intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

LUẬN VĂN: Định hướng và giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thăng Bình

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:113

0
116
lượt xem
49
download

LUẬN VĂN: Định hướng và giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thăng Bình

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn: định hướng và giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh thăng bình', luận văn - báo cáo, thạc sĩ - tiến sĩ - cao học phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Định hướng và giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thăng Bình

  1. LUẬN VĂN: Định hướng và giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thăng Bình
  2. M ở Đ ầu 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Đối với NHTM hoạt động trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng thường chiếm tới hơn một nữa tổng tài sản có và tạo ra hơn 2/3 tổng thu nhập của hầu hết các NHTM. Để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, trong chiến lược kinh doanh của mình, mỗi ngân hàng cần phải xây dựng cho mình một chính sách tín dụng hợp lý, hiệu quả. Tuy nhiên, không phải quan hệ tín dụng nào cũng mang lại lợi ích và lợi nhuận cho ngân hàng. Bởi bên trong lợi ích ấy chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro có thể lường trước hoặc không lường trước được. Hậu quả của những rủi ro đó là sự gia tăng về chi phí, hạn chế quy mô tín dụng, gây ra thiệt hại về tài chính, hoặc có thể trầm trọng hơn đó là sự mất uy tín của cả ngân hàng và khách hàng, gây mất ổn định trong hoạt động ngân hàng cũng như hoạt động của nền kinh tế. Do đó, việc xây dựng chính sách tín dụng hợp lý, hiệu quả luôn gắn liền với việc xây dựng hệ thống các biện pháp phòng ngừa, xử lý RRTD một cách hữu hiệu. Vì vậy, công tác quản lý RRTD luôn là mối quan tâm hàng đầu của các NHTM. Việc giảm thiểu rủi ro và tổn thất trong hoạt động tín dụng luôn là yêu cầu đặt ra, đồng thời là mục tiêu hướng tới trong hoạt động cấp tín dụng của các NHTM. Trong những năm qua, cùng với việc đổi mới một cách căn bản về mô hình tổ chức, cơ chế điều hành và các nghiệp vụ trong toàn hệ thống thống ngân hàng Việt Nam, hoạt động tín dụng của các NHTM ở nước đã có những thay đổi lớn từ trong tư duy, nhận thức đến hành động của cả nhà quản lý cấp cao ngân hàng đến các nhân viên tín dụng. Việc cấp tín dụng trước đây của các NHTM chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo và xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ vay khi rủi ro xảy ra, thì nay đã dần chuyển sang cho vay chủ yếu dựa trên cơ sở đánh giá uy tín, khả năng trả nợ của khách hàng và áp dụng các biện pháp giám sát phòng ngừa, xử lý rủi ro mà các NHTM trên thế giới đã và đang áp dụng. Vì vậy, dư nợ của các NHTM ngày càng mở rộng, chất lượng tín dụng ngày càng được nâng lên. NHNo&PTNT chi nhánh huyện Thăng Bình không nằm ngoài xu hướng đổi mới chung đó, tốc độ tăng bình quân mỗi năm là 25%, đối tượng cho vay của ngân hàng ngày càng mở rộng, nhiều ngành nghề chăn nuôi, trồng trọt mới xuất hiện trên
  3. địa bàn đã được ngân hàng tiếp cận để mở rộng cho vay. RRTD ngày càng giảm thấp, nợ quá hạn và nợ khó đòi được kiểm soát. Tuy nhiên, trong quá trình cạnh tranh và hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ, hoạt động quản lý RRTD của chi nhánh Thăng Bình vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa tiếp cận được các phương pháp quản lý RRTD của ngân hàng hiện đại. Chính vì thế, chất lượng của các khoản mục cho vay chưa cao, nguy cơ rủi ro tiềm ẩn của các khoản mục tín dụng luôn đe doạ ngân hàng, nợ quá hạn còn phát sinh còn ở mức cao. Chính sự e ngại rủi ro làm cho việc mở rộng quy mô tín dụng thường gặp nhiều khó khăn. Do vậy, việc nghiên cứu giải pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh Thăng Bình là cấp thiết và luôn có ý nghĩa thực tiễn. Đó cũng chính là lý do cơ bản của việc lựa chọn đề tài: “Định hướng và giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thăng Bỡnh”. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Từ khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, hệ thống ngân hàng nước ta được chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng 1 cấp sang hệ thống ngân hàng 2 cấp, hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và kinh doanh tín dụng nói riêng được xác lập và phát triển. Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về rủi ro TDNH và quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM. Trong số đó có một số công trình đáng chú ý sau: - “Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng thúc đẩy phát triển công nghiệp ngoài quốc doanh ở thủ đô Hà Nội” (1997). Luận văn thạc sĩ Kinh tế của Lê Anh Hào, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. - “Đổi mới hoạt động tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” (1999). Luận văn thạc sĩ của tác giả Võ Văn Lâm, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. - “Giải pháp quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công thương Thái Bình” (2002). Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Quang Dũng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. - “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng Công thương Việt Nam” (2004), Luận văn thạc sĩ Kinh tế của tác giả Mai Văn Hoạt. Học
  4. viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. - “Nâng cao chất lượng tín dụng tại sở giao dịch I Ngân hàng Công thương Việt Nam- Thực trạng và giải pháp” (2005). Luận văn thạc sĩ Kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Loan, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Các công trình này đã làm rõ một số lý luận chung về rủi ro TDNH, về phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM. Nhưng cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về RRTD và giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh Thăng Bình. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về rủi ro TDNH và giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM, đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh Thăng Bình. Từ mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra gồm: - Làm rõ những vấn đề lý luận về RRTD và hạn chế RRTD của NHTM. - Đánh giá thực trạng về RRTD và công tác phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT chi nhánh Thăng Bình trong thời gian qua. Qua đó, chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế trong công tác phòng ngừa, hạn chế RRTD và những nguyên nhân chủ yếu. - Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT chi nhánh Thăng Bình. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM và công tác phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM. Về phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tại NHNo&PTNT ở địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam từ năm 2001 đến nay. 5. Phương pháp nghiên cứu Thực hiện đề tài trên, luận văn sử dụng các phương pháp như: Phép biện chứng của Mác xít
  5. Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và tổng hợp Phương pháp mô hình hoá, so sánh, đối chiếu Một số phương pháp khác. 6. Những đóng góp của đề tài - Hệ thống hoá được các vấn đề lý luận cơ bản về RRTD và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM. - Đánh giá thực trạng về RRTD và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT chi nhánh Thăng Bình trong thời gian qua, đồng thời phân tích những kết quả đạt, những tồn tại, hạn chế trong việc hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng và những nguyên nhân chủ yếu. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT chi nhánh Thăng Bình. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài lời mở đầu, kiến nghị, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
  6. Chương 1 một số vấn đề về rủi ro tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1. Một số vấn đề về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1.1. Quan niệm về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1.1.1. Quan niệm về rủi ro và rủi ro trong kinh doanh Trong cuộc sống hàng ngày, rủi ro có thể xuất hiện trên mọi lĩnh vực, mọi lúc, mọi nơi và không ngoại trừ một ai. Khi xã hội loài người càng phát triển, hoạt động của con người ngày càng đa dạng, phong phú, phức tạp thì rủi ro cũng xuất hiện ngày càng nhiều. Trong kinh doanh, mối nguy cơ rủi ro là rất lớn vì các nhà kinh doanh không những gánh chịu các rủi ro chung như thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh,... mà còn gánh chịu cả về sự biến động của giá cả, nợ nần, thua lỗ. Vì vậy, vấn đề rủi ro rất được nhiều nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu. Có rất nhiều cách hiểu rủi ro khác nhau, cho đến nay, chưa có một định nghĩa thống nhất thế nào là rủi ro. Các trường phái và các tác giả đã đưa ra định nghĩa khác nhau về rủi ro. Nhìn chung có 2 quan niệm về rủi ro như sau: * Theo quan niệm truyền thống, có một số định nghĩa về rủi ro như sau: - Theo Từ điển tiếng Việt do trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản 1995 thì “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”. - Theo giáo sư Nguyễn Lân: “Rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự không may mắn” [25, tr.25]. - Theo tiến sĩ Hồ Diệu: “Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút về lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến” [25, tr.25]. Như vậy, theo quan niệm truyền thống, rủi ro được định nghĩa là những điều không may mắn xảy ra cho con người, làm mất mát, thiệt hại về tài sản hay phát sinh một khoản nợ. Quan niệm này cho rằng rủi ro chỉ gắn liền với mất mát, thiệt hại hay
  7. khó khăn. * Theo quan niệm hiện đại, có một số định nghĩa điển hình về rủi ro như sau: - Theo Frank Knight thì “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”. - Theo Allan Willett “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi”. - Theo Irving Preffer “Rủi ro là tổng hợp những ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”. Như vậy, theo quan niệm hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được. Quan niệm này cho rằng rủi ro có thể mang đến tổn thất, mất mát, nguy hiểm cho con người nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội. Vì vậy, có thể nói, rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. * Trong kinh doanh người ta thường đề cập đến 2 khái niệm rủi ro sau: - Rủi ro thuần túy là rủi ro chỉ mang lại những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm như hỏa hoạn, trộm cắp, tai nạn,..., làm phát sinh một khoản chi phí để bù đắp thiệt hại. Vì vậy, loại rủi ro này cần phải có biện pháp phòng tránh hoặc hạn chế. - Rủi ro suy tính (hay theo lý thuyết của A.M.Mowbray Blanchad Williams còn gọi là rủi ro mang tính đầu cơ) là rủi ro mà trong đó những cơ hội tạo ra thuận lợi gắn với những nguy cơ gây ra tổn thất, loại rủi ro này là động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh và có tính hấp dẫn của nó. Để có biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong kinh doanh, người ta thường phân loại rủi ro theo nguồn rủi ro (theo nguyên nhân), có những nguồn rủi ro như sau: + Rủi ro do môi trường thiên nhiên. Nhóm rủi ro này do các hiện tượng thiên nhiên như động đất, núi lửa, bão lũ,..., gây ra. Những rủi ro này thường dẫn đến những thiệt hại to lớn về người và tài sản. + Rủi ro do môi trường xã hội. Nhóm rủi ro này do sự thay đổi các chuẩn mực, hành vi con người, cấu trúc xã hội, các định chế,... gây ra. + Rủi ro do môi trường văn hóa. Là những rủi ro do thiếu hiểu biết về phong tục tập quán, tín ngưỡng, lối sống, đạo đức của dân tộc, từ đó có cách hành xử không phù hợp. + Rủi ro do môi trường chính trị. Nhóm rủi ro này do sự bất ổn của môi trường
  8. chính trị. Môi trường chính trị ổn định sẽ giảm thiểu rất nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp. + Rủi ro do môi trường luật pháp. Luật pháp đề ra các chuẩn mực mà mọi người phải thực hiện, tuy nhiên, xã hội luôn phát triển, nếu các chuẩn mực luật pháp không phù hợp với bước tiến của xã hội thì sẽ gây ra rủi ro. Ngược lại, nếu luật pháp thay đổi nhiều, không ổn định cũng gây ra khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp. + Rủi ro do môi trường kinh tế. Mọi hiện tượng diễn ra trong môi trường kinh tế như tốc độ phát triển kinh tế, khủng hoảng, lạm phát, suy thoái kinh tế,..., đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp, gây ra những rủi ro, bất ổn. + Rủi ro do môi trường hoạt động của tổ chức. Trong quá trình hoạt động của mọi tổ chức, có thể phát sinh nhiều rủi ro. Rủi ro có thể phát sinh ở nhiều lĩnh vực như công nghệ, tổ chức bộ máy, văn hóa tổ chức, tuyển dụng, đãi ngộ, quan hệ khách hàng, đối thủ cạnh tranh, tâm lý của người lãnh đạo. + Rủi ro do nhận thức của con người. Một khi nhận diện và phân tích không đúng vấn đề thì tất yếu sẽ có kết luận và quyết định sai. Tóm lại: Trong kinh doanh, rủi ro được hiểu là sự bất trắc có thể đo lường được, nó có thể mang đến những tổn thất, thiệt hại, nguy hiểm, hoặc làm mất đi những cơ hội sinh lợi nhưng cũng có thể đem đến những lợi ích, những cơ hội thuận lợi. Vì vậy, việc nghiên cứu rủi ro để có biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực và tìm kiếm những cơ hội thuận lợi trong kinh doanh là điều hết sức cần thiết trong điều kiện kinh doanh ngày nay. 1.1.1.2. Quan niệm về rủi ro tín dụng của NHTM Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn có tiềm ẩn nguy cơ gặp phải rủi ro cao. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, rủi ro ngân hàng thường ít được đề cập đến. Khi rủi ro xảy ra, Nhà nước thường sử dụng các biện pháp hành chính để ngăn chặn như phát hành tiền, không cho các doanh nghiệp, cá nhân rút tiền... Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượng mất khả năng thanh toán ở các doanh nghiệp xảy ra thường xuyên, việc cho vay không thu được nợ, quản lý ngân hàng không chặt chẽ, các ngân hàng bị thua lỗ, khách hàng đến rút tiền ào ạt, mất khả năng thanh toán, thậm chí phá sản là hiện tượng tất yếu.
  9. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là biến cố không mong đợi xảy ra gây thiệt hại, mất mát về tài sản, thu nhập của ngân hàng trong quá trình kinh doanh. Theo các chuyên gia trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng thì rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm những loại sau: - Rủi ro do bị ứ đọng vốn. Nguồn vốn hoạt động của NHTM chủ yếu là từ vốn huy động của công chúng. Khi vốn huy động của NHTM không chuyển sang được các tài sản có sinh lợi, từ đó không có lãi để trang trải lãi vay cho người gởi, các chi phí nghiệp vụ, quản lý... gây ra thua lỗ trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Rủi ro này thường gặp phải trong trường hợp nền kinh tế không ổn định, ngân hàng không có tín nhiệm đối với khách hàng, hay do cơ cấu lãi suất không phù hợp. - Rủi ro do thiếu vốn. Trường hợp ngân hàng không đủ ngân quỹ, các tài sản có lưu hoạt, cùng với việc gia tăng vốn từ các nguồn vốn khác khiến nó không đáp ứng được các nghĩa vụ chi trả và các ràng buộc về tài chính. Nguyên nhân của rủi ro này là do việc hoán chuyển kỳ hạn nguồn vốn và sử dụng vốn, do sự biến động mang tính chất thời vụ của người cần vay và người cần gởi, những biến động mang tính chất bất thường không dự đoán được. Từ đó, làm cho ngân hàng không nhận được tiền gởi, không thu được hay không mở rộng được các tài sản nợ để thực hiện các nghĩa vụ trên, từ đó gây mất lòng tin cho khách hàng, làm cho nhu cầu rút tiền ngày càng gia tăng. Để đối phó với trường hợp này, ngân hàng buộc phải thu hồi các khoản vay chưa đến hạn, bán lại các chứng khoán hay vay nóng các ngân hàng khác,... Tất cả những hoạt động này gây thiệt hại lớn cho ngân hàng, nếu trầm trọng, sẽ đưa ngân hàng đến bên bờ vực phá sản. - Rủi ro lãi suất. Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất của các khoản tiền vay được xem là giá cả của món vay, lãi suất được hình thành và chịu tác động của các quy luật kinh tế khách quan, như quy luật cung cầu, quy luật giá trị,... Vì vậy, lãi suất luôn biến động làm thay đổi tiền lãi, thu nhập của ngân hàng, có thể làm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị thua lỗ. - Rủi ro hối đoái. Tỷ giá hối đoái là giá cả của 1 đồng tiền tính ra một đồng tiền khác. Trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá luôn biến động, sự biến động tỷ giá sẽ làm cho tài sản, thu nhập của ngân hàng bị đe dọa khi ngân hàng sở hữu chứng khoán bằng
  10. ngoại tệ hay cho vay bằng ngoại tệ. - Rủi ro thuần túy. Đây là những rủi ro không lường trước được, liên quan đến thiên tai, hỏa hoạn, động đất,... và liên quan đến đạo đức như lừa đảo, trộm cắp làm thiệt hại hay phá hủy tài sản của ngân hàng. - Rủi ro mất khả năng thanh toán. Đây là rủi ro riêng có của ngân hàng, nó liên quan đến sự sống còn của doanh nghiệp ngân hàng. Rủi ro này thường là hậu quả của một hay nhiều rủi ro trên mà ngân hàng không lường được. Khi vốn tự có của ngân hàng không bù đắp được các khoản mất mát, thiệt hại thì sẽ dẫn đến vỡ nợ. - Rủi ro tín dụng. Khoản mục tín dụng thường chiếm tỷ trọng chủ yếu, khoảng từ 1/2 đến 2/3 trong tổng tài sản có sinh lợi của ngân hàng và là khoản mục tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu (hơn 2/3) cho ngân hàng, nhưng cũng lại là khoản mục chứa đựng nguy cơ rủi ro cao và một khi xảy ra thì gây thiệt hại khá lớn cho các ngân hàng. Để hiểu rõ về RRTD, chúng ta phân tích định nghĩa tín dụng của Mác. Theo Mác: Tín dụng là sự chuyển nhượng lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau 1 thời gian nhất định thu lại được lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Mác cho rằng: Tiền chẳng qua chỉ rời tay người sở hữu trong 1 thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động. Cho nên tiền không phải được bỏ ra để thanh toán cũng không tự đem bán đi, nó chỉ đem cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại với điều kiện là nó sẽ quay về điểm xuất phát với 1 kỳ hạn nhất định. Do vậy, một nguyên tắc cơ bản trong quan hệ tín dụng là nguyên tắc hoàn trả: Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn. Nếu vi phạm nguyên tắc này thì ngân hàng gặp phải rủi ro [10, tr.462]. Như vậy, có thể hiểu RRTD là việc ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng mà các khoản thu nhập dự tính mang lại từ tài sản có sinh lợi của ngân hàng không được hoàn trả đầy đủ cả về số lượng và thời hạn làm cho các ngân hàng luôn ở trong tình trạng đe dọa thua lỗ, phá sản. Hay nói cách khác, RRTD là những tổn thất tài sản khi bên vay (khách hàng) không có khả năng thanh toán khoản vay theo đúng trong hợp đồng tín dụng đã thỏa thuận với ngân hàng.
  11. Tóm lại, hoạt động của ngân hàng rất mạo hiểm và nguy cơ gặp phải rủi ro cao, do vậy, cần thiết phải nhìn nhận đúng rủi ro, đặc biệt là RRTD và có biện pháp phòng ngừa là công việc không thể thiếu trong hoạt động hàng ngày của các ngân hàng hiện nay. 1.1.2. Đặc điểm rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1.2.1. Đặc điểm về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại - Rủi ro tín dụng của NHTM là loại rủi ro mang tính gián tiếp. Với chức năng trung gian tài chính, NHTM đứng giữa người đi vay và người cho vay để kiếm lợi về mình. Hoạt động kinh doanh của NHTM có thể được mô tả như sau: Đối với người cho vay (người thừa vốn). NHTM tạo điều kiện để thu hút các khoản tiền nhỏ lẻ, nhàn rỗi ở các nơi trong nền kinh tế. Để thực hiện được, ngân hàng cần phải tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi, dể dàng trong việc rút và gởi tiền của các đối tượng này như đa dạng các hình thức huy động, đa dạng các thời hạn gởi, cung cấp các dịch vụ tiện ích, sử dụng các công cụ lãi suất hay các hình thức khuyến khích bằng vật chất khác. Trong mối quan hệ này, khách hàng với tư cách là người ủy nhiệm cho ngân hàng bảo quản tiền của mình, khách hàng không mất quyền sở hữu, ngân hàng phải đảm bảo nhu cầu rút tiền và các điều kiện khác cho khách hàng như đã thỏa thuận ban đầu. Đối với người đi vay (thiếu vốn). NHTM sau khi đã thu hút được các nguồn vốn sẽ đem cho những người có nhu cầu về tiền trong nền kinh tế sử dụng vào các mục đích như đầu tư vào SXKD hay tiêu dùng. Để bù đắp chi phí hoạt động và có lãi, ngân hàng phải thu ở người đi vay một khoảng lãi với lãi suất lớn hơn lãi suất trả cho người gởi. Như vậy, với hoạt động kinh doanh của ngân hàng chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động bên ngoài để cho vay, quy mô của nguồn vốn huy động lớn hay bé sẽ quyết định quy mô kinh doanh và lợi nhuận mang lại cho ngân hàng. Nói cách khác ngân hàng sử dụng nguồn vốn của người khác cho người khác vay nhằm kiếm lời cho mình, mà việc hoàn trả vốn lại cho những người gởi tiền này hoàn toàn phụ thuộc vào những người đi vay. Nếu người đi vay gặp phải rủi ro không trả được nợ cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ không thể nào hoàn trả lại cho người gởi. Vậy, có thể khẳng định, RRTD
  12. của ngân hàng phụ thuộc khá lớn vào rủi ro của khách hàng mà ngân hàng cho vay. Hay nói cách khác “sức khỏe” của ngân hàng phụ thuộc khá lớn vào “sức khỏe” của khách hàng, “sức khỏe” của khách hàng tốt thì “sức khỏe” của ngân hàng mới tốt. - Rủi ro tín dụng của NHTM là loại rủi ro mang tính đa dạng, phức tạp. Trong hoạt động kinh doanh tín dụng, mục tiêu chủ yếu của ngân hàng là tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở phục vụ các nhu cầu tín dụng của cộng đồng, đồng thời phải đảm bảo sự an toàn vốn, đảm bảo hoàn trả cho người gởi tiền. Tuy nhiên nhu cầu tín dụng của khách hàng hoạt động trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, mỗi lĩnh vực, mỗi ngành nghề có những đặc thù riêng và nguy cơ rủi ro khác nhau, rất đa dạng và phức tạp nên RRTD của ngân hàng cũng rất đa dạng, phức tạp. Thông thường các khoản cho vay có khả năng sinh lời cao thì mức độ rủi ro cao. Hơn nữa, trước nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất, cải tiến trang thiết bị,..., phục vụ quá trình SXKD ngày càng gia tăng, các ngân hàng cũng luôn đứng trước áp lực phải mở rộng quy mô tín dụng nên RRTD cũng phát sinh nhiều hơn. Ngoài ra, tính đa dạng, phức tạp trong RRTD còn thể hiện ở chỗ, nó không hoàn toàn do chính khách hàng mà còn có thể do tác động của môi trường hoặc do chính ngân hàng gây ra. - Rủi ro tín dụng của NHTM là loại rủi ro mang tính khách quan. Trong hoạt động tín dụng của mình, do RRTD mang tính gián tiếp, sự thành công hay thất bại của một quan hệ tín dụng phụ thuộc vào sự thành bại của khách hàng vay vốn, phụ thuộc vào sự hưng thịnh hay suy thoái của nền kinh tế, vào sự tác động thuận lợi hay bất lợi của môi trường tự nhiên, chính trị. Vì vậy, có thể nói, ngân hàng là nơi hứng chịu mọi rủi ro của khách hàng, mọi sự bất ổn của nền kinh tế. Ngược lại, do các ngân hàng hoạt động trong nền kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nên sự sụp đỗ của ngân hàng nào đó sẽ ảnh hưởng đến các ngân hàng khác và ảnh hưởng đến nền kinh tế. Điều này có thể khẳng định rằng, RRTD không hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của NHTM. 1.1.2.2. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng - Thông tin không cân xứng, chọn lựa đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trường tài chính là các nguyên nhân cơ bản gây nên các rủi ro cho ngân hàng nói chung và RRTD nói riêng. Thông tin không cân xứng (thông tin không đầy đủ, không chính xác) dẫn đến
  13. sự lựa chọn đối nghịch. Rủi ro này do thông tin không cân xứng, không đầy đủ tạo ra và diễn ra trước khi thực hiện giao dịch tài chính. Nếu có đủ thông tin cần thiết về các đối tượng cần vay tiền, ngân hàng sẽ rất dễ dàng quyết định có cho vay hay không cho vay. Nhưng trên thị trường luôn tồn tại thông tin không cân xứng về người đi vay. Thông tin trên thị trường thường bị nhiễu loạn bởi người đi vay, người đi vay không có khả năng trả được nợ là người tích cực vay nhất, họ cố tạo ra bình phong đầy đủ nhất để vay được tiền vay của ngân hàng và kết quả họ là người đầu tiên được lựa chọn. Sự lựa chọn này gọi là sự lựa chọn đối nghịch, những người rất kém tín nhiệm (những người có thể rất dễ không hoàn trả được món vay) lại là những khách hàng có nhiều khả năng được lựa chọn nhất của ngân hàng. Nếu ngân hàng cho họ vay, ngân hàng sẽ đứng trước nguy cơ rủi ro không thu lại được nợ vay. Ngược lại, cũng do lựa chọn đối nghịch, ngân hàng sẽ bỏ mất cơ hội kiếm lợi nhuận. Như vậy muốn mở rộng tín dụng và hạn chế được rủi ro, ngân hàng cần phải vượt qua được thông tin không cân xứng để có sự lựa chọn đúng đắn. Vì vậy, vấn đề thông tin được xem là vấn đề quan trọng nhất để phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong cho vay của ngân hàng. Thông tin không cân xứng dẫn đến rủi ro đạo đức. Rủi ro này cũng do thông tin không cân xứng, không đầy đủ tạo ra và diễn ra sau khi thực hiện giao dịch tài chính. Trên thị trường có rất nhiều người vay tiền có ý muốn thực hiện những hoạt động không đạo đức (xét trên quan điểm người cho vay), một khi những người này vay được tiền, họ có thể đầu tư vào những dự án rủi ro cao hoặc sử dụng vốn không đúng với cam kết ban đầu hoặc có ý định chiếm đoạt vốn của ngân hàng. Những người đi vay này, có thể ngay từ ban đầu đã có hành vi thiếu đạo đức, nhưng cũng có thể xuất hiện trong quá trình sử dụng vốn vay, tức là do trình độ quản lý, khả năng cạnh tranh cũng như năng lực kinh doanh yếu kém dẫn đến thất bại trong kinh doanh mà nảy sinh hành vi thiếu đạo đức. Ngân hàng lúc đó sẽ bị đặt vào tình cảnh nguy cơ gặp phải rủi ro. Nếu ngân hàng không thận trọng trong việc thẩm định cho vay và kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng thì nguy cơ rủi ro cho vay là rất lớn. Song cùng với nó, nếu ngân hàng quá thận trọng trong việc cho vay, không cho vay hoặc đột ngột cắt đứt hợp đồng tín dụng thì lại bị thiệt hại về lợi nhuận vì nguồn vốn huy động phải trả lãi và lớn hơn là mất uy tín với khách hàng. Vì vậy, giải quyết tốt
  14. vấn đề về đánh giá, chọn lọc khách hàng và kiểm soát trong quá trình cho vay sẽ giúp ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng, đồng thời sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu đến mức thấp nhất RRTD. Như vậy, để thoát khỏi nguy cơ bị vỡ nợ và thoát khỏi một cuộc hoảng loạn ngân hàng, để tăng thu và trụ vững trên thương trường, buộc lòng các ngân hàng phải vượt qua vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Vì vậy, vấn đề thông tin tín dụng, chọn lọc khách hàng và kiểm soát trong quá trình cho vay là những vấn đề có vai trò hết sức quan trọng trong việc ngăn ngừa và hạn chế RRTD của NHTM. - Sự tác động của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường đối với ngân hàng và khách hàng là nguyên nhân gây ra RRTD của ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, sự quản lý của Nhà nước chỉ mang tính định hướng. Mọi hoạt động kinh tế hoàn toàn chịu sự chi phối và điều khiển của các quy luật kinh tế như quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị và mục tiêu hướng tới lợi nhuận của các hoạt động kinh tế. Như vậy, mỗi sự biến động của môi trường xung quanh đều ảnh hưởng tốt hay xấu đến hoạt động kinh doanh nên rủi ro trong kinh doanh rất lớn. Với chức năng là một trung gian tài chính, ngân hàng vừa đóng vai trò là chủ nợ vừa đóng vai trò là con nợ. Nếu vì một lý do nào đó người vay gặp phải rủi ro, không trả được nợ thì rõ ràng ngân hàng gặp rủi ro. Vì vậy, RRTD của ngân hàng không chỉ do sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường đến chính ngân hàng mà còn tác động đến khách hàng vay vốn ngân hàng, cụ thể như: Thứ nhất: Sự tác động của các quy luật kinh tế đối với khách hàng vay vốn của ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, với sự tồn tại khách quan của các quy luật kinh tế thì những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có những ưu thế so với các đối thủ khác về trình độ kỹ thuật và công nghệ, về năng lực quản lý, về sản phẩm,... thì mới có thể tồn tại và phát triển, khi đó, việc cho vay của ngân hàng sẽ thuận lợi, ngân hàng sẽ thu được nợ và có điều kiện để mở rộng hoạt động tín dụng. Ngược lại, những doanh nghiệp nào không có những lợi thế, hoạt động kém hiệu quả thì sẽ bị loại khỏi thương trường và thậm chí sẽ bị thua lỗ, phá sản. Khi hiệu quả kinh doanh thấp kém, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng, thậm chí không trả được nợ ngay cả khi còn hoạt động. Như vậy, bên cạnh những mặt tích cực, cạnh tranh cũng đã dẫn
  15. đến những kết quả xấu trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng. Do vậy, RRTD luôn gắn liền với hoạt động tín dụng. Thứ hai: Sự tác động của các quy luật kinh tế đối với ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng cũng như mọi doanh nghiệp khác, muốn tồn tại và phát triển thì tất yếu phải giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình kinh doanh, giữa người bán và người mua, giữa việc tìm kiếm lợi nhuận với rủi ro, giữa thế mạnh của mình so với các ngân hàng khác, giữa việc mở rộng phạm vi hoạt động với việc tăng chi phí. Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng giải quyết các mâu thuẫn này bằng cách mở rộng lĩnh vực cho vay, thâm nhập vào những lĩnh vực cho vay mới, nới lỏng các điều kiện tín dụng, dễ dàng chấp nhận các yêu cầu vay vốn của khách hàng,... Điều này dẫn đến, nhiều đề nghị vay vốn có khả năng trả nợ kém vẫn được ngân hàng chấp nhận nên nguy cơ RRTD của ngân hàng sẽ gia tăng. Do vậy, RRTD luôn gắn liền với việc mở rộng và gia tăng quy mô hoạt động tín dụng. - Sự bất ổn của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội là nguyên nhân gây ra RRTD Bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào cũng đều chịu sự chi phối của môi trường xung quanh. Mỗi sự biến động dù lớn hay nhỏ của môi trường cũng ảnh hưởng tốt hay xấu đến hoạt động kinh doanh. Môi trường kinh tế luôn ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của người vay, vì vậy cũng ảnh hưởng đến khả năng thu nợ của các NHTM. Trong giai đoạn kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp thường kinh doanh thuận lợi, lợi nhuận tăng trưởng nhanh. Trái lại, trong giai đoạn khủng hoảng, sức mua giảm, luân chuyển vốn chậm dẫn đến khả năng hoàn trả của người vay giảm sút. Tuỳ theo mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng và thời gian ảnh hưởng của nó đến các doanh nghiệp mà tạo ra khả năng thanh toán các khoản nợ ở mức khác nhau. Ngày nay, nền kinh tế của các nước trên thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau. Vì vậy, khi biến động về kinh tế, chính trị của 1 quốc gia nào, một khu vực nào đó cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến các yếu tố đầu vào, đầu ra và ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ vay cho ngân hàng. - Sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước là nguyên nhân dẫn đến RRTD Nhà nước thường sử dụng các chính sách kinh tế tác động vào tổng sản phẩm quốc dân, công ăn việc làm, tiền lương, lãi suất, lạm phát, tỷ giá... Tùy thuộc vào từng
  16. thời kỳ mà Nhà nước sử dụng chính sách kinh tế khác nhau, sự thay đổi về cơ chế chính sách của Nhà nước sẽ tác động đến các cá nhân, tổ chức kinh tế, làm thay đổi mọi dự kiến ban đầu của họ nên có thể ảnh hưởng khả năng trả nợ của họ cho ngân hàng. - Những sự kiện bất khả kháng cũng là nguyên nhân gây ra RRTD Những sự kiện này ngân hàng rất khó có thể dự báo, lường trước được như hiện tượng thiên nhiên bất thường (bão lụt, động đất, núi lửa), hỏa hoạn hay các hành vi lừa đảo, ăn cắp, cướp giật,... gây thiệt hại cho khách hàng vay vốn và hậu quả là ngân hàng phải gánh chịu hay nó gây thiệt hại trực tiếp về tài sản của chính bản thân ngân hàng. Đối với những rủi ro này, ngân hàng phòng ngừa bằng các biện pháp như mua bảo hiểm, tăng cường bảo vệ trực tiếp, giáo dục ý thức trách nhiệm cho nhân viên ngân hàng. Tóm lại, hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn chứa đựng tiềm ẩn rủi ro, nguyên nhân phát sinh có thể do tác động thiên tai, cơ chế chính sách, sự biến động kinh tế, chính trị, xã hội hay do sự yếu kém của khách hàng về năng lực quản lý, khả năng tài chính, thậm chí những ý đồ xảo trá, lừa gạt của khách hàng... Tất cả những rủi ro này có thể đề phòng, ngăn ngừa ngay từ ban đầu, từ lúc đặt quan hệ với khách hàng thông qua việc sàn lọc, lựa chọn những khách hàng có “chất lượng”, loại bỏ những khách hàng “kém chất lượng”, từ đó triệt tiêu những mầm mống gây nên rủi ro hoặc có thể theo dõi, kiểm tra, kiểm soát để có biện pháp ứng xử kịp thời. 1.1.2.3. Hậu quả của rủi ro tín dụng - Hậu quả đối với ngân hàng. Trong kinh doanh ngân hàng, rủi ro thường có xu hướng tập trung vào khoản mục tín dụng. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng. Khi một khoản tín dụng cấp ra mà ngân hàng không thu lại được đầy đủ và đúng hạn sẽ làm cho khoản mục chi phí của ngân hàng tăng lên (chi phí đòi nợ, chi phí bù đắp rủi ro, chi phí vốn,...) nên lợi nhuận ngân hàng giảm xuống, uy tín của ngân hàng đối với khách hàng bị giảm sút, thậm chí có thể dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh và làm giảm khả năng chi trả của ngân hàng. Lúc đó lòng tin của khách hàng vào ngân hàng giảm, ảnh hưởng lớn các
  17. yếu tố của quá trình kinh doanh như rò rỉ chất xám, mối liên kết trong kinh doanh với các ngân hàng khác bị thu hẹp, đảo lộn thành quả hoạt động nhiều năm của một ngân hàng. Nếu rủi ro ở mức độ trầm trọng ngân hàng sẽ mất khả năng chi trả hoàn toàn và có nguy cơ bị phá sản. Do đó, RRTD là vấn đề sống còn của các NHTM. - Hậu quả đối với khách hàng Khi một khoản tín dụng cấp ra mà ngân hàng không thu lại được đầy đủ và đúng hạn sẽ ảnh hưởng đến khả năng chi trả của ngân hàng. Vì vậy, quyền lợi của những khách hàng gởi tiền bị ảnh hưởng, khách hàng đến rút tiền sẽ không được đáp ứng kịp thời, đầy đủ. Thậm chí có nguy cơ, khách hàng sẽ bị mất khoản tiền đã gởi. Đối với những khách hàng vay, RRTD của ngân hàng buộc ngân hàng phải áp dụng chính sách tín dụng thắt chặt, thu hẹp quy mô tín dụng của mình. Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của khách hàng nên việc mở rộng kinh doanh, phát triển doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn. Vì vậy, rủi ro TDNH sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến mọi doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực cũng như mọi tầng lớp dân cư trong xã hội. - Hậu quả đối với nền kinh tế-xã hội Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính xã hội cao, vì vậy, khi một ngân hàng suy yếu do hậu quả của RRTD, sẽ dễ dàng tạo ra phản ứng dây chuyền đối với các ngân hàng, các định chế tài chính khác, dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội. Tóm lại, nguy cơ và mức độ thiệt hại do RRTD của ngân hàng gây ra thật là to lớn. Không những vậy, RRTD của ngân hàng lại mang tính hệ thống. Do đó, việc phòng ngừa và hạn chế RRTD của ngân hàng, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng an toàn là vấn đề vô cùng trọng đại, không chỉ là công việc thường xuyên và quan trọng của mỗi một ngân hàng riêng lẽ mà còn là vấn đề của toàn hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. 1.1.3. Các chỉ tiêu đo lường về RRTD của ngân hàng thương mại Các khoản cho vay không thanh toán đúng hạn hay không thể thu hồi được gọi là nợ quá hạn (khoản cho vay có vấn đề) và đây chính là biểu hiện của RRTD. Nợ quá
  18. hạn là khoản nợ mà thời gian tồn tại của nó vượt quá thời gian cho vay theo thoả thuận cộng với thời gian gia hạn thêm nếu khách hàng có yêu cầu. Có hai loại nợ quá hạn: - Nợ quá hạn có khả năng thu hồi. Là những khoản nợ mà người vay có khả năng vẫn tiếp tục trả nợ ngân hàng. Lý do của khoản nợ bị chậm trễ vì chu kỳ sản xuất của doanh nghiệp mang tính thời vụ hoặc doanh nghiệp gặp rủi ro về thiên tai, hoả hoạn bất ngờ. - Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi (nợ khó đòi, nợ xấu). Là khoản nợ mà người đi vay rất ít khả năng trả nợ ngân hàng, nhiều khả năng ngân hàng bị mất vốn. Lý do của khoản nợ này có thể là doanh nghiệp làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản và không trả được nợ ngân hàng hoặc do người vay lừa đảo, cố tình chiếm dụng vốn ngân hàng. Để đo lường RRTD của ngân hàng, thường sử dụng 2 chỉ tiêu chủ yếu như sau: * Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ Tỷ lệ quá hạn trên dư nợ phản ánh mối quan hệ so sánh giữa nợ quá hạn trên tổng số dư nợ của ngân hàng tại một thời điểm nhất định và được tính theo công thức sau: Dư nợ quá hạn = Tỉ lệ nợ quá hạn Tổng dư nợ tín dụng Tỷ lệ nợ quá hạn thấp, biểu hiện RRTD của ngân hàng thấp vì nó phản ánh tỷ lệ các khoản vay không được trả đúng hạn hay không thu được trên các khoản cho vay của ngân hàng thấp, như vậy các kế hoạch của ngân hàng sẽ được thực hiện tốt. Ngược lại, RRTD của ngân hàng sẽ cao, nó sẽ ảnh hưởng đến chi phí, lợi nhuận và thanh khoản của ngân hàng. * Chỉ tiêu tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ Tỷ lệ nợ khó đòi phản ánh mối quan hệ so sánh giữa nợ khó đòi so với tổng số dư nợ của ngân hàng tại một thời điểm nhất định, tính theo công thức: Dư nợ khó đòi = Tỉ lệ nợ khó đòi Tổng dư nợ tín dụng
  19. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn chưa phải là căn cứ tin cậy để đánh giá mức độ rủi ro mà NHTM phải đối mặt. Chẳng hạn có những hợp đồng vay vốn do những nguyên nhân nào đó không thực hiện việc trả nợ kịp thời (đúng theo hợp đồng), nhưng ngân hàng vẫn có thể thu hồi đầy đủ số nợ này. Do vậy, để đánh giá chính xác hơn về mức độ rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt, người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ khó đòi. Nếu tỷ lệ nợ khó đòi cao cho thấy hoạt động tín dụng của ngân hàng có nguy cơ mất vốn cao, danh mục cho vay của ngân hàng có chất lượng thấp, hoạt động kinh doanh của ngân hàng không hiệu quả và nguy có phá sản cao. Hai chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ khó đòi là thước đo chính xác đánh giá RRTD của ngân hàng. Khi hai chỉ tiêu này tăng, RRTD sẽ tăng, ngân hàng có thể đứng bên bờ vực phá sản. Tuy nhiên, kết luận này chỉ đúng nếu như việc thu hồi nợ được tiến hành theo đúng nghĩa của nó. Đôi khi doanh số thu nợ không phản ánh số thực thu mà là con số giả tạo do ngân hàng tìm mọi cách để có nó, còn thực tế thì ngược lại. Ngân hàng có thể tự hợp thức hoá toàn bộ chứng từ sổ sách từ khâu thu nợ của hợp đồng cũ, lập hợp đồng mới cho vay lại, lập bảng kê thu chi tiền mặt, vào sổ nhật ký quỹ đầy đủ thì thật khó mà phát hiện ra những con số “giả thu, giả chi” đó. Thậm chí ngân hàng còn tạo điều kiện cho khách hàng thực hiện “đảo nợ”. Ngoài ra, ngân hàng còn không chuyển nợ quá hạn đúng thời gian, gia hạn nợ nhiều lần không đúng quy định, tất cả những “giải pháp” không lành mạnh đó để nhằm mục đích cuối cùng là giữ nợ quá hạn luôn ở tỷ lệ thấp dưới mức quy định. Chính vì vậy, tỷ lệ nợ quá hạn thấp trong báo cáo của các ngân hàng chưa thực sự phản ánh thực trạng RRTD của ngân hàng. Ngoài 2 chỉ tiêu quan trọng này, các ngân hàng thường dùng 2 chỉ tiêu sau để nói lên sự chuẩn bị của ngân hàng cho các khoản tổn thất tín dụng thông qua việc trích lập quỹ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm từ thu nhập hiện tại, đó là: * Chỉ tiêu tỷ lệ phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng trên tổng dư nợ. * Chỉ tiêu tỷ lệ trích quỹ dự phòng tổn thất tín dụng trên tổng dư nợ. 1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng
  20. Trên thực tế cho thấy, cùng thời gian, cùng môi trường kinh doanh, nhưng có những ngân hàng thì ăn nên làm ra, RRTD thấp và có được sự phát triển khá ổn định, nhưng cũng có những ngân hàng gặp phải muôn vàng khó khăn, luôn đứng trước nguy cơ đe dọa phá sản bởi những RRTD xảy ra dồn dập, liên tiếp. Các yếu tố chi phối đến RRTD của NHTM bao gồm: - Chính sách tín dụng Một trong những yếu tố quan trọng bảo đảm cho danh mục tín dụng của NHTM an toàn là việc hình thành một “chính sách tín dụng an toàn và hiệu quả”. Chính sách tín dụng cung cấp cho CBTD và nhà quản lý một khung chỉ dẫn chi tiết để ra các quyết định tín dụng và định hướng danh mục đầu tư tín dụng của ngân hàng. Nội dung của chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố như hạn mức cho vay đối với một khách hàng, kỳ hạn cho vay, lãi suất, mức lệ phí, các hình thức cho vay được thực hiện, tài sản thế chấp, khả năng thanh toán nợ của khách hàng, hướng giải quyết phần tín dụng quá hạn hay các khoản vay có vấn đề,... Tùy theo đặc điểm cụ thể của từng ngân hàng mà nhà quản lý có thể bổ sung thêm một số yếu tố phù hợp. Chính sách tín dụng của ngân hàng sẽ giúp cho CBTD biết được họ phải làm gì và làm như thế nào khi thực hiện một khoản cho vay, trách nhiệm của họ tới đâu. Ngoài ra, chính sách tín dụng sẽ giúp ngân hàng đạt được một danh mục tín dụng đa mục đích như tăng khả năng sinh lợi, kiểm soát tiềm ẩn rủi ro và đáp ứng được các đòi hỏi từ phía nhà quản lý. Với chính sách tín dụng đúng đắn, hợp lý, linh hoạt thì ngân hàng đó sẽ thành công trong việc thực hiện mục tiêu mở rộng và đảm bảo chất lượng của các khoản tín dụng. Ngược lại, nếu chính sách tín dụng của ngân hàng không hợp lý thì ngân hàng rất khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng. - Chất lượng thẩm định và quy trình cho vay Quá trình cho vay được bắt đầu từ khâu thẩm định cho vay, giải ngân, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay đến khi thu hồi được nợ. Thẩm định cho vay là khâu quan trọng nhất quyết định đến việc tăng hay giảm RRTD đối với mỗi khoản vay, làm tốt khâu này sẽ tạo tiền đề để cho việc thu hồi cả vốn và lãi khi đến hạn thanh toán, tạo điều kiện cho vốn tín dụng luân chuyển nhanh. Tuy nhiên, thẩm tín dụng khó đạt đến mức có thể dự đoán hoàn toàn chính xác về một khoản vay có được hoàn trả đúng hạn

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản