KINH NGHIỆM ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT U VÒM MŨI HỌNG
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xếp loại giai đoại và bàn luận vphương pháp điều trị u vòm mũi
họng.
Phương pháp nghiên cứu: 23 trường hợp u mạch vòm mũi họng tại khoa Tai
Mũi Họng bệnh viện Chợ Rẫy. Chẩn đoán chắc chắn được dựa vào kết quả của
chụp mạch máu có cản quang (DSA), CT scan MRI. Điều trị phẫu thuật được
áp dụng cho tất cả bệnh nhân với tắc mạch trước khi mổ.
Kết quả và Bàn lun: Xếp loại giai đoạn nhóm bệnh nhân đều nằm trong giai
đoạn II (10 ca) và III (13 ca), Kích thước của khối u càng lớn thì tiên lượng cho
cuộc phẫu thuật sẽ càng khó khăn. Nhng trưng hp u giai đoạn cao n thì
xu hướng mt u nhiu trong khi m, đặc bit nhng trường hp tái phát phải
phu thut lại. Lượng u mt trong khi mgim so với những trường hợp nếu
không làm tắc mạch. Đường mổ “lột găng” là đủ trong đa số các trường hợp mổ u
xơ vòm mũi họng.
Kết luận: U vòm thường nằm trong giai đoạn II và III, điều trị chủ yếu là phu
thuật với tắc mạch trước mổ cho kết quả đáng khích lệ.
ABSTRACT
Purpose: Staging and treatment discussion on Nasopharyngial Fibroma (NPF).
Method: 23 cases of NPF at ENT department of Cho Ray hospital. Comfirm
diagnosis is based on CT Scan, MRI and DSA. Surgical treatment is called for
after pre-op embolisation.
Result and Discussion: All NPF cases are grouped in stage II (10 cases) and stage
III (13 cases). The bigger the tumor volume is, the more difficult the surgical
intervention is. In cases of high stage, there's a trend of tremendous blood loss
intra-operatively, especially in recurrent cases. Pre-op embolisation is required to
reduce blood loss. "Degloving" approach is enough in most cases.
Conclusion: Most NPF cases are in stage II and stage III. Surgery treatment is the
only option used for all our patients, surgery was preceded by embolisation, which
considerably reduces intra-operative bleeding.
TỔNG QUAN
U xơ vòm mũi họng là một loại u hiếm có có tính chất khu trú, nhiều mạch máu và
thường xuất hiện trẻ nam tuổi thiếu niên. Mặc dù bản chất đây là những khối u
lành tính nhưng u tính m lấn chèn ép những cấu trúc xung quanh rất cao và
gây nên những di chứng thậm chí có khả năng gây tử vong cho bệnh nhân(Error!
Reference source not found.,Error! Reference source not found.,Error! Reference source not found.).
T khi được mô tả lần đầu tiên điều trị u xơ vòm mũi hng đã có nhiu tiến bộ đáng k
v mặt kỹ thuật. Hiện nay pơng pháp làm luồn các ống catheter vào trong lòng mch
và m c chất gây tắc mạch ni u sau đó phẫu thuật cắt u đang được ng dụng rộng
rãi và tỏ ra có hiu quả(Error! Reference source not found.,Error! Reference source not found.,Error! Reference source
not found.).
Trong thời gian từ năm 2003-2007, tại khoa Tai Mũi Họng chúng tôi đã điều trị
bằng phương pháp phẫu thuật cho tổng số 43 trường hợp u vòm mũi họng.
Trong khoảng thời gian này, kthuật làm tắc mạch máu bằng gel cũng đang được
bắt đầu áp dụng rộng tại khoa chẩn đoán hình ảnh học của bệnh viện nên đa số
trường hợp chúng tôi đều làm tc mạch trước khi phẫu thuật. 2 trường hợp do
không có chđịnh can thiệp phẫu thuật vì khối u quá lớn nên chúng tôi gửi đi điều
trxạ trị. Trong bài báo cáo này chúng tôi chyếu nghiên cứu đánh giá lại hồ
của 19 trường hợp trước mổ được cho là “khó” vì phải cân nhắc chọn lựa trước
khi quyết định phẫu thuật vì nhiều do nhưng sau khi phẫu thuật đã thành công
nên được ghi nhận rút kinh nghiệm để thể áp dụng điều trcho những trường
hợp tiếp theo sau này.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
23 bệnh án đã được chúng tôi chọn nghiên cứu trong báo cáo này những bệnh
nhân được điều trị tại khoa Tai Mũi Họng bệnh viện Chợ Rẫy trong khoảng thời
gian tnăm 1-2003 đến 4-2007, sau khi xác định chẩn đoán đã được chúng tôi
phẫu thuật cắt u và theo dõi sau thi gian tối thiểu là 5 tháng chưa ghi nhận
trường hợp nào u tái phát trong số nghiên cứu này.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu.
- Tuổi của bnh nhân
13 -18 tuổi: 17 ca
19 - 25 tuổi: 5 ca
26 tuổi: 1 ca.
- Tiêu chuẩn đánh giá giai đoạn của u
Chúng i scách phân loại của Sessions và công sđược bổ xung bởi Diana
Radkowsky như sau(2):
IA: U giới hạn ở trong hốc mũi / hoặc khu trú chỉ ở vòm mũi họng.
IB: U liên quan đến mũi sau và/ hoặc vòm mũi họng với liên quan ít nhất 1 xoang
cạnh mũi
IIA: Lan rộng tới hố chân bướm hàm.
IIB: Lấp đầy vùng hchân bướm hàm hay không kèm theo ăn mòn xương hốc
mắt.
IIC: Xâm lấn vào hdưới Thái dương hoặc lan rộng ra phía sau vào chân bướm.
III A: Làm hủy xương của vùng nền sọ - Lan rộng tối thiểu vào trong sọ.
IIIB: Phát triển vào trong sọ /hay vào khu vực xoang hang.
Giới tính
Tất cả các bệnh nhân đều là giới nam sống ở các tỉnh thành phía Nam
Bệnh nhân tiền căn mổ trước, nay nhập viện vì u xơ tái phát: 5 ca. Khoảng
thời gian từ lúc phẫu thuật đến lúc phát hiện u tái phát sớm nhất là 3 tháng lâu nhất
là 4 năm.
Chẩn đoán hình ảnh học
CT Scan và MRI được áp dụng cho chẩn đoán xác định cũng như đánh g giai
đoạn của u. Chụp mạch máu kỹ thuật số được áp dụng (DSA) giúp xác định chẩn
đoán và làm tắc mạch trước khi điều trị phẫu thuật(1,3,4).
Phương pháp phẫu thuật(1,3,4):
18 ca trước mổ có làm tắc mạch bằng gel hay spongel.
Đường phẫu thuật chúng tôi sử dụng để m lấy u phụ thuộc vào kích thước kinh
nghiệm của phẫu thuật viên. Ch yếu chúng tôi sử dụng đường “Lột găng” và
đường qua rãnh lợi môi.