intTypePromotion=1

Luận án Tiến sĩ Triết học: Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn (CHDCND Lào) từ năm 1991 đến năm 2010

Chia sẻ: Nguyễn Minh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:170

0
112
lượt xem
15
download

Luận án Tiến sĩ Triết học: Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn (CHDCND Lào) từ năm 1991 đến năm 2010

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án Tiến sĩ Triết học: Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn (CHDCND Lào) từ năm 1991 đến năm 2010 nhằm nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng mối quan hệ hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2010, góp phần tổng kết thực tiễn một chủ trương quan trọng trong chính sách đối ngoại của Đảng trên một địa bàn nhất định, từ đó đóng góp cơ sở lịch sử cho quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ tăng cường mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện với các tỉnh bạn trong thời gian tới đạt hiệu quả hơn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án Tiến sĩ Triết học: Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn (CHDCND Lào) từ năm 1991 đến năm 2010

  1. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng gần gũi trên bán đảo Đông Dương, núi sông liền một dải; nhân dân hai nước cùng có truyền thống cần cù sáng tạo, đã có mối liên hệ qua lại thân thiết từ lâu đời. Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, hai dân tộc đã luôn luôn đoàn kết, kề vai sát cánh bên nhau trong đấu tranh giành độc lập, tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước. Hơn 80 năm qua, kể từ ngày có Đảng lãnh đạo, mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cayxỏn Phômvihản cùng các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp không ngừng đơm hoa kết trái. Mối quan hệ thủy chung, trong sáng hiếm có này đã đi suốt chặng đường lịch sử vẻ vang, trở thành tài sản vô giá của hai dân tộc và nhân dân hai nước; là biểu hiện sinh động của sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, là mẫu mực về chính sách láng giềng hữu nghị giữa hai nước. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đánh giá: "Mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào đời đời là niềm tự hào của hai dân tộc chúng ta. Đó là quan hệ mẫu mực hiếm có, vô cùng trong sáng, rất mực thủy chung, gian khổ không đổi thay, đạn bom không lay chuyển" [49, tr.120]. Trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và quân dân Việt Nam thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào theo quan điểm: giúp nhân dân nước bạn là tự giúp mình của Chủ tịch Hồ Chí Minh “như một chân lý vĩnh hằng, thể hiện bản chất cách mạng trong sáng, cao quý của quan hệ dân tộc - quốc tế trong thời đại mới” [82, tr.16]. Mối quan hệ ấy càng thể hiện rõ nét, sinh động giữa các tỉnh có chung đường biên giới, từng chung lưng đấu cật nhằm chống lại âm mưu của các thế lực ngoại xâm, để cùng tồn tại và phát triển, trong đó, có tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn. Tỉnh Hà Tĩnh gần gũi với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn về địa lý, cùng dựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ và có những điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa truyền thống, điều kiện kinh tế - xã hội. Đây là cơ sở khách
  2. 2 quan, bền vững của mối quan hệ hữu nghị đoàn kết gắn bó keo sơn giữa nhân dân ba tỉnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tình cảm đó được thể hiện sinh động trong lịch sử gần một thế kỷ đấu tranh cho độc lập tự do của nhân dân hai nước chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và cùng tiến hành quá độ đi lên CNXH. Mối quan hệ hữu nghị truyền thống hiếm có ấy càng có ý nghĩa đặc biệt đối với nhân dân hai nước nói chung và Đảng bộ nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn nói riêng trong sự nghiệp đổi mới, trước nhiều vận hội nhưng cũng gặp không ít thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Trong tổng thể mối quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào, mối quan hệ giữa tỉnh Hà Tĩnh và Bôlykhămxay, Khămmuộn là một bộ phận cấu thành rất quan trọng, là sự biểu hiện sinh động, cụ thể của quan hệ đối ngoại giữa hai nước. Trên cơ sở mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước, mối quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện giữa tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn ngày càng được củng cố và không ngừng phát triển. Sau năm 1975, quan hệ hai nước Việt Nam - Lào nói chung, tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn nói riêng có những chuyển biến mới. Từ quan hệ chủ yếu về chính trị, quân sự, đối ngoại chuyển sang quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đặc biệt, từ năm 1991, khi tỉnh Hà Tĩnh được tái lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, quan hệ hữu nghị và hợp tác với hai tỉnh bạn có những bước phát triển mới, đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Hiện nay, trong bối cảnh hai nước Việt Nam và Lào tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hợp tác và phát triển, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; đặc biệt là việc thực hiện Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, các nội dung hợp tác mang tính chiến lược Việt Nam - Lào đang đi vào chiều sâu, nhiệm vụ xây dựng mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn càng được tích cực đẩy mạnh và tăng cường.
  3. 3 Do đó, việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng mối quan hệ hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh từ ngày tái lập tỉnh đến năm 2010, nhằm tổng kết, đánh giá những thành tựu đạt được, chỉ rõ những hạn chế, khiếm khuyết, qua đó đúc rút những kinh nghiệm trong quá trình hoạch định chủ trương cũng như trong tổ chức triển khai thực hiện, nhằm góp phần thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ với hai tỉnh bạn là việc làm cần thiết. Đồng thời, nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng mối quan hệ hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh trong chặng đường gần 20 năm đổi mới góp phần tổng kết thực tiễn quá trình thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở của Đảng trên một địa phương cụ thể, có nhiều đặc thù cả về điều kiện tự nhiên và lịch sử. Trên cơ sở đó, luận án không chỉ làm phong phú thêm lịch sử hoạt động đối ngoại của Đảng, mà còn góp phần nghiên cứu toàn diện hơn về lịch sử Đảng bộ địa phương, cung cấp cơ sở lịch sử để giáo dục và phát huy truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa nhân dân tỉnh Hà Tĩnh với nhân dân tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn, góp phần tăng cường hơn nữa mối quan hệ hợp tác lâu dài, toàn diện, bền vững giữa hai nước Việt Nam - Lào trong điều kiện lịch sử mới. Xuất phát từ ý nghĩa nêu trên, tác giả chọn đề tài: "Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn (Nước CHDCND Lào) từ năm 1991 đến năm 2010" làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. 2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án 2.1. Mục đích Nghiên cứu, tái hiện lại một cách chân thực, khách quan, khoa học và có hệ thống toàn bộ quá trình lãnh đạo xây dựng mối quan hệ hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2010; góp phần tổng kết thực tiễn một chủ trương quan trọng trong chính sách đối ngoại của Đảng trên một địa bàn nhất định; đánh giá những thành tựu đạt được và những bất cập, hạn chế; đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu trong quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện, từ đó đóng góp cơ sở lịch sử cho quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ tăng cường mối quan hệ
  4. 4 hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn trong thời gian tới có hiệu quả hơn. 2.2. Nhiệm vụ - Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành mối quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn; những nhân tố cơ bản tác động, ảnh hưởng tới mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn từ năm 1991 đến năm 2010; - Hệ thống hoá chủ trương của và quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng và phát triển mối quan hệ hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh từ năm 1991 đến năm 2010; - Đánh giá những thành tựu nổi bật, những khó khăn, hạn chế, bất cập trong quá trình hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ tăng cường tình hữu nghị và hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh từ năm 1991 đến năm 2010; - Làm rõ những đặc điểm của mối quan hệ giữa tỉnh Hà Tĩnh với hai tỉnh nước bạn Lào cùng chung biên giới; - Đúc kết các kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển mối quan hệ quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh từ năm 1991 đến năm 2010. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận án nghiên cứu quá trình hoạch định chủ trương và lãnh đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 1991 - 2010. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh từ năm 1991 đến năm 2010, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục đào tạo, y tế, khoa học công nghệ,
  5. 5 an ninh quốc phòng, công tác biên giới, hoạt động tình nghĩa, giao lưu hữu nghị nhân dân. Về không gian: các hoạt động quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện trên địa bàn ba tỉnh: tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Bôlykhămxay và tỉnh Khămmuộn Về thời gian: Luận án nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng quan hệ hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2010. 4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 4.1. Cơ sở lý luận Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về quan hệ đối ngoại nói chung, quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện với nước Cộng hòa DCND Lào nói riêng. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của Luận án là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, đồng thời kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành, trong đó đặc biệt chú trọng phương pháp khảo sát thực tế, thống kê. 4.3. Nguồn tài liệu - Các văn kiện liên quan đến quan hệ đối ngoại hai Đảng, Nhà nước và Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh: văn kiện của ĐCS Việt Nam và Đảng NDCM Lào; văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh và các NQ chuyên đề của BCH, BTV Tỉnh ủy Hà Tĩnh các khóa XIII, XIV, XV, XVI, XVII; các NQ, Chương trình hành động, Đề án, Quy hoạch, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của HĐND, UBND tỉnh. - Nguồn tài liệu về mối quan hệ ba tỉnh như: Báo cáo tổng kết, sơ kết đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ hợp tác giữa ba tỉnh trên các lĩnh vực từ 1991 - 2010; Văn bản hội đàm giữa lãnh đạo cấp cao tỉnh Hà Tĩnh với hai tỉnh bạn qua các chuyến thăm và làm việc chính thức; Văn bản ghi nhớ của các đoàn công tác các ngành, đoàn thể, các tổ chức kinh tế xã hội, các địa phương, đơn vị; các công văn, quyết định, công thư, các văn bản lưu tại TTLT tỉnh,
  6. 6 Phòng Lưu trữ - Văn phòng Tỉnh ủy và các sở, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Nghệ An và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn. - Những công trình nghiên cứu gồm sách, báo, tạp chí, luận án viết về quan hệ hợp tác giữa Việt Nam - Lào nói chung, tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn nói riêng, có liên quan đến đề tài. Các bài báo, phim tài liệu, bản đồ có liên quan đến đề tài... - Kết quả khảo sát thực tế và phỏng vấn một số nhân chứng lịch sử tại tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn. 5. Đóng góp của luận án - Qua sưu tầm tài liệu, nghiên cứu, khảo sát thực tế về ba tỉnh, Luận án làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành mối quan hệ đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn trong thời gian từ năm 1991 đến năm 2010. - Đánh giá một cách khách quan thực trạng, những kết quả đạt được, những khó khăn, hạn chế, bất cập trong quá trình hoạch định chủ trương và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ tăng cường tình hữu nghị và hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh. Từ đó, luận án góp phần giúp cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, các tập thể, cá nhân lên quan có thêm căn cứ khoa học và tư liệu thực tiễn để tham khảo, vận dụng trong quá trình tham mưu, xây dựng chủ trương cũng như việc tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn trong thời gian tới. - Luận án góp phần cung cấp thêm nguồn thông tin, tư liệu để có cái nhìn toàn cảnh, có hệ thống về quan hệ hữu nghị hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn giai đoạn 1991 - 2010, từ đó góp phần giáo dục truyền thống, làm phong phú thêm lịch sử Đảng bộ và lịch sử địa phương tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn. 6. Bố cục luận án Ngoài phần mở đầu, Tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có 03 chương nội dung, 6 tiết
  7. 7 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam đi vào lịch sử thế giới như một biểu tượng sáng ngời về tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản, một tấm gương mẫu mực và hiếm có về sự thuỷ chung, trong sáng trong lịch sử quan hệ quốc tế. Vì vậy, quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một chủ đề được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này, nổi bật là những công trình nghiên cứu trên các nhóm vấn đề sau: 1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến quan hệ Việt Nam - Lào Các công trình nghiên cứu tình hình thế giới, khu vực, quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta qua các thời kỳ, trong đó đã đề cập đến mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, đáng chú ý là: "Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc" của Bộ Ngoại giao [29]; "Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000" của Bộ Ngoại giao [30]; “Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta” của Ban Tư tưởng văn hóa trung ương [17]… Các bài nói, bài viết của các nhà nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như: "Thế giới năm qua và nhiệm vụ đối ngoại của Đảng ta trong năm 2001", của Nguyễn Dy Niên [83]; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào" của Trịnh Nhu [82]... Bên cạnh đó còn có một số hội thảo khoa học về quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào. Các công trình này đã tiếp cận được nhiều tư liệu quan trọng ở cả hai quốc gia và tập trung theo các chủ đề chung nhằm dựng lại lịch sử mối quan hệ giữa hai nước, trong đó đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể như: Chính trị, Ngoại giao, An ninh, Quân sự, Văn hoá - giáo dục, Kinh tế. Đặc biệt, từ sau Đại hội X của ĐCS Việt Nam, chủ trương nhằm tăng cường hơn nữa gìn giữ những giá trị truyền thống lịch sử, đúc kết những vấn đề lý luận, thực tiễn, rút ra những bài học kinh nghiệm, tiếp tục vun đắp và
  8. 8 nâng cao hiệu quả mối quan hệ, hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai nước, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa X) và Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào (khóa VIII) đã quyết định tổ chức hợp tác cùng biên soạn công trình “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào; Lào - Việt Nam (1930- 2007)”[68]. Công trình gồm có 6 sản phẩm: “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào; Lào - Việt Nam 1930 -2007”; Văn kiện Đảng và Nhà nước; Biên niên sự kiện; Hồi ký; tập Sách ảnh tư liệu và bộ phim “Bản anh hùng ca quan hệ Việt - Lào”. Ðây là công trình có quy mô lớn nhất từ trước tới nay về mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước, được Bộ Chính trị và Ban Bí thư của hai Ðảng trực tiếp chỉ đạo. Công trình được nghiên cứu, biên soạn công phu, mang tầm vóc lớn lao của mối quan hệ đặc biệt giữa hai Ðảng, hai Nhà nước, hai dân tộc và nhân dân hai nước, đúng với quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị Ðảng Cộng sản Việt Nam và Ðảng Nhân dân Cách mạng Lào. Công trình đã tái hiện sinh động lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam; làm sáng tỏ quy luật tất yếu, khách quan hai dân tộc phải đoàn kết, nương tựa vào nhau, chống lại kẻ thù chung trong chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây và cùng nhau “chia ngọt sẻ bùi” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Công trình đã góp phần tổng kết, phân tích, đánh giá những đặc điểm của mối “quan hệ đặc biệt” và đúc kết những bài học kinh nghiệm, đồng thời gợi mở những vấn đề vận dụng vào hiện tại và tương lai. Bộ sách thuộc công trình đã được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2011, 2012. Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về Đảng Cộng sản cầm quyền và xây dựng đảng cầm quyền trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam và kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường định hướng XHCN ở Lào, phân tích những tương đồng và khác biệt của công tác xây dựng đảng cầm quyền ở Việt Nam và Lào, cuốn sách đề ra một số giải pháp nhằm xây dựng đảng cầm quyền ở Việt Nam và Lào, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng đảng cầm quyền ở hai nước. Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu về Lào và một số nước trong khu vực cũng ít nhiều đề cập đến mối quan hệ với Việt Nam như: "Góp phần nhận thức thế giới đương đại" của Nguyễn Đức Bình (Chủ biên) [27]. Các tác
  9. 9 giả đã đề cập đến tình hình thế giới, khu vực, phân tích những thời cơ, thách thức đối và những vấn đề đặt ra đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á trong việc hoạch định đường lối chính sách đối ngoại. Một số luận án tiến sỹ của nghiên cứu sinh Lào bảo vệ thành công ở Việt Nam có đề cập đến quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, trong đó tập trung đi sâu vào những vấn đề đặt ra của sự phát triển trong thời kỳ đổi mới, đó là những vấn đề đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đổi mới tác động của nhà nước nhằm khuyến khích phát triển hàng hoá trong nông nghiệp… có trình bày những tác động của yếu tố khu vực, trong đó có Việt Nam. 1.2. Các công trình khoa học đề cập đến quan hệ Việt Nam - Lào trên một số lĩnh vực, vùng miền hoặc địa phương cụ thể Trên góc độ nghiên cứu này, có các công trình, các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ nghiên cứu về quan hệ hữu nghị hợp tác đặc biệt Việt Nam - Lào nói chung và quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các tỉnh vùng Bắc Trung bộ của Việt Nam với các tỉnh cùng chung biên giới vùng Trung Lào. Các tác giả đã có nhiều đóng góp trong việc sưu tầm những tư liệu gốc có giá trị, đáng tin cậy, phong phú, có cả tài liệu điền dã thực tế phục vụ nghiên cứu. Các công trình này đã trình bày khá chi tiết những vấn đề về điều kiện địa lý, truyền thống lịch sử, văn hóa và mối quan hệ giữa các tỉnh vùng Bắc Trung bộ của Việt Nam với các tỉnh cùng chung biên giới vùng Trung Lào trên một số lĩnh vực, chủ yếu là về kinh tế nông nghiệp và quốc phòng, an ninh; khái quát mối quan hệ về vấn đề này trên những nội dung lớn là giải quyết vấn đề biên giới, bảo về chủ quyền anh ninh biên giới Việt Nam - Lào. Trên cơ sở các nghiên cứu khoa học, luận án rút ra một số nhận xét về thuận lợi, khó khăn, bài học kinh nghiệm, phương thức, đặc điểm; đưa ra quan điểm quan hệ hợp tác, kiến nghị về cơ chế, chính sách để thực hiện tốt việc mở rộng hợp tác phù hợp với thực tiễn trong những năm tiếp theo. Kết quả nghiên cứu của các công trình này đã cung cấp cho tác giả những cơ sở quan trọng trong quá trình phân tích, đánh giá và bước đầu tổng kết những nét đặc thù trong quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay, Khăm muộn.
  10. 10 1.3. Các công trình khoa học liên quan trực tiếp đến quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay, Khăm muộn Các công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh khác nhau về quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với các tỉnh vùng Trung Lào, trong đó có tỉnh Bôlykhămxay, Khăm muộn, như : "Hà Tĩnh kháng chiến chống Mỹ, cứu nước", "Hà Tĩnh 30 năm kháng chiến", của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hà Tĩnh, Hà Tĩnh [31, 32]; "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh", tập 1, Đặng Duy Báu (Chủ biên) [25]; "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh", tập 2, Đặng Duy Báu (Chủ biên) [26]; "Lịch sử Hà Tĩnh", tập 1, Đặng Duy Báu (Chủ biên) [23]; "Lịch sử Hà Tĩnh", tập 2, Đặng Duy Báu (Chủ biên) [24]; Lê Văn Chất, "Mở rộng liên kết giao lưu quốc tế” [41]. Một số luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ nghiên cứu quan hệ hữu nghị hợp tác giữa một số tỉnh vùng Bắc Trung bộ của Việt Nam với một số tỉnh vùng Trung Lào, trong đó có tỉnh Hà Tĩnh. Có thể thấy rằng, dưới góc độ lịch sử (thông sử), đây là những công trình nghiên cứu có hệ thống về mối quan hệ giữa một số tỉnh vùng Trung Lào như Hủaphăn, Xiêngkhoảng, Bôlykhămxay, Khămmuộn với một số tỉnh vùng Bắc Trung bộ của Việt Nam như Hà Tĩnh, Nghệ An. Trong đó đi sâu phân tích các lĩnh vực quan hệ hợp tác về chính trị, quốc phòng - an ninh, biên giới, kinh tế, văn hóa và các lĩnh vực khác, đồng thời đưa ra những nhận xét về đặc điểm, thành tựu, khó khăn, triển vọng, bài học kinh nghiệm trong quan hệ hợp tác giữa các tỉnh. Luận án của chúng tôi sẽ kế thừa có chọn lọc một số kết quả để phục vụ cho việc mở rộng và nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ khoa học lịch sử Đảng, đặc biệt là quá trình xây dựng chủ trương, lãnh đạo tổ chức triển khai thực hiện, những kết quả đạt được, những khó khăn, hạn chế, những vấn đề đặt ra trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ hợp tác trên các lĩnh vực giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay và Khăm Muộn. 2. Những nội dung có liên quan đến đề tài luận án các công trình nghiên cứu đã đề cập đến Qua các công trình nghiên cứu đã được công bố, chúng tôi nhận thấy: Về quan hệ hai nước Việt - Lào:
  11. 11 Nhiều công trình nghiên cứu đã thể hiện khá toàn diện và sâu sắc về lịch sử, truyền thống, những thành tựu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và dựng xây đất nước qua các thời kỳ, những nét khái quát về quan hệ đối ngoại của nước CHDCND Lào với các nước trong khu vực và trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, như: tình hình thế giới, khu vực, những thời cơ, thách thức đối với Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế, đường lối chính sách đối ngoại của các nước trên thế giới, các nước trong khu vực Đông Nam Á, những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong việc hoạch định và việc tổ chức thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại trong thời kỳ đổi mới, nhất là đối với các nước bạn bè truyền thống, trong đó, đặc biệt là nhiệm vụ tăng cường tình hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện đối với nước bạn Lào anh em. Nhiều công trình nghiên cứu đã phản ánh khá toàn diện và sâu sắc mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước Việt Nam - Lào trong lịch sử. Đặc biệt, nhiều công trình nghiên cứu đã phản ánh khá toàn diện và sâu sắc tình đoàn kết chiến đấu cùng những thắng lợi vẻ vang của quân và dân hai nước trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; quá trình hoạch định, thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách ngoại giao, những thành tựu đã đạt được trong quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai Chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào anh em trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, một số công trình nghiên cứu đã đề cập khá sâu sắc những thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm trong quan hệ hợp tác giữa các ngành, các lĩnh vực của hai nước trong sự nghiệp đổi mới. Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu, các nguồn tài liệu chúng tôi tiếp cận được, quan hệ hợp tác giữa các địa phương, nhất là các tỉnh có chung đường biên giới hai nước chưa được đề cập, hoặc chỉ dừng lại ở việc nêu ví dụ điển hình, một số sự kiện, những vấn đề có tính chất sự vụ, thiếu tính tính toàn diện, hệ thống. Cho đến nay, chưa có những công trình chuyên khảo, luận án nghiên cứu một cách hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây
  12. 12 dựng quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các địa phương hai nước, nhất là các tỉnh cùng chung biên giới. Về quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn: Các bài viết được đăng trên các báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học ở Trung ương và địa phương đã khai thác, đề cập đến một số nội dung về quan hệ hợp tác giữa các tỉnh trên các lĩnh vực, nhất là quan hệ hữu nghị hợp tác, liên minh chiến đấu của quân dân các tỉnh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hợp tác về chính trị, an ninh, quốc phòng, đối ngoại... trong thời kỳ đổi mới. Phần lớn nội dung các bài viết đề cập đến những kết quả đạt được, những khó khăn, hạn chế, những vấn đề đặt ra hiện nay trong quá trình hợp tác giữa các tỉnh. Vấn đề Đảng lãnh đạo quá trình xây dựng mối quan hệ hợp tác giữa các tỉnh, chưa được đề cập, hoặc chỉ được nêu ra hết sức khái quát, chưa tương xứng với vị trí, vai trò và những đóng góp to lớn của Đảng bộ tỉnh trong quá trình hoạch định chủ trương, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa các tỉnh trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ trước đây cũng như trong sự nghiệp đổi mới ngày nay. Vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu, tổng kết một cách nghiêm túc, toàn diện và sâu sắc hơn. Năm 2009, tác giả đã hoàn thành luận văn Thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Đảng với đề tài: "Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo xây dựng mối quan hệ hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay từ năm 1991 - 2007"[122]. Trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ, luận văn chỉ mới nghiên cứu quá trình hoạch định chủ trương, đường lối và việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay từ năm 1991 đến năm 2007. Như vậy, từ tổng quan tình hình nghiên cứu có thể thấy rằng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quan hệ Việt Nam - Lào, quan hệ hợp tác giữa các tỉnh, vùng miền của Việt nam với các tỉnh có chung đường biên giới của Lào. Đặc biệt đã có những công trình nghiên cứu đề cập đến quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với một số tỉnh của Lào. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ tiếp cận của khoa học Lịch sử Đảng để phục đựng một cách đầy đủ, toàn diện quá trình Đảng bộ tỉnh Hà
  13. 13 Tĩnh lãnh đạo xây dựng phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn (CHDCND Lào) từ năm 1991 đến năm 2010. 3. Những nội dung luận án tập trung nghiên cứu: Những nội dung liên quan đến đề tài luận án của các công trình đã công bố là những tư liệu quý tác giả kế thừa để giải quyết những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Với mục đích và nhiệm vụ đặt ra, luận án tập trung nghiên cứu, làm sáng tỏ những nội dung sau: - Cơ sở lịch sử hình thành mối quan hệ quan hệ hợp tác của tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn (điều kiện tự nhiên, lịch sử, truyền thống, văn hóa... của ba tỉnh). - Cơ sở lý luận (đặt trong bối cảnh chung của cả nước và đường lối đối ngoại của Trung ương Đảng) và thực tiễn hình thành chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh xây dựng, phát triển quan hệ hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn giai đoạn 1991 - 2010. - Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa tỉnh Hà Tĩnh với hai tỉnh bạn theo tiến trình lịch sử, được phân chia thành hai giai đoạn căn cứ theo phân kỳ các nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh; Đồng thời, khắc họa quá trình phát triển nhận thức của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh trong quá trình lãnh đạo thực hiện qua hai giai đoạn (1991-2000 và 2001-2010). - Phục dựng bức tranh chân thực về quá trình quán triệt đường lối đối ngoại của Đảng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có nhiều điểm đặc thù, với những khó khăn và thuận lợi nhất định, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, an ninh - quốc phòng... qua hai giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2000 và từ năm 2001 đến năm 2010. - Từ những tư liệu khai thác được qua khảo sát thực tiễn, tổng kết, nhận định một cách khách quan những thành công, những hạn chế, khiếm khuyết trong quá trình hoạch định chủ trương cũng như trong quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh về lãnh đạo thực hiện xây dựng, phát triển quan hệ hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn trong gần 20 năm đổi mới (1991-2010).
  14. 14 Từ những thành công, hạn chế khiếm khuyết trong lãnh đạo thực hiện xây dựng, phát triển quan hệ hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh trong gần 20 năm (1991-2010), qua các nhiệm kỳ Đại hội, luận án làm sáng tỏ những đặc điểm trong mối quan hệ giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn trong điều kiện lịch sử, văn hóa, truyền thống có những đặc thù; đồng thời đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu cả trên phương diện quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng vận dụng vào địa phương, cả trên phương diện tổ chức chỉ đạo thực hiện chủ trương đó trên địa bàn cụ thể.
  15. 15 Chương 1 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG QUAN HỆ HỮU NGHỊ, HỢP TÁC VỚI TỈNH BÔLYKHĂMXAY VÀ KHĂMMUỘN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TĨNH TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000 1.1. QUAN HỆ HỮU NGHỊ, HỢP TÁC GIỮA NHÂN DÂN HÀ TĨNH VỚI TỈNH BÔLYKHĂMXAY VÀ KHĂMMUỘN TRƯỚC NĂM 1991 1.1.1. Những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn Điều kiện tự nhiên: Tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn là ba tỉnh liền kề về địa lý, núi liền núi, sông liền sông, có chung 145 km đường biên giới thuộc hai nước Việt Nam - Lào. Những điểm tương đồng về địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa, truyền thống là điều kiện thuận lợi để tỉnh Hà Tĩnh mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác với hai tỉnh bạn Lào trên nhiều lĩnh vực. Tỉnh Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An với chiều dài 88 km, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình với chiều dài 130 km, phía Đông giáp biển Đông với chiều dài 137 km, phía Tây giáp tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn - nước CHDCND Lào. Trên tuyến biên giới giữa tỉnh Hà Tĩnh và Bôlykhămxay, Khămmuộn có 12 cột mốc quốc giới. Nội biên có 9 xã biên giới thuộc 3 huyện là Hương Sơn, Hương Khê và Vũ Quang; có 5 Đồn biên phòng (575, 571, 567, 565, 563). Ngoại biên đối diện có 35 bản thuộc hai huyện Căm Cợt (Bôlykhămxay) và Na Kai (Khămmuộn); lực lượng vũ trang đóng trên biên giới của bạn có 2 đơn vị (Đồn 505 - Nậm Phào và Đồn 515 - Ma Ca). Tỉnh Hà Tĩnh có diện tích tự nhiên 6.055,6 km2. Năm 2010, dân số Hà Tĩnh khoảng 1,3 triệu người; Đảng bộ tỉnh có gần 8,5 vạn đảng viên, sinh hoạt tại 771 tổ chức cơ sở đảng, thuộc 12 Đảng bộ huyện, thành phố, thị xã và 7 Đảng bộ trực thuộc [93]; có 127 km đường Quốc lộ 1A, 87 km đường Hồ Chí Minh và 70 km đường sắt chạy dọc theo hướng Bắc - Nam; có Quốc lộ
  16. 16 8A và Đường 12 đi sang Lào và các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, có cảng biển nước sâu Vũng Áng, cảng Xuân Hải [134]. Tỉnh Hà Tĩnh có 12 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 10 huyện, với 261 xã, phường, thị trấn. Trong đó, có 3 huyện biên giới là: Hương Sơn (47 km biên giới) gồm 2 xã biên giới Sơn Kim và Sơn Hồng; Vũ Quang (45 km biên giới); Hương Khê (53 km biên giới) với 5 xã biên giới là Hoà Hải, Hương Vịnh, Phú Gia, Hương Lâm, Hương Liên. Tỉnh Bôlykhămxay là một trong 7 tỉnh thuộc vùng Trung Lào, là tỉnh lớn thứ 10 trong tổng số 17 tỉnh của nước CHDCND Lào, với diện tích 1.599.770 ha, dân số 422.300 người [71,tr.26]. Tỉnh Bôlykhămxay tiếp giáp với Việt Nam ở phía Đông với đường biên giới dài 165 km; tiếp giáp với Thái Lan ở phía Tây dọc theo sông Mê Kông với đường biên giới dài 195 km. Trong tổng số diện tích của tỉnh, 64 % thuộc địa bàn vùng sâu, vùng xa. Địa hình nghiêng dần từ dãy Phu Luông xuống khu vực sông Mê Kông, với nhiều dãy núi đá lớn có độ cao từ 300 đến 700m. Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới Bắc bán cầu, tỉnh Bôlykhămxay có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm là chủ yếu, phân thành hai mùa: mùa khô và mùa mưa. Mùa khô kéo dài 6 - 7 tháng, nhiều nơi thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội, nhất là đối với nông nghiệp. Về mùa mưa, đặc biệt là tháng 7, 8, 9, lượng mưa trung bình ở tỉnh Bôlykhămxay rất lớn, khoảng 1.600 - 1.800 mm/năm. Mùa mưa thường trùng với mùa lũ lớn do nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về nên đã gây ra lũ lụt và ngập úng kéo dài trên diện rộng ở một số vùng đồng bằng. Diện tích rừng của tỉnh Bôlykhămxay rất lớn, xấp xỉ 1.389.145 ha gồm: 3 khu bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia (296.500 ha); 4 khu rừng bảo tồn thuộc tỉnh (52.236 ha); 1 khu rừng tái sinh tự nhiên (10.200 ha), với độ che phủ gần 50%; có nhiều loại gỗ và lâm thổ sản quý hiếm. Đối với tỉnh Bôlykhămxay, rừng không chỉ là nguồn tài nguyên quý báu giúp địa phương phát triển kinh tế, đặc biệt là công nghiệp chế biến gỗ, khai thác khoáng sản, mà còn là nơi nương tựa cuộc sống của nhân dân các bộ tộc Lào. Nhiều đồng cỏ rộng lớn
  17. 17 trải dài dưới các vùng đồi núi rất thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi gian súc. Tỉnh Bôlykhămxay có tiềm năng lớn về khoáng sản như than, sắt, thiếc, muối, thạch cao, đá quý, đồng, chì, kẽm, vàng... Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, tỉnh Bôlykhămxay đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trên con đường phát triển, nhất là trình độ dân trí thấp, đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, chủ yếu dựa vào nghề nông và khai thác lâm thổ sản; hệ thống giao thông kém phát triển, chưa có đường sắt, nên việc đi lại, trao đổi buôn bán giữa các địa phương trong tỉnh và hợp tác với bên ngoài còn gặp rất nhiều khó khăn. Tỉnh Khămmuộn là tỉnh miền núi của Lào, có diện tích tự nhiên 16.315km2, dân số 55.985 người, mật độ dân số 22 người/km2. Trên địa bàn có quốc lộ 13, 12 và 8B đi qua, có hai cửa khẩu là Thà Khẹt - Nakhon Phannom giáp Thái Lan và Na Phào - Cha lo, tỉnh Quảng Bình - Việt Nam. Tỉnh Khămmuộn có 9 huyện, thị, gồm 1 thị xã Thà Khẹt (141 bản) và 8 huyện là Nacai (67 bản), Nhóm Mạ Lạt (71 bản), Hỉn Bun (66 bản), BuaLapha (82 bản), Ma HaXay (89 bản), Xay Bua Thoong (66 bản), Xe Băng Phay (50 bản), Noong Bốc (72 bản) [48, tr.42-32]. Tỉnh Khămmuộn cũng như các tỉnh miền núi khác của Lào, đồi núi và trung du chiếm 2/3 diện tích đất đai. Tỉnh Khămmuộn có địa hình dốc, với các núi đá vôi lớn; là tỉnh nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới nên nhiệt độ trung bình cả năm từ 20 - 340C, với hai mùa rõ rệt, mùa khô kéo dài 5 đến 6 tháng, lạnh và hanh, độ ẩm thấp, đất đai khô cằn. Bên cạnh đó, mùa mưa kéo dài 4 đến 5 tháng, là điều kiện thuận lợi cho các loại cây phát triển, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, ở đây có rất nhiều loại gỗ quý hiếm như lim, lát hoa, trầm hương và các loại lâm sản quý hiếm khác. Khămmuộn có hai con sông lớn là Xêbăngphai và Nậm thởn và một số con sông nhỏ do sông con Xêbăngphai tạo ra, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, thủy điện. Tuy điều kiện về tài nguyên thiên nhiên có nhiều thuận lợi, nhưng bên cạnh đó, tỉnh Khămmuộn cũng gặp rất nhiều khó khăn. Tỉnh Khămmuộn là một tỉnh có trình độ dân trí còn thấp, người dân sống chủ yếu bằng nghề nông và khai thác lâm thổ sản; cơ sở hạ tầng còn rất kém, giao thông đi lại khó
  18. 18 khăn. Cho đến năm 2010, tỉnh Khămmuộn vẫn chưa có đường sắt, hệ thống đường bộ sau nhiều năm khai thác đã xuống cấp nên việc buôn bán trao đổi hàng hoá, giao lưu cả trong và ngoài tỉnh đang gặp rất nhiều khó khăn, cản trở rất lớn đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh. Nhân tố dân cư và văn hóa xã hội: Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa dân tộc. Việt Nam có 54 dân tộc, Lào có 49 tộc người. Các nhóm dân tộc của Lào, đặc biệt là các nhóm cư dân sống ở các vùng biên giới hai nước, có quan hệ khăng khít với một số dân tộc thiểu số của Việt Nam. Một bộ phận cư dân hai nước vùng biên giới có thể cùng một tộc người, có quan hệ huyết thống thông qua hôn nhân, do đó một số bản của Lào giáp với biên giới Việt Nam có nhiều người Lào gốc Việt. Cùng chung dãy Trường Sơn, cư dân hai nước tất yếu ít nhiều chịu sự tác động qua lại của những xáo động cư dân qua những biến động trong tiến trình lịch sử. Trước khi hình thành các khu vực biên giới và cả về sau này, Lào là địa bàn gặp gỡ, giao lưu của các tộc người, từ các vùng phía Đông, phía Tây, nhất là biến động lên xuống của cư dân các vùng Bắc - Nam. Mối bang giao có từ lâu đời giữa cư dân của hai dân tộc là một trong những cơ sở vững chắc cho quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào ngày nay. Cư dân tỉnh Hà Tĩnh chủ yếu là người Kinh, cư trú phần lớn ở đồng bằng. Nội biên thuộc tuyến biên giới tỉnh Hà Tĩnh - tỉnh Bôlykhămxay và Khăm muộn có tổng số 58.801 hộ, với 228.889 khẩu, trong đó dân tộc Kinh có 58.473 hộ với 227.383 khẩu, dân tộc Lào có 117 hộ với 556 khẩu, dân tộc Mường có 52 hộ với 212 khẩu, dân tộc Thái có 09 hộ với 25 khẩu, dân tộc Mán Thanh có 121 hộ với 609 khẩu, dân tộc Chứt có 37 hộ với 154 khẩu [94]. Đồng bào các dân tộc ít người, gồm 328 hộ với 1.506 nhân khẩu sống tập trung và xen ghép tại 7 thôn, bản thuộc 3 huyện: Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang. Trong đó có dân tộc Chứt sống tập trung tại bản Rào Tre, xã Hương Liên và Bản Giàng II, xã Hương Vĩnh thuộc huyện Hương Khê, vốn có mối quan hệ đồng tộc với cư dân Lào vùng biên giới. Cư dân Lào cư trú dọc theo biên giới giáp tỉnh Hà Tĩnh gồm nhiều tộc người, chung sống trong các bản làng. Mặc dầu có rất ít sự tương đồng nguồn gốc dân cư nhưng do cùng sinh sống lâu đời dưới
  19. 19 mái nhà chung là dãy Trường Sơn, nên nhân dân ba tỉnh từ lâu đã sống rất hòa thuận, cùng chia ngọt sẻ bùi, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cũng như trong sự nghiệp dựng xây quê hương, đất nước. Đặc biệt, một bộ phận nhân dân các địa phương vùng biên giới ba tỉnh còn gắn bó thân thiết với nhau bởi các mối quan hệ thân tộc, thường xuyên qua lại, thăm viếng, trao đổi hàng hóa, vật dụng phục vụ cuộc sống thường nhật; chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, giao lưu văn hóa [93]. Trong tiến trình lịch sử, do nhiều nguyên nhân khác nhau, một bộ phận cư dân người Việt Nam di cư sang sinh sống, làm ăn và định cư trên đất Lào, từng bước hình thành nên cộng đồng Việt kiều ngày càng đông đảo ở một số địa bàn trên nước bạn. Cộng đồng khá đông đảo người Việt tại Lào đã và đang nỗ lực đóng góp sức mình góp phần tham gia phát triển kinh tế, văn hoá, làm thay đổi bộ mặt của nhiều thành phố, thị trấn và là cầu nối hết sức có ý nghĩa trong giao lưu kinh tế, văn hoá giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các bộ tộc Lào. Có thể khẳng định rằng, những nhân tố về dân cư nêu trên đã có những tác động lớn, góp phần tăng cường tình đoàn kết gắn bó keo sơn giữa nhân dân tỉnh Hà Tĩnh với nhân dân các bộ tộ Lào anh em. Về văn hóa, hai dân tộc Việt Nam và Lào có nhiều nét tương đồng. Việt Nam và Lào đều nằm trong vùng ảnh hưởng mạnh của nền văn hoá của hai quốc gia là Ấn Độ và Trung Quốc. Đặc biệt, Phật giáo có ảnh hưởng rất sâu đậm trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào. Trong tiến trình phát triển, mỗi quốc gia đều có truyền thống lịch sử lâu đời và đã tạo nên những thành tựu và cả những nét khác biệt trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội với những phong tục, tập quán tốt đẹp của từng dân tộc. Tuy nhiên, do gần gũi về địa lý cho nên từ xa xưa giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào đã có sự bang giao, nhất là các dân tộc ở dọc biên giới của hai nước. Xuất phát từ những tương đồng, ít nhiều chịu sự chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau về phương thức sinh hoạt vật chất, cư dân ba tỉnh cùng chung biên giới ngày càng xích lại gần nhau hơn và tất yếu chịu sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong sinh hoạt văn hóa tinh thần. Ngày nay, nhiều phong tục tập quán, nhất là trong ma chay, cưới xin, thờ cúng tổ tiên, thần linh... vốn là những nét đẹp văn hóa truyền
  20. 20 thống lâu đời của hai dân tộc Việt Nam - Lào, đã và đang được nhân dân ba tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn lưu truyền từ đời này sang đời khác. Do điều kiện đặc thù của địa bàn cư trú cùng với mối quan hệ mật thiết giữa các nhóm dân cư sống dọc biên giới cũng như các điều kiện cụ thể của lịch sử để lại, xuất phát từ nhu cầu giao tiếp giữa những cá nhân với cộng đồng vốn đã gần gũi về địa lý, phong tục tập quán, nên trên thực tế đường biên giới quốc gia không hề chia cắt tình cảm giữa các cộng đồng cư dân trên tuyến đường biên vốn có từ ngàn xưa cho đến ngày nay. Văn hóa là nhịp cầu nối để các quốc gia dân tộc trên thế giới xích lại gần nhau hơn. Chính sức mạnh của yếu tố văn hóa truyền thống đã góp phần quan trọng xây đắp nên tình cảm đặc biệt giữa nhân dân ba tỉnh Hà Tĩnh - Bôlykhămxay, Khămmuộn trong suốt chiều dài lịch sử từ ngàn xưa và ngày càng được phát huy, làm phong phú, đa dạng thêm trong thời kỳ đổi mới. Đặc điểm về kinh tế: Trong quá trình phát triển, do điều kiện gần gũi về địa lý và nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, sinh hoạt văn hóa tinh thần, phong tục tập quán, cư dân ba tỉnh dọc biên giới từ xưa đã sớm giao lưu, trao đổi về kinh tế và có những điểm tương đồng trong sinh hoạt vật chất. Bên cạnh làm nương rẫy, săn bắt hái lượm, khai thác nguồn lợi từ rừng núi, cư dân tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn đều sớm biết trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, phát triển kinh tế gia đình, ổn định cuộc sống. Ngày nay, ngoài tăng cường trao đổi, hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả trong sản xuất nông - lâm nghiệp, cư dân tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn, nhất là địa bàn giáp biên còn tăng cường buôn bán, trao đổi hàng hóa, du nhập ngành nghề mới; chia sẻ thông tin, kinh nghiệm cho nhau nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương nhằm giúp nhau phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Từ xa xưa, cư dân Việt Nam và Lào đã có sự giao lưu kinh tế, lúc đầu chủ yếu ở vùng biên giới, về sau, do yêu cầu ngày càng cấp thiết trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước nên đã từng bước hình thành và phát triển các tuyến đường thông từ Lào sang Việt Nam và ngược lại. Theo trục
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2