Kỹ thuật chăm sóc
Trồng cây con và chăm sóc vườn Dừa
I. Cách trồng cây con:
Đào một lỗ có kích thước bằng trái dừa trên mô hay trong hố sau đó đặt cây dừa
con vô hố, lấp đất khoảng 2/3 trái. Nên đạp đất, nén xung quanh cây con giúp cho
cây được giữ chặt vô đất. Dùng nẹp tre cột vô gốc thân để cây không bị lung lay
và dùng lá dừa che mát cho cây con vào mùa khô.
- Trường hợp ươm dừa trên luống: Bón lót vào hđã đào trước đây, đặt cây con
xuống và bón phân vô cơ trộn với đất mặt ở chung quanh gốc, cuối cùng lấp đất lại
cho ngang mặt đất, phủ gốc độ 3cm, giẫm nhẹ xung quanh gốc, tưới nước (hình
27).
Hình 27
- Đối với cây con ươm trong túi nhựa dẻo: Dùng dao rạch một đường cách đáy túi
1cm, không rạch sâu để tránh tổn thương cho rễ, nâng cây con đặt nhẹ vô hố, cẩn
thận không làm bể đất lộ bộ rễ ra. Tiếp theo rạch một đường dọc, cho đất lấp bầu
đất từ từ, sau đó kéo túi PE ra khỏi hố. Cần cẩn thận tránh làm vở bầu đất khi
trồng để không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây con (Hình 28).
Hình 28
II. Chăm sóc vườn dừa:
1. Trồng dậm:
Trồng dậm ngay khi cây chết hoặc ở mùa mưa tiếp theo để các cây dừa trong vườn
cho trái đồng đều. Thông thường dự trữ thay cây chết khoảng 5%.
2. Che mát và đậy gốc:
Nhằm hạn chế sự bốc thoát nước, giúp cây phục hồi nhanh sau khi trồng cần che
mát cho đến khi cây bén rễ, phát triển tốt. Ngoài ra, để giảm bớt lượng nước bốc
hơi trong mùa khô, cần đậy gốc cho cây con bằng cách dùng vỏ dừa, bụi dừa
hay lục bình phquanh gốc dừa.
3. Làm cỏ:
Dọn sạch cỏ dại xung quanh mô hay hố không để cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng,
nước và ánh sáng với cây dừa sẽ làm cho cây dừa chậm lớn. Trong giai đọan cây
dừa chưa mang trái nên trồng xen canh các loại cây ngắn ngày hay clàm thức ăn
cho gia súc, cây họ đậu để che phủ đất, hạn chế sự rửa trôi chất dinh dưỡng bề
mặt, đồng thời tăng thêm chất hữu bồi dưỡng cho đất, giảm chi phí chăm sóc và
tăng thu nhập cho nhà vườn.
4. Bón phân:
Qua kết quả phân tích sự huy động các chất dinh dưỡng của cây dừa (Bảng 3) cho
thấy ba chất dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây dừa được xếp theo thứ tự là
Kali (K), Clorua (Cl) và đạm (N). Tiếp theo là Canxi (Ca), Natri (Na), lân (P), Ma-
nhê (Mg) và cuối cùng là lưu huỳnh (S).
Bảng 3: Sự huy động một số chất dinh dưỡng (kg/ha) của cây dừa
Năng
suất
N P2O
5
K2O
Mg
Ca S Na
Cl
100
trái/cây
(Ouvier
Ochs,
1978)
49 16 115 8 5 4 11 64
6,7 tấn
copra/ha
(Ouvier
Ochs,
1978)
- Trái 108 39 232 15 9 9 20 125
- Ccây 174 40 299 39 75 30 54 240
1 tấn
copra
(Ashgar,
1988)
16,2
5 33 2 1,4
1,3
2,5
19,7
- Kali cần thiết cho sự tạo thành cơm dừa và dầu dừa. Bón kali sm ở giai đọan
m ươm cây con sẽ mọc mạnh, ra trái sớm, sai trái, làm tăng năng suất từ 15-
20%. Thiếu kali ở giai đọan đầu sẽ ảnh hưởng sâu xa đến năng suất dừa về sau
mặc dù thời gian sau được bón kali đầy đủ. Kali có ảnh hưởng đến việc tăng s
buồng, số hoa cái, tỉ lệ đậu trái, trọng lượng trái, giúp cây chống bệnh đốm lá. Do
đó, cây dừa thiếu kali thường cho ít trái, trái nhỏ và năng suất thấp. Triệu chứng
thiếu kali trên cây dừa cũng điển hình như các cây trồng khác là lá bị vàng và nâu
chóp lá và bìa lá, có hình chữ V, sau lan dần và clá bị khô nếu tình trạng thiếu
kali kéo dài. Triệu chứng biểu hiện trên tàu lá cũng như trên từng lá chét. Triệu
chứng thiếu kali dễ nhận biết trên cây dừa là lá bên dưới tán chết sớm, khô nhưng
không rụng nên thường có 5-6 tàu lá dừa khô còn dính trên cây.
- Đạm, ngoài vai trò giúp cho sự tăng trưởng của cây, còn giúp cho cây dừa phát
triển mạnh và ra hoa sớm, đạm còn có vai trò quan trọng là giúp cho cây dừa sản
xuất nhiều hoa cái. Nhiều nghiên cứu ở Ấn Độ cho biết khi số hoa cái/phát hoa ít
hơn 20 hoa thì nên nghĩ ngay đến việc bổ sung đạm. Đạm còn có tác dụng hổ
tương với kali. Đạm giúp cho cây dừa sử dụng kali hữu hiệu hơn. Cây dừa thiếu
đạm thường tăng trưởng chậm, cả tàu lá bị vàng. Lá non vẫn có màu xanh nhạt
nhưng không láng như cây đầy đủ đạm. Triệu chứng thường biểu hiện rõ lá già