thương", coi thường chữ lợi, coi thương nhân là gian trá, coi nghề thương mại xếp hàng sau cùng trong sự sắp đặt "sĩ, nông. công, thương". Bối cảnh chíng trị và xã hội thời bấy giờ đã kìm hãm sự phát triển của thương maị, buôn bán trong một thời gian dài. Trong thời Pháp thuộc, mặc dù giới công thương việt nam có điều kiện thuận lợi hơn để hình thành và phát triển, song do chính sách của thực dân Pháp hạn chế, chèn ép công thương bản địa nên doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam ít có cơ hội phát triển. Bộ phận tư sản dân tộc gồm những nhà tư bản kinh doanh có tinh thần yêu nước, nhận thức được sự cần thiết phải làm giàu nhưng cũng thấm nhuần tinh thần nhân nghĩa của đạo Khổng. Dù họ bị chèn ép, kìm hãm, không có được những đặc quyền như “tư sản mại bản” và tư bản nước ngoài nhưng bằng tài năng và đạo đức của mình họ vẫn thành công trong việc kết hợp giữa chữ “nhân” và chữ “phú”, trong việc tìm ra những cách kinh doanh riêng, phù hợp để làm giàu cho chính mình và cho đất nước mà không đi ngược lại đạo lý dân tộc. Những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện những Kiều Thị Hồng Anh 17 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  19. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp doanh nhân người Việt thành đạt như Bạch Thái Bưởi, Trương Văn Bền, Nguyễn Sơn Hà hoạt động kinh doanh ở nước ta đã tồn tại từ thời phong kiến. Tuy nhiên chỉ trong vòng 100 năm trở lại đây mới có những doanh nhân tiêu biểu được lịch sử ghi nhận. Những cái tên như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà hay Trần Chánh Chiếu đã trở thành niềm tự hào và biểu tượng của thương hiệu Việt, trưởng thành trong thời loạn lạc, đất nước bị đô hộ. Họ ý thức được nỗi đau mất nước và luôn luôn đề cao tinh thần dân tộc trong kinh doanh - một ưu thế đã giúp họ chiến thắng rất nhiều đối thủ cạnh tranh nước ngoài cùng thời. Thời kỳ đó, đã đẩy lên phong trào Duy Tân khắp miền Trung và miền Bắc. Nội dung chính của Duy Tân ngoài việc khuyến khích nâng cao dân trí, canh tân đất nước, còn kích thích nhiều danh nhân người Việt lập ra các hiệu buôn và đề cao tinh thần dân tộc trong kinh doanh. Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, thị trường và các quy luật của thị trường được công nhận. Mọi chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh, sản phẩm đầu ra đều do nhà nước điều tiết, mọi mệnh lệnh đều của nhà nước đưa ra. Những yếu tố sản xuất kinh doanh như giá cả trên thị trường, tiền lương, tiền thưởng, nhu cầu thị trường không được quan tâm. Thể chế kế hoạch hoá của nhà nước không đảm bảo được trách nhiệm và quyền hạn của doanh nghiệp, không có chính sách khuyến khích tính sáng tạo và tinh thần kinh doanh của nhà quản lý doanh nghiệp. Các doanh nghiệp bị nhiễm tư tưởng "lỗ đã có nhà nước chịu" nên kinh doanh thụ động, không thực sự hiệu quả. Cơ cấu tổ chức, biên chế trong doanh nghiệp là do nhà nước chỉ định. Kinh doanh tư nhân, tư thương cũng bị kỳ thị, cấm đoán. Nền kinh tế đất nước luôn ở trạng thái " khủng hoảng thiếu". Văn hoá doanh nghiệp không có nét gì nổi bật. Thời kỳ đổi mới được đánh dấu bằng một loạt những thay đổi trong văn hoá doanh nghiệp. Công cuộc đổi mới được khẳng định từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986). Bắt đầu từ đó, nền kinh tế thị trường Kiều Thị Hồng Anh 18 Lớp Nhật 3-K41- KTNT
  20. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tập đoàn FPT thông qua xây dựng văn hoá doanh nghiệp được công nhận, mang lại quyền tự do kinh doanh cho mọi công dân Việt Nam trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Theo Niên giám thống kê năm 2004 của Tổng cục Thống kê, tính cho đến ngày 31/12/2003, nước ta có 72.012 doanh nghiệp, trong khi dân số là hơn 82 triệu người. Theo kết quả điều tra, 66% doanh nhân Việt Nam xuất thân từ các gia đình cán bộ Nhà nước, 16% xuất thân từ các gia đình buôn bán kinh doanh, còn lại là các giai tầng khác trong xã hội. Doanh nhân nước ta muốn lập nghiệp bằng con đường kinh doanh bởi vì họ muốn có cơ hội được phát huy tối đa năng lực cá nhân; họ có điều kiện thuận lợi để kinh doanh, kiếm sống, tăng thu nhập; họ thích thử thách và sáng tạo; hoặc theo truyền thống gia đình; họ muốn theo đuổi giá trị đạo đức và phong cách riêng. Đây cũng chính là đặc điểm cơ bản của đội ngũ doanh nhân ngày nay. Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, kinh doanh đã được xác định là một hoạt động quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, từ đó doanh nhân có quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, được Nhà nước bảo hộ về tư liệu sản xuất, về sở hữu và quyền bình đằng trước pháp luật. Đảng và Nhà nước ta đã xác định kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. Đặc trưng nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp, các đối tượng tham gia thị trường, tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu hiện nay, doanh nghiệp và doanh nhân chính là những người chiến sỹ trên mặt trận kinh tế. Họ là lực lượng nòng cốt tạo nên sức sống và tăng trưởng của nền kinh tế, góp phần đánh bại nghèo nàn và lạc hậu, đưa nước ta đuổi kịp các nước trong khu vực và thế giới. III. MỐI QUAN HỆ GIỮA NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. VHDN giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của DN Kiều Thị Hồng Anh 19 Lớp Nhật 3-K41- KTNT

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản