Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Thủy sản An Giang hiện trạng phát triển định hướng và giải pháp

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:126

0
34
lượt xem
6
download

Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Thủy sản An Giang hiện trạng phát triển định hướng và giải pháp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Thủy sản An Giang hiện trạng phát triển định hướng và giải pháp hướng vào phân tích, đánh giá hiện trạng phát tiển ngành thủy sản An Giang và đồng thời đề ra những định hướng và các giải pháp nhằm phát triển ngành thủy sản tỉnh An Giang phát huy lợi thế là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh đem lại hiệu quả kinh tế cao về mặt kinh tế xã hội và môi trường.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Thủy sản An Giang hiện trạng phát triển định hướng và giải pháp

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH NGÔ THỊ KIỀU HUỆ THỦY SẢN AN GIANG HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP Chuyên ngành : Địa lý học Mã số : 60 31 95 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM THỊ XUÂN THỌ Thành phố Hồ Chí Minh - 2007
  2. LỜI CẢM ƠN Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cô TS. Phạm Xuân Thọ, Trưởng Khoa Địa Lý Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh đã tận tậm hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu. Xin chân thành cám ơn Khoa Địa Lý, Phòng Khoa học - Công nghệ sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc học tập, trang bị kiến thức để có thể hoàn thành luận văn. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các cán bộ phòng ban ở Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang, Sở Thủy sản An Giang, Sở Khoa học Công nghệ An Giang, Cục Thống kê An Giang đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tư liệu, số liệu tham khảo quí báu, hữu ích để tác giả hoàn thành tốt luận văn. Bên cạnh đó, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong hội đồng bộ môn Địa lý, Ban Giám hiệu Trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm và các bạn bè đồng nghiệp, đã tạo điều kiện cho tác giả hiểu biết sâu sắc hơn các vấn đề khoa học. Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và những người thân, đã động viên giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Tác giả luận văn Ngô Thị Kiều Huệ
  3. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á CLB: Câu lạc bộ CNH - HĐH: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa Cty: Công ty ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long EU: Liên minh Châu Âu GTSX: Giá trị sản xuất GTXK: Giá trị xuất khẩu H: Huyện HACCP: Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm oát điểm tới hạn. HTX: Hợp tác xã ISO: Bộ tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng. KCN: Khu công nghiệp KHKT: Khoa học kỹ thuật KT - XH: Kinh tế xã hội NM: Nhà máy NN & PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn. NTTS: Nuôi trồng thủy sản P: Phường SL: Sản lượng SQF: Tiêu chuẩn đảm bảo an toàn và chất lượng nuôi trồng cho thủy sản TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam TT: Thị trấn UBND: Ủy ban nhân dân XN: Xí nghiệp.
  4. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam nằm trong vùng Châu Á gió mùa, là một trong những quốc gia nổi tiếng về nông nghiệp, đặc biệt có hai vựa lương thực thực phẩm lớn nhất đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long. An Giang là tỉnh đầu nguồn Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với lợi thế rất lớn về nông nghiệp, đất nông nghiệp chiếm đến 75% diện tích đất tự nhiên chủ yếu là đất phù sa ngọt ven sông Tiền và sông Hậu. Hai tuyến sông này cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt, ao hồ rộng lớn, hàng năm có một thời gian khá dài ngập trong mùa nước nổi, đã tạo điều kiện thuận lợi cho An Giang phát triển mạnh ngành nông nghiệp, đặc biệt là nuôi trồng khai thác thủy sản. Song song với nghề nông, nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở An Giang có từ lâu đời, góp phần cải thiện được bữa ăn hàng ngày cho nhân dân đồng thời giải quyết được việc làm cho một lượng lớn lao động dư thừa ở nông thôn. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) để tiến tới hội nhập kinh tế thế giới thì ngành nông nghiệp An Giang nói chung và thủy sản An Giang nói riêng không đơn thuần là đánh bắt, khai thác, nuôi trồng theo quy luật tự nhiên nữa, mà ngư dân An Giang phải kết hợp vừa tận dụng ưu thế về tiềm năng điều kiện tự nhiên sẵn có vừa tích cực đầu tư mọi nguồn lực để nuôi trồng và khai thác thủy sản theo hướng hiện đại hơn, đạt hiệu quả kinh tế hơn. Trong những năm gần đây An Giang đã chú ý phát triển thủy sản phát huy một trong nhiều thế mạnh về sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp của tỉnh, trong đó cá tra, cá basa là hai loài thủy sản đặc trưng thích hợp với môi trường nguồn nước tỉnh An Giang và có giá trị kinh tế cao nên đã thu hút rất nhiều nông dân tập trung đầu tư sản xuất và đã mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, thu nhiều ngoại tệ và ngày càng khẳng định là một trong những ngành phát triển mạnh, có hiệu quả, dẫn đầu trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Thực tế An Giang không chỉ nổi tiếng về xuất khẩu lương thực mà còn vươn lên là một trong những tỉnh đứng đầu về xuất khẩu thủy sản của cả nước. Tuy nhiên, vì lợi nhuận trước mắt nên đã xuất hiện phong trào NTTS trong tỉnh một cách ồ ạt
  5. không có quy hoạch, do đó làm cho nguồn lợi thủy sản tự nhiên có khuynh hướng giảm và môi trường nước có nguy cơ bị ô nhiễm. Bên cạnh đó, sau vụ kiện chống phá giá cá tra, cá basa của Mỹ đã gây khó khăn đối với ngành thủy sản An Giang. Ngành thủy sản ở An Giang cần phát triển bền vững với sự quản lý chặt chẽ về kế hoạch sản xuất, phân vùng nuôi trồng song song với thực hiện tốt việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản và bảo vệ môi trường nước để phát triển theo hướng sản xuất sản phẩm sạch, chất lượng cao, giá thành hạ nhằm tăng sức mạnh cạnh tranh và tạo uy tín cho hàng thủy sản An Giang nói riêng và thủy sản Việt Nam nói chung trên con đường hội nhập kinh tế thế giới. Do đó, tác giả luận văn đã chọn đề tài “Thủy sản An Giang: Hiện trạng phát triển, định hướng và giải pháp” - để nghiên cứu nhằm phát huy lợi thế của tỉnh trong phát triển thủy sản và hạn chế những tác động tiêu cực của thủy sản An Giang đến sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường. 2. Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội (KT-XH) đã có tác động đến ngành kinh tế thủy sản. - Đánh giá khái quát thực trạng phát triển của ngành thủy sản của tỉnh An Giang. - Luận văn hướng vào phân tích, đánh giá hiện trạng phát tiển ngành thủy sản An Giang và đồng thời đề ra những định hướng và các giải pháp nhằm phát triển ngành thủy sản tỉnh An Giang phát huy lợi thế là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh đem lại hiệu quả kinh tế cao về mặt KT - XH và môi trường. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân của Việt Nam và của tỉnh An Giang. - Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành thủy sản ở An Giang. - Nghiên cứu hiện trạng phát triển của ngành thủy sản An Giang. - Định hướng phát triển thủy sản đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, từ đó đề ra các giải pháp phát triển ngành thủy sản tỉnh An Giang. 4. Giới hạn của đề tài
  6. Đề tài luận văn nghiên cứu hiện trạng phát triển ngành thủy sản tỉnh An Giang trong mối quan hệ giữa các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến và xuất khẩu, từ đó đề ra các định hướng phát triển và giải pháp thực hiện cho thời gian tới. Đặc biệt, đề tài đi sâu vào nghiên cứu một số loài thủy sản nước ngọt như cá tra, cá ba sa và tôm càng xanh. Đồng thời, luận văn nghiên cứu sự phát triển thủy sản phân bố ở khắp các địa phương trong tỉnh trong giai đoạn từ 1996 - 2005. 5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Việt Nam có tiềm năng rất lớn cho khai thác nguồn lợi hải sản tự nhiên và phát triển NTTS trong các vùng nước ngọt nội địa, nước lợ ven biển và nước biển. Do đó, thủy sản đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng thực phẩm tiêu dùng, hàng hóa xuất khẩu và nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu. Nhờ vậy, giá trị sản xuất và kim ngạch xuất khẩu thủy sản cũng tăng lên nhanh chóng. ĐBSCL là một vùng có nhiều lợi thế và tiềm năng phát triển NTTS nhất ở nước ta. Trong hơn 20 năm qua, NTTS ở ĐBSCL đã khẳng định là một ngành sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo. Đồng thời, tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế nhiều thành phần và đa dạng hóa ngành nghề. NTTS ở ĐBSCL đã chuyển sang sản xuất hàng hóa và đang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất chính, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng của nhiều tỉnh. Chất lượng và giá trị của các sản phẩm thủy sản nuôi trồng ngày càng cao, trở thành nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thủy sản, góp phần nâng cao giá trị xuất khẩu. Cùng với Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang là tỉnh nằm trong vùng trọng điểm số một về NTTS nước ngọt hàng hóa của cả nước. Hiện nay, vùng này đã trở thành một trung tâm xuất khẩu hàng thủy sản nước ngọt lớn nhất Việt Nam với các mặt hàng xuất khẩu chính như cá tra, cá basa, cá lóc… được xuất dưới nhiều dạng. Nhưng sự phát triển sản xuất tự phát, nên NTTS ở ĐBSCL nói chung và An Giang nói riêng đã gặp nhiều khó khăn: thị trường tiêu thụ và tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với người sản xuất, hơn nữa làm cho môi trường bị ô nhiễm. Bên cạnh đó, các vấn đề
  7. về nguồn nhân lực và thức ăn cho chăn nuôi cũng gây nên những khó khăn cản trở rất lớn đối với sự phát triển NTTS của An Giang. Tiềm năng phát triển thủy sản nước ngọt của tỉnh An Giang và vùng ĐBSCL còn rất lớn, song về lâu dài việc phát triển NTTS phải được tính toán trên cơ sở phát triển bền vững. Sự phát triển bền vững phải được thực hiện ở cả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường. Từ đó cần phải đề ra và thực hiện các giải pháp hữu hiệu để phát triển NTTS trong những giai đoạn tiếp theo. Do đó, trong những năm gần đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thủy sản Việt Nam, ĐBSCL cũng như An Giang, như: - “Chương trình phát triển NTTS Việt Nam thời kỳ 1999 - 2010” - do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 224/1999 ngày 08/12/1999. - Đề án “Quy hoạch tổng thể KT - XH ngành thủy sản thời kỳ 2000 - 2010” - của Bộ Thủy sản. - Đề tài Khoa học cấp bộ “Những giải pháp về thị trường cho sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam” - của PGS-TS Võ Thanh Thu (chủ biên) cùng nhóm tác giả thuộc Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. - “Quy hoạch phát triển NTTS ở ĐBSCL đến năm 2015 và định hướng năm 2020” - Viện Kinh tế và quy hoạch thủy sản - Bộ Thủy sản. - Một số bài tham luận có liên quan đến thủy sản tại Hội thảo khoa học “Vì sự phát triển vùng ĐBSCL” + “Để NTTS xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn ở ĐBSCL” - của PGS.TS Hà Xuân Thông - Viện kinh tế và Quy hoạch thủy sản. + “Hoạt động khoa học công nghệ thủy sản vì sự phát triển ĐBSCL” - của Bộ Thủy sản. + “Khoa học công nghệ trong sự phát triển thủy sản bền vững ở ĐBSCL” - của Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Duy Hòa - Viện nghiên cứu NTTS II. + “Giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của gạo và thủy sản - Những sản phẩm chủ lực của ĐBSCL hiện nay” - của TS. Trần Xuân Hiển - Trường Chính trị Tôn Đức Thắng tỉnh An Giang.
  8. + “Những bước phát triển mới trong kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp vùng ĐBSCL - Một số giải pháp chủ yếu” - Nguyễn Thị Vân - Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ. - “Vai trò của thủy sản trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSCL” - Nguyễn Thanh Phương - Tại Hội thảo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSCL ở Cần Thơ, 11/2002. - Về phía tỉnh An Giang thì có: + “Điều chỉnh quy hoạch thủy sản An Giang đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” - Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn An Giang (Sở NN & PTNT An Giang). + “Phát triển công nghệ chế biến thủy sản ở tỉnh An Giang” - Luận văn Thạc sĩ Khoa học kỹ thuật (KHKT) - Lưu Vĩnh Nguyên - Phó ban Tuyên giáo tỉnh An Giang. - Ngoài ra còn có rất nhiều công trình, các luận văn, bài viết của sinh viên trong và ngoài tỉnh nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến thủy sản như kỹ thuật nuôi, vấn đề xuất khẩu, vấn đề thị trường… Các đề tài nghiên cứu trên là tư liệu tham khảo quý giá cho tác giả khi thực hiện luận văn “Thủy sản An Giang: Hiện trạng phát triển, định hướng và giải pháp”. 6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Địa lý học là khoa học tổng hợp vừa mang tính thực tiễn sâu sắc lại vừa mang tính cụ thể cao. Đồng thời khoa học địa lý còn mang tính thời đại, nó luôn biến đổi phù hợp với những khám phá của con người và tiến bộ KHKT. Do đó khi tiến hành nghiên cứu thực hiện đề tài “Thủy sản An Giang: hiện trạng phát triển, định hướng và giải pháp”, tác giả luận văn đã vận dụng những quan điểm và phương pháp nghiên cứu của Địa lý học nói chung và địa lý KT-XH nói riêng để hoàn thành đề tài của mình. 6.1. Phương pháp luận 6.1.1. Quan điểm hệ thống Địa lý kinh tế học nghiên cứu tổng hợp thể lãnh thổ sản xuất trong một hệ thống các mối quan hệ tác động qua lại với môi trường xung quanh. Vì vậy khi nghiên cứu vấn đề này tỉnh An Giang được coi là một hệ thống KT-XH thống nhất,
  9. được xem xét đánh giá quá trình phát triển KT-XH của tỉnh và sự kết hợp hài hòa với vùng ĐBSCL và cả nước. 6.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ Địa lý KT-XH là một khoa học tổng hợp nghiên cứu không gian lãnh thổ KT- XH liên quan đến nhiều lãnh vực khác nhau. Do đó khi nghiên cứu các nguồn lực nhằm phát triển KT-XH của tỉnh An Giang chúng ta phải xem xét nó trong một chỉnh thể chung của vùng và cả nước; giải quyết mối quan hệ giữa sự phát triển với việc nâng cao chất lượng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Đồng thời tìm kiếm những mặt tối ưu, định ra các biện pháp cụ thể nhằm phát huy lợi thế của ngành thủy sản dưới cái nhìn khách quan và tổng hợp tạo động lực phát triển KT-XH của tỉnh. 6.1.3. Quan điểm lịch sử viễn cảnh Là một ngành thủy sản cũng như những ngành kinh tế khác luôn luôn vận động và phát triển, tùy theo từng giai đoạn có các nguồn lực có thế mạnh khác nhau tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành. Đánh giá chiều hướng phát triển, sự thay đổi của ngành qua từng giai đoạn trong quá khứ, hiện tại cho phép chúng ta dự báo viễn cảnh cho sự phát triển kinh tế trong tương lai. 6.2. Phương pháp nghiên cứu Ngoài các phương pháp nghiên cứu khoa học chung như: phương pháp toán học, phương pháp thống kê, phương pháp thu thập và xử lý tài liệu,… Đề tài còn sử dụng những phương pháp riêng đặc trưng của địa lý học như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp bản đồ - biểu đồ, thực địa. Trong đó đề tài đặc biệt có ứng dụng phần mềm Map Info để thành lập các bản đồ. 7. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương chính sau: Chương 1: Cơ sở lí luận. Chương 2: Hiện trạng phát triển thủy sản tỉnh An Giang. Chương 3: Một số định hướng và giải pháp để phát triển thủy sản An Giang giai đoạn 2006 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
  10. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Thủy sản – Vai trò của thủy sản 1.1.1. Một số định nghĩa Thủy sản là những loại động vật sống dưới nước như cá, nhuyễn thể, giáp xác,…có thể qua hay không qua khâu nuôi trồng và dùng làm thực phẩm. Thủy sản sống là động vật thủy sản còn sống, hoặc đang giữ ở trạng thái tiềm sinh. Ngư nghiệp là những công việc có liên quan đến quá trình khai thác, nuôi trồng và phát triển nguồn lợi các sinh vật trong nước. Khi nói đến ngư nghiệp thì phải hiểu nó gồm 3 hoạt động căn bản sau: khai thác, NTTS và phát triển nguồn lợi thủy sản. Nghề cá là công việc liên quan đến quá trình khai thác, nuôi cá nước ngọt, lợ, mặn. Khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác. NTTS là những tác động bất kỳ nào của con người làm cải thiện sự sinh trưởng của một sinh vật nào đó trong một diện tích nuôi nào đó. Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản. Tái tạo nguồn lợi thủy sản là quá trình tự phục hồi hoặc hoạt động làm phục hồi, gia tăng nguồn lợi thủy sản. Ngành thủy sản bao gồm nuôi trồng và đánh bắt, là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Công nghiệp chế biến là hoạt động nối tiếp sản phẩm của ngành khai thác, nó không chỉ bảo tồn, giữ gìn chất lượng nguyên liệu mà còn nâng cao giá trị và tạo ra những sản phẩm có giá trị sử dụng cao. Nhờ đó mà khả năng đáp ứng nhu cầu, thị hiếu thị trường tốt hơn, thu được nhiều lợi nhuận hơn. Sản phẩm thủy sản là thực phẩm trong đó thủy sản là thành phần đặc trưng.
  11. Sản phẩm thủy sản tươi là sản phẩm thủy sản còn nguyên con, hoặc đã sơ chế, chưa được xử lý dưới bất kỳ hình thức nào để bảo quản, ngoài việc làm lạnh. Sản phẩm thủy sản chế biến là sản phẩm thủy sản đã qua các hình thức chế biến như xử lý nhiệt, hun khói, ướp muối, sấy khô, hoặc kết hợp các hình thức trên, có phối chế hoặc không phối chế với phụ gia, thực phẩm khác. Sản phẩm thủy sản đông lạnh là sản phẩm thủy sản cấp đông; khi đã ổn định, nhiệt độ trung tâm sản phẩm 8 - 180C hoặc thấp hơn. 1.1.2. Vai trò của thủy sản Việt Nam là một quốc gia có được nguồn lợi về thủy sản tự nhiên rất phong phú, cho nên việc khai thác các nguồn lợi về thủy sản để phục vụ những nhu cầu đa dạng của con người như làm thực phẩm, đồ trang sức, thuốc chữa bệnh,… đã có từ lâu đời cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Tuy vậy, trải qua hàng nghìn năm, nghề cá Việt Nam trước hết là nghề đánh bắt cá vẫn mang nặng nét đặc trưng của một nền sản xuất tự cấp, tự túc và chỉ là nghề phụ . Nhưng trong những năm gần đây, ngành thủy sản từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có tốc độ tăng trưởng cao, có tỷ trọng trong tổng sản phẩm quốc dân (GDP) ngày càng lớn và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nếu trong những năm 60 của thế kỷ trước, tổng sản lượng thủy sản ở miền Bắc chỉ đạt trên dưới 200.000 tấn. Đến năm 1976 - năm đầu tiên sau khi thống nhất đất nước, tổng sản lượng thủy sản cũng chỉ đạt khoảng 500.000 tấn và đến năm 1980 sản lượng thủy sản ít (613.000 tấn) và kim ngạch xuất khẩu thủy sản cũng chỉ mới đạt được con số khiêm tốn. Từ năm 1981, thủy sản đã là ngành kinh tế đầu tiên được Chính phủ cho phép thoát khỏi cơ chế bao cấp, để thử nghiệm cơ chế “tự cân đối, tự trang trải”, xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm thủy sản vào thị trường “khu vực 2” thu ngoại tệ để mua máy móc, vật tư, thiết bị đầu tư trở lại cho sản xuất. Đến năm 1993, ngành thủy sản đã được Đảng và Nhà nước chính thức xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Tổng sản lượng thủy sản đã vượt qua ngưỡng 1 triệu tấn vào năm 1990, đặc biệt nước ta đã đứng vào hàng ngũ những nước có sản lượng khai thác hải sản trên 1 triệu tấn kể từ năm 1997
  12. (1.062.000 tấn). So với năm 1980, năm 2005 tổng sản lượng thủy sản tăng gấp 5,6 lần, còn giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 200 lần [52]. Cho đến nay, hàng năm bình quân thủy sản đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước khoảng 5 - 6%. Còn riêng đối với khu vực I ( nông - lâm - thủy sản), ngành thủy sản đã phát triển mạnh nhất, tỷ trọng của ngành thủy sản có xu hướng tăng dần, tăng từ 7,6% (1991) lên 8,9% (1995), 10% (1998), 16,5% (2002), 18,5% (2005). Bảng 1.1. Tổng sản lượng và giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam % tăng Tổng sản lượng thủy Giá trị xuất khẩu Năm trưởng so sản (tấn) (nghìn USD) 1996 1996 1.373.500 100 670.000 2000 2.063.000 150,2 1.478.609 2005 3.432.800 249,9 2.738.726 Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của Bộ Thủy sản. Trong những năm cuối thế kỉ XX, ngành thủy sản đã thu được những kết quả quan trọng. Năm 2000, tổng sản lượng thủy sản đã vượt qua mức 2 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu 1,478 tỷ USD. Năm 2005, ngành thủy sản bằng sự nỗ lực phấn đấu liên tục, không mệt mỏi, vượt qua những khó khăn khách quan và chủ quan, đã hoàn thành một cách vẻ vang các chỉ tiêu kế hoạch cơ bản mà ngành đã xây dựng và được Đại hội Đảng toàn quốc lần thư IX ghi nhận trong kế hoạch KT - XH giai đoạn 2001 - 2005 : Tổng sản lượng đạt 3,43 triệu tấn, tăng 9,24% so với năm 2004. Kim ngạch xuất khẩu đạt 2,74 tỉ USD, đi qua mốc 2,5 tỉ USD, tăng 13% so với năm 2004 và bằng 185% so với năm 2000. Tính chung 5 năm 2001 - 2005, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt trên 11 tỉ USD, chiếm khoảng 9% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước. Đặc biệt cơ cấu sản phẩm của kinh tế thủy sản cũng được thay đổi mạnh mẽ theo hướng tăng tỷ trọng nuôi trồng, tăng tỷ trọng sản phẩm có giá trị cao, đặc biệt là sản phẩm xuất khẩu. Như vậy, ngành thủy sản có thể coi là một ngành tiên phong trong quá trình đổi mới, gặt hái nhiều thành công và đã có vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Ngành thủy sản là một trong mười ngành có giá trị xuất khẩu cao nhất Việt Nam, năm 2005 với giá trị xuất khẩu đạt 2,738 tỷ USD (chiếm 8,5% tổng kim ngạch
  13. xuất khẩu của cả nước), các mặt hàng thủy sản xuất khẩu đứng thứ 4 sau ngành xuất khẩu dầu thô, dệt may và giày dép. Các sản phẩm từ thủy sản của Việt Nam rất đa dạng và phong phú, trong đó tôm đông lạnh chiếm gần 50% cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu, thủy sản Việt Nam hiện đã có mặt tại gần 100 nước và vùng lãnh thổ. Bảng 1.2. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam năm 2005 Kim ngạch % so với Cơ cấu Mặt hàng (triệu USD) năm 2004 (%) Tổng trị giá 32,233 121,6 100 Trong đó: 1. Dầu thô 7,387 130,3 22,9 2. Dệt, may 4,806 109,6 14,9 3. Giày dép 3,005 111,7 9,3 4. Thủy sản 2,741 114,2 8,5 5. Sản phẩm gỗ 1,517 133,2 4,7 6. Điện tử, máy tính 1,442 134,1 4,5 7. Gạo 1,399 147,3 4,3 8. Cao su 787 131,9 2,4 9. Cà phê 725 113,1 2,2 10. Than đá 658 185,2 2,0 Nguồn: Cục Thống kê Thành phố Cần Thơ. Ngành thủy sản góp phần mở rộng quan hệ thương mại quốc tế. Năm 1996, ngành thủy sản chỉ có quan hệ thương mại với 30 nước và vùng lãnh thổ, đến năm 2001, quan hệ này đã được mở rộng ra 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùng lãnh thổ và năm 2005 con số này là gần 100. Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngành thủy sản đã tạo dựng được uy tín lớn. Những nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật và các nước trong khối Liên minh Châu Âu (EU) đã chấp nhận làm bạn hàng lớn và thường xuyên của ngành. Có thể thấy rằng sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của ngành thủy sản đã góp phần mở ra những con đường mới và mang lại nhiều bài học kinh nghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Ngành thủy sản còn tạo ra công ăn việc làm cho nhân dân, thu hút một lực lượng lao động đông đảo tham gia vào tất cả các công đoạn sản xuất, làm giảm sức ép của nạn thiếu việc làm trên phạm vi cả nước. Hiện nay ngành thủy sản đã thu hút hơn
  14. 4 triệu lao động bao gồm các ngành nghề đánh bắt, nuôi trồng, chế biến và trong lĩnh vực dịch vụ thủy sản (sản xuất lưới, công cụ, đóng tàu, thuyền, thương mại…). Tỉ lệ tăng bình quân số lao động thường xuyên của ngành thủy sản là 2,4%/năm, cao hơn mức tăng bình quân của cả nước. Với đặc thù nông thôn, ven biển dân vốn đã đông, dân trí thấp, hàng năm dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng lao động dư thừa, bên cạnh đó một bộ phận lớn ngư dân làm nghề khai thác ven bờ do nguồn lợi cạn kiệt, khai thác kém hiệu quả, từng bước chuyển sang NTTS. Phát triển NTTS sẽ góp phần làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện mức sống cho nông, ngư dân, giảm áp lực di dân từ vùng kinh tế ven biển vào đô thị, góp phần xây dựng trật tự xã hội, an ninh nông thôn, vùng biển, biên giới, vùng sâu, vùng xa. Phát triển NTTS còn tạo điều kiện sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tận dụng mọi nguồn lực, vốn đầu tư của nhân dân. NTTS có vai trò to lớn trong việc cung cấp nguồn thực phẩm, có đóng góp không nhỏ trong việc đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao chất lượng bữa ăn hàng ngày cho nhân dân, nhất là trong giai đoạn hiện nay nguồn lợi thủy sản tự nhiên đang cạn kiệt do sức ép dân số. NTTS góp phần đáng kể trong việc cung cấp nguyên liệu phục vụ các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp khác: cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm (đồ hộp, nước mắm, khô, bột cá, agar,…); làm đồ trang sức (ngọc trai, đồi mồi); trong ngành y (chỉ tiêu khâu vết mổ từ agar) hoặc công nghiệp dệt (agar giúp định hình sợi vải và giữ màu lâu hơn,…); từ đó đẩy mạnh phát triển nguồn hàng hóa xuất khẩu. Ngoài mục đích phục vụ tiêu dùng, chế biến, xuất khẩu, NTTS còn có vai trò thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí như nuôi cá cảnh, câu cá,… Trong tương lai, việc NTTS theo hướng bền vững còn có những đóng góp quan trọng trong vấn đề vệ sinh môi trường: ăn ấu trùng muỗi, ăn hợp chất hữu cơ, tham gia diệt trừ sâu bệnh trong mô hình lúa - cá, lúa - tôm. NTTS còn là bộ phận quan trọng trong các mô hình vườn - ao - chuồng (VAC), vườn - rừng - ao - chuồng (VRAC), …
  15. Nói tóm lại, ngành thủy sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nói chung và trong đời sống hàng ngày của nhân dân nói riêng, tầm quan trọng của nó thể hiện ở việc tham gia vào cải thiện cơ cấu bữa ăn với thực phẩm chất lượng cao về dinh dưỡng, đóng góp vào nền kinh tế, tạo ra mặt hàng xuất khẩu và góp phần giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động của xã hội. 1.2. Các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển thủy sản Việt Nam 1.2.1. Các điều kiện tự nhiên Đường bờ biển của Việt Nam kéo dài 3260 km từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang), đi qua hơn 15 vĩ độ (từ 8034'B đến 23023'B) với nhiều vùng sinh thái khác nhau, nhìn ra Vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc, Thái Bình Dương ở miền Trung và Vịnh Thái Lan ở miền Tây Nam Bộ. Diện tích vùng nội thủy và lãnh hải rộng 226 nghìn km2, diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế hơn 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền. Vùng biển Việt Nam thuộc phạm vi ngư trường Trung tây Thái Bình Dương, có nguồn lợi sinh vật phong phú, đa dạng, là một trong những ngư trường có trữ lượng hàng đầu trong các vùng biển trên thế giới. Trong vùng biển có 2773 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có những đảo lớn có dân cư như Vân Đồn, Cát Bà, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, có nhiều vịnh, vũng, eo ngách, các dòng hải lưu, vừa là ngư trường khai thác hải sản thuận lợi, vừa là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển nuôi trồng thủy hải sản và xây dựng các khu căn cứ hậu cần nghề cá. Bên cạnh điều kiện tự nhiên vùng biển, Việt Nam còn có nguồn lợi thủy sản nước ngọt ở trong 2.360 con sông lớn nhỏ, nhiều triệu hecta đất ngập nước, ao hồ, ruộng trũng, rừng ngập mặn, đặc biệt là ở lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long, v.v… đó là nguồn thực phẩm chính hàng ngày của hầu hết ngư dân vùng nông thôn Việt Nam [29]. * Diện tích mặt nước Ngoài tiềm năng về biển, trong nội địa hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và các hồ thủy lợi, thủy điện, đã tạo cho nước ta có tiềm năng lớn về mặt nước với khoảng 1.700.000 ha, ngoài ra còn chưa kể đến mặt nước các sông và khoảng 300.000 – 400.000 ha diện tích các eo, vịnh, đầm phá ven biển có thể sử dụng vào NTTS chưa được quy hoạch [49]. Bảng 1.3. Diện tích các loại hình mặt nước NTTS
  16. Diện tích Diện tích có Loại hình tiềm năng khả năng mặt nước (ha) nuôi (ha) Ao, hồ nhỏ 120.000 113.000 Mặt nước lớn 340.946 198.220 Ruộng trũng 579.970 306.003 Vùng triều 660.002 414.417 Tổng số 1.700.918 1.031.640 Nguồn: Bộ Thủy sản. Tính đến năm 2005, tổng diện tích NTTS ở tất cả các loại hình mặt nước là 959.945ha, chiếm 56,4% tổng diện tích tiềm năng của đất nước. Như vậy, cho thấy tiềm năng phát triển NTTS của nước ta cũng còn rất lớn. Đặc biệt ở vùng ĐBSCL có nhiều rừng ngập mặn rất thuận lợi cho việc nuôi tôm, các đồng bằng có nhiều ô trũng để thả cá, nuôi các loài đặc sản. Trên các sông, hồ có điều kiện nuôi cá bè. * Nguồn lợi giống loài thủy sản Nguồn lợi hải sản, qua thống kê đặc điểm sinh vật biển Đông Việt Nam của Giáo sư - Tiến sĩ Vũ Tự Lập, biển Việt Nam có tổng số 2038 loài cá, trong đó có trên 110 loài cá có giá trị kinh tế, 40 - 50 loài có sản lượng đánh bắt cao. Tổng trữ lượng cá trên biển Đông là 2.769.041 tấn, trong đó cá nổi chiếm 62,8%, cá tầng đáy 37,2%. Có đến 100 loài tôm thuộc 11 họ tôm biển, số loài có giá trị kinh tế chiếm đến 50%, đa số sống trong các vùng biển nông tới độ sâu 50m, rất thuận lợi cho việc đánh bắt. Hầu hết tôm biển ưa thích nền đáy bùn hoặc bùn cát, vì thế thường tập trung ở các vùng cửa sông. Khả năng khai thác tôm ở vùng biển Việt Nam khoảng 55 - 70 ngàn tấn/năm, chủ yếu ở vùng biển Nam Bộ chiếm tới 80% tổng sản lượng khai thác của cả nước. Ngoài ra có khoảng 37 loài mực thuộc 4 họ, trong đó 2 họ mực ống và mực nang chiếm đa số, 7 loài bạch tuộc và các loài thực vật biển khác. [29] Về nguồn lợi cá nước ngọt, Việt Nam có 2 khu hệ cá nước ngọt. Khu hệ cá miền Bắc thuộc hệ ngư lai Hoa Nam - Trung Quốc với 240 loài, phần lớn là những loài cá ăn thực vật, tiếp đến là các loài cá ăn tạp, ăn mùn bã hữu cơ, có ít loài cá ăn động vật. Khu hệ cá miền Nam thuộc hệ ngư lai Ấn Độ - Malaysia với 225 loài, số loài cá ăn động vật chiếm ưu thế, số loài cá ăn thực vật ít hơn. Trong tổng số 495 loài cá, có khoảng 50 loài có giá trị kinh tế cao, đó là những loài cá nuôi hoặc khai thác trong tự nhiên có sản lượng lớn. Ngoài cá, thủy vực
  17. nước ngọt còn có nhiều loài thủy sản khác, đáng kể nhất là nhóm giáp xác mà quan trọng nhất là tôm càng xanh, các loài nhuyễn thể như trai, ốc và các loài thủy đặc sản như rắn, rùa, baba, cá sấu,…[29] Riêng ĐBSCL với 3 mặt giáp biển, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt lại nằm trong vùng chuyển tiếp sông - biển với hoạt động mạnh của thủy triều nên có nguồn lợi thủy sản rất phong phú và đa dạng gồm thủy sản nước ngọt, mặn và lợ. Nguồn cá nước ngọt gồm 2 nhóm cá trắng sống trong sông và cá đen sống ở các ao, hồ, đồng ruộng, đầm lầy,…Chúng có khoảng 255 loài thuộc 43 họ, 130 giống trong đó có loài có giá trị kinh tế cao. Đặc biệt ở ĐBSCL có thời gian trong năm bị ngập lũ, đây là điều kiện thuận lợi để làm phong phú thêm các giống loài thủy sản nước ngọt ở đây. Ngoài ra còn có 50 loài tôm trong đó 18 loài tôm nước ngọt và 32 loài tôm biển. Khu hệ cá cửa sông có 155 loài thuộc 58 họ và 15 bộ [48]. * Khí hậu, thời tiết Chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, song ở mỗi miền có đặc trưng khác nhau và đều thích hợp để phát triển NTTS đa loài, nhiều loại hình. Miền Bắc: Nhiệt độ không khí trung bình 22,2 – 23,50C, lượng mưa trung bình từ 1500 – 2400mm, tổng số giờ nắng từ 1650 – 1750giờ/năm. Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 8 và là vùng chịu ảnh hưởng lớn của bão và bão xuất hiện sớm trong cả nước. Vùng biển khu vực này thuộc nhật triều với biên độ 3,2 – 3,6m. Miền Trung: Nhiệt độ trung bình 25,5 – 27,50C, tổng số giờ nắng từ 2300 – 3000giờ/năm. Mưa tập trung vào cuối tháng 9 đến tháng 11. Chế độ thủy triều gồm nhật triều và bán nhật triều, có nhiều đầm, phá thích hợp nuôi thủy sản. Miền Nam: Khí hậu mang tính chất cận xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6 – 27,60C, tổng số giờ nắng trên 2000giờ/năm. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình từ 1400 – 2400mm, vùng biển khu vực này thuộc bán nhật triều với biên độ 2,5 – 3m. Tuy nhiên, hàng năm Việt Nam chịu nhiều thiên tai do bão, lũ gây nên, điều này có ảnh hưởng rất lớn đối với ngành khai thác và NTTS của cả nước. 1.2.2. Các điều kiện KT – XH * Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
  18. Đại hội Đảng VI đã đề ra mục tiêu 3 chương trình kinh tế lớn đó là: sản xuất lương thực - thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu. Vận dụng quan điểm, chủ trương này, trong thời gian qua ngành thủy sản đã sản xuất ra một số lượng hàng hoá rất lớn, vừa cung cấp nhu cầu cho nhân dân trong nước, đảm bảo an ninh thực phẩm, vừa cung cấp cho xuất khẩu. Như vậy, ngành thủy sản có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế nông - công nghiệp. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là tiến tới CNH - HĐH trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, do đó ngành thủy sản là một trong những lĩnh vực phải được đổi mới đầu tiên và quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế phải được thực hiện một cách đồng bộ trên cơ sở ổn định và phát triển KT-XH. Từ năm 1995 đến năm 2005, ngoài văn kiện của hai kỳ Đại hội Đảng khoá VIII và khoá IX nêu rõ chủ trương đường lối phát triển thủy sản, còn có hàng trăm văn bản chính sách có liên quan đến phát triển NTTS được ban hành. Các chính sách này có thể chia thành nhiều nhóm khác nhau. Cụ thể: Các chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ:" Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH - HĐH"[17, tr.170]. Với đường lối chỉ đạo này đã có một sức ảnh hưởng rất lớn đến ngành thủy sản, đó là nâng cao sự phát triển ngành thủy sản trong nền nông nghiệp toàn diện. Ngày 08/12/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 224/1999/QĐ- TTg phê duyệt chương trình phát triển NTTS thời kỳ 1999 - 2010. Quyết định đã chỉ rõ “Phát triển NTTS nhằm đảm bảo an ninh thực phẩm và tạo nguồn nguyên liệu chủ yếu cho xuất khẩu, phấn đấu đến 2010 tổng sản lượng NTTS đạt trên 2 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2,5 tỷ USD, tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 2 triệu người, góp phần tích cực vào phát triển KT-XH đất nước và an ninh ven biển”. Ngày 15/06/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 09/2000/NQ-CP về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, nghị quyết đã đánh giá những thành tựu trong sản xuất nông nghiệp, bao gồm nông, lâm, thủy sản, đồng thời đưa ra những định hướng về cơ cấu kinh tế nông nghiệp của nước ta trong 10 năm tới. Trong đó kinh tế thủy sản cần phát triển theo
  19. định hướng sau: khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ, đặc biệt là NTTS theo hướng phát triển bền vững. Định hướng phát triển các ngành kinh tế và các vùng trong chiến lược phát triển KT- XH 2001-2010, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX xác định:” Phát huy lợi thế về thủy sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàng đầu trong khu vực. Phát triển mạnh NTTS nước ngọt, nước lợ và nước mặn, nhất là nuôi tôm theo phương thức tiến bộ, hiệu quả và bền vững môi trường. Tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả khai thác hải sản xa bờ; chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, ổn định khai thác gần bờ; nâng cao năng lực bảo quản, chế biến sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế và trong nước. Mở rộng và nâng cấp các cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá. Giữ gìn môi trường biển và sông nước, bảo đảm cho sự tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản”[18, tr.170]. Thực hiện chính sách này các tỉnh đã rà soát lại diện tích mặt nước, các vùng làm lúa kém hiệu quả, các vùng đất hoang để quy hoạch, chuyển đổi, triển khai các dự án NTTS. Từ năm 1999 đến năm 2005 tổng diện tích chuyển sang NTTS của cả nước là 377.269 ha, trong đó chuyển đổi từ đất trồng lúa kém hiệu quả là 346.694 ha (chiếm 91,9%), đất cát là 1.304 ha (0,34%), đất trồng cói là 2.236 ha (chiếm 0,59%), ruộng làm muối kém hiệu quả là 2.170 ha, đất vườn, đất hoang hóa khác là 24.862 ha. Chỉ riêng ĐBSCL từ năm 2001 đến năm 2005 có 278.360 ha diện tích đất chuyển đổi sang NTTS, chiếm 83,6% tổng diện tích chuyển đổi của cả nước, trong đó chủ yếu là đất trồng lúa kém hiệu quả. Việc chuyển đổi ruộng trũng, ruộng cấy lúa 1 vụ bấp bênh, năng suất thấp, đất trồng cói, làm muối kém hiệu quả và đất cát, đất hoang hóa…sang NTTS là phù hợp với tình hình thực tế và làm tăng diện tích các loại hình mặt nước NTTS, từ đó tăng sản lượng thủy sản nuôi trồng, tăng doanh thu bình quân gấp nhiều lần so với trồng lúa, trồng cói hoặc làm muối. Các đối tượng nuôi được đa số nông dân lựa chọn là tôm sú, cá tra, cá basa vì hiệu quả kinh tế cao. Qua đó tiềm năng đất đai được khai thác hiệu quả hơn, đồng thời tạo ra một nghề mới có thu nhập cao hơn, làm cho người dân thực sự tiếp xúc và áp dụng những thành tựu nghiên cứu khoa học mới, nâng cao kiến thức, kỹ năng trình độ kỹ thuật, đầu tư hợp lý cho sản xuất.
  20. Chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản, từ khi có quyết định 103/2000/QĐ-TTg về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản và Quyết định 112/2004/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình phát triển giống thủy sản đến năm 2010 thì số lượng trại tôm giống và cá giống tăng lên nhanh chóng trong cả nước, nhất là ở ĐBSCL, tốc độ tăng tổng số trại giống 7,64%/năm giai đoạn 2001 - 2005. Đặc biệt, được sự quan tâm của các cấp chính quyền tại một số tỉnh, công tác kiểm dịch, quản lý trại tôm, cá giống được coi trọng. Chính sách khuyến ngư, hiện nay hầu như tỉnh nào cũng có Trung tâm khuyến ngư. Trong các năm qua, thông qua các cuộc tập huấn, hội thảo, thực hiện các điểm trình diễn, cấp phát các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh đã hỗ trợ đắc lực cho phát triển NTTS. Chính sách hỗ trợ vốn đầu tư cho ngành thủy sản, theo quyết định 02/2001/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ đầu tư từ quỹ hỗ trợ phát triển đối với các dự án sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu nông nghiệp, theo đó các dự án NTTS khi được xem xét hiệu quả và khả năng trả nợ sẽ được quyết định mức cho vay nhưng tối đa không được quá 90% tổng số vốn đầu tư của dự án. Ngoài ra đối với các dự án thuộc chương trình 224 và chương trình 112 còn được đầu tư cho quy hoạch NTTS và giống thủy sản, xây dựng các khu bảo tồn biển, bảo tồn thủy sản nội địa. Tổng số vốn đầu tư NTTS cả nước là 1.382,2 tỷ đồng, riêng ĐBSCL chiếm 27,43% tổng số vốn đầu tư của cả nước. Ngoài ra để bảo vệ nguồn lợi thủy sản nhằm mục đích phát triển lâu dài và bền vững, ngày 16/7/2004 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 131/2004/QĐ-TTg phê duyệt chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2010. Ngày 04/02/2005 Bộ trưởng Bộ thủy sản đã ban hành quyết định 219/QĐ- BTS phê duyệt Chương trình hành động của ngành thủy sản về “Chất lượng và thương hiệu cá tra, basa Việt Nam 2005-2010”. Mục tiêu của Chương trình: phấn đấu đến năm 2010 đạt sản lượng 1 triệu tấn cá tra, basa và giá trị kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ cá tra, basa đạt 800 triệu USD, chiếm tỷ trọng trên 30% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của nước ta. Đây là tỷ trọng đáng kể, quyết định tới tính chủ lực xuất khẩu của mặt hàng thủy sản Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản