intTypePromotion=1

Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Tác động của quá trình đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:195

0
75
lượt xem
13
download

Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Tác động của quá trình đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích của luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Tác động của quá trình đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội là nhằm tìm ra định hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy những thế mạnh cũng như hạn chế những mặt tiêu cực từ quá trình đô thị hóa mang lại, góp phần phát triển kinh tế - xã hội Cần Giuộc, Cần Đước.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Tác động của quá trình đô thị hóa thành phố Hồ Chí Minh đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội

  1. BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏO TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC SÖ PHAÏM THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH Huyønh Thò Thu Taâm TAÙC ÑOÄNG CUÛA QUAÙ TRÌNH ÑOÂ THÒ HOÙA THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH ÑEÁN HUYEÄN CAÀN GIUOÄC, CAÀN ÑÖÔÙC TÆNH LONG AN DÖÔÙI GOÙC ÑOÄ ÑÒA LYÙ KINH TEÁ-XAÕ HOÄI LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC Thaønh phoá Hoà Chí Minh - 2009
  2. BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏO TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC SÖ PHAÏM THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH Huyønh Thò Thu Taâm TAÙC ÑOÄNG CUÛA QUAÙ TRÌNH ÑOÂ THÒ HOÙA THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH ÑEÁN HUYEÄN CAÀN GIUOÄC, CAÀN ÑÖÔÙC TÆNH LONG AN DÖÔÙI GOÙC ÑOÄ ÑÒA LYÙ KINH TEÁ-XAÕ HOÄI Chuyeân ngaønh: Ñòa Lyù hoïc Maõ soá: 60 31 95 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC NGÖÔØI HÖÔÙNG DAÃN KHOA HOÏC: PGS.TS. ÑAËNG VAÊN PHAN Thaønh phoá Hoà Chí Minh - 2009
  3. LỜI CẢM ƠN Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài. Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Đặng Văn Phan - người đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn. Qua đây, tác giả cũng trân trọng cảm ơn các cơ quan: Văn phòng Ủy ban Nhân dân, văn phòng Huyện ủy, phòng Thống kê, phòng Tài nguyên&Môi trường, phòng Công thương, phòng Nông nghiệp&Phát triển nông thôn huyện Cần Giuộc, Cần Đước,... đã giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu và thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu. Cuối cùng, tác giả xin lời cảm ơn đến trường THPT Cần Đước, bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn. Long An, ngày………tháng……….năm 2009 Tác giả luận văn Huỳnh Thị Thu Tâm
  4. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Với mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp nên quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra ngày càng nhanh ở khắp các tỉnh thành. Quá trình này đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của từng địa phương với những mức độ khác nhau. Đồng thời, nó thúc đẩy quá trình đô thị hóa phát triển. Sự phát triển đô thị ở một số thành phố lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,…không chỉ tác động đến kinh tế - xã hội - môi trường trên địa bàn thành phố mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến những huyện, tỉnh tiếp giáp, nằm gần. Với vai trò là trung tâm đa chức năng, Thành phố Hồ Chí Minh đã có những ảnh hưởng to lớn đến các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm (đặc biệt là các khu vực vùng ven hoặc các tỉnh lân cận) trong đó có huyện Cần Giuộc, Cần Đước. Đây là 2 huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Long An, phía Bắc và phía Đông tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh. Có thời kỳ Cần Giuộc, Cần Đước vốn là địa bàn của tỉnh Chợ Lớn. Về giao thông đường bộ, có quốc lộ 50 chạy từ Thành phố Hồ Chí Minh qua Cần Giuộc, Cần Đước đến Tiền Giang và các tỉnh miền Tây; đường thủy có sông Cần Giuộc là đường vận chuyển hàng hóa của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long lên Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại. Với vị trí quan trọng như thế, trong những năm qua Thành phố Hồ Chí Minh là nhân tố tác động đến kinh tế - xã hội Cần Giuộc, Cần Đước sâu sắc. Việc chuyển nguồn vốn đầu tư từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Long An đã tạo nên mối liên kết giữa Thành phố Hồ Chí Minh với Cần Giuộc, Cần Đước trong việc khai thác tài nguyên, nguồn nhân lực, vốn, thị trường, cơ sở hạ tầng ,…góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội hai huyện này phát triển hơn. Xu hướng trên cũng làm cho diện tích đất nông nghiệp - một phương tiện kiếm sống của người nông dân bị thu hẹp dần, môi trường sống bị ô nhiễm,… Hiện nay, với sức ép gia tăng dân số cơ giới đã làm đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng lan rộng ra ngoại thành, tác động đến các tỉnh nằm gần thành phố. Trong thời gian tới, với việc quy hoạch, mở rộng vùng Thành phố Hồ Chí Minh
  5. về các hướng, trong đó có hướng về phía tỉnh Long An (Nam - Tây Nam) sẽ làm cho kinh tế - xã hội - môi trường ở huyện Cần Giuộc, Cần Đước càng bị tác động mạnh. Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế - xã hội của hai huyện dưới tác động của quá trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh ở một số mặt để từ đó có những giải pháp mang tính khả thi nhằm phát triển kinh tế - xã hội Cần Giuộc, Cần Đước trong thời gian tới. Chính vì vậy mà chúng tôi đã chọn đề tài “Tác động của quá trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội” để nghiên cứu với mong muốn góp phần nhỏ bé vào sự phát triển của huyện nhà. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Làm rõ tác động của quá trình đô thị hóa nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đến một số mặt kinh tế - xã hội huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An và ngược lại. Qua đó đề ra các định hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy những thế mạnh cũng như hạn chế những mặt tiêu cực từ quá trình đô thị hóa mang lại, góp phần phát triển kinh tế - xã hội Cần Giuộc, Cần Đước trong thời gian tới, đời sống người dân từng bước được cải thiện,… Để đạt được mục đích này, đề tài đề ra các nhiệm vụ sau: - Hệ thống hóa các vấn đề có liên quan đến quá trình đô thị hóa, làm rõ các khái niệm, các tác động của quá trình đô thị hóa đến một số mặt kinh tế - xã hội. - Điều tra, khảo sát các số liệu cần thiết. - Phân tích tác động của quá trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh đến một số mặt kinh tế - xã hội huyện Cần Đước, Cần Giuộc tỉnh Long An, những thành tựu đạt được và những hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới. - Xây dựng định hướng cũng như dự báo một số chỉ tiêu trong thời gian tới, đề ra những giải pháp mang tính khả thi.
  6. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa trong mối liên hệ giữa không gian kinh tế mở Thành phố Hồ Chí Minh với huyện Cần Giuộc, Cần Đước của tỉnh Long An dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Về nội dung nghiên cứu : Tập trung phân tích tác động của quá trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh đến một số mặt kinh tế - xã hội huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An. Về không gian: Huyện Cần Giuộc, huyện Cần Đước tỉnh Long An nằm trong mối quan hệ với Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian: Đề tài tập trung giai đoạn 2001 - 2007, 20081. Riêng quá trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh sẽ mở rộng thêm về quá khứ (từ năm 1975 đến 2007). 4. Lịch sử nghiên cứu đề tài Vấn đề đô thị hóa từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà Địa lý trên thế giới, nhưng ở Việt Nam quá trình nghiên cứu vấn đề này gần đây mới được chú ý đến. Theo GS. Đàm Trung Phường - nhà đô thị lão thành thuộc lớp kiến trúc sư đầu tiên tham gia quy hoạch xây dựng lại các đô thị miền Bắc bị tàn phá trong kháng chiến chống Pháp (1945 -1954) và nhiều thành phố công nghiệp mới của Việt Nam, cho rằng: “cho đến giữa thập niên 90 vẫn chưa có ai viết sách và tiếp cận có hệ thống”. Năm 1995 cuốn “Đô thị Việt Nam tập I, tập II ” của GS. Đàm Trung Phường ra đời và đã được tái bản lần thứ nhất vào năm 2005, tác giả tập trung giải quyết 2 vấn đề cơ bản là: --------------------------------------------------- 1 Ngày 06 tháng 02 năm 2001 biên bản hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giữa tỉnh Long An và TP.HCM được kí kết và thực thi tạo điều kiện cho một số huyện của tỉnh Long An nằm tiếp giáp Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều cơ hội và thách thức phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có huyện Cần Giuộc, huyện Cần Đước. “Biên bản hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giữa tỉnh Long An và TP.HCM”: Xem phụ lục
  7. + Đánh giá thực trạng mạng lưới đô thị Việt Nam và nghiên cứu những định hướng phát triển trong bối cảnh đô thị hóa thế giới và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thời kỳ đổi mới nước ta. + Mở rộng những khái niệm về đô thị học có quan hệ với những tiến bộ của thế giới, cập nhật những thông tin liên quan đến đô thị trong nước để tham khảo cho giáo trình giảng dạy sinh viên đại học và chủ yếu là sau đại học. Chính vì vậy mà chúng tôi coi cuốn sách “Đô thị Việt Nam tập I, tập II ” của GS. Đàm Trung Phường là một trong những công trình quan trọng để tiếp cận các vấn đề lý luận về đô thị nói chung cũng như đại cương về đô thị hóa ở Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, như chính tác giả của công trình thừa nhận “quyển đô thị Việt Nam chưa có điều kiện đi sâu vào từng đô thị mà chỉ mới dừng lại ở cấp vĩ mô (macro) và trung mô (mezo)”. [43, tr.5] Bên cạnh đó còn hàng loạt công trình đề cập đến đô thị hóa và những vấn đề liên quan đến nó như: “Dự án quy hoạch tổng thể vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam” của Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam (1996); “Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” của Trần Văn Chữ, Trần Ngọc Hiên (Đồng chủ biên) (Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 1998); “Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020” của Bộ Xây dựng (1999); “Dân số học đô thị” của Trần Hùng (Nxb Xây dựng Hà Nội, 2001); “Những con đường về thành phố - Di dân đến Thành phố Hồ Chí Minh từ một vùng Đồng bằng sông Cửu Long” của Vũ Thị Hồng, Patrick Gubry, Lê Văn Thành (Nxb TP.HCM 2003); “Quản lý đô thị thời kỳ chuyển đổi” của TS. Võ Kim Cương (Nxb Xây dựng Hà Nội, 2004); “Dự thảo nhiệm vụ quy hoạch xây dựng vùng Thành phố Hồ Chí Minh” của Bộ Xây Dựng (2004); “Vùng đô thị Châu Á và TPHCM” của Nguyễn Minh Hòa ( Nxb Tổng hợp TPHCM 2005); “Kinh tế đô thị và vùng” của Trần Văn Tấn (Nxb Xây dựng Hà Nội, 2006); “Ngập lụt tại các đô thị Châu Á - kinh nghiệm cho Thành phố Hồ Chí Minh ” của Nguyễn Minh Hòa, Lê Thị Hồng Diệp, Trương Nguyễn Khải Huyền (Nxb Tổng hợp TPHCM 2006); Văn hóa ngoại thành TPHCM (từ góc nhìn thiết chế) của Nguyễn Minh Hòa (Nxb Tổng
  8. hợp TPHCM 2007); “Hiệp Phước trên đường tiến ra biển Đông” của Phan Chánh Dưỡng, Nguyễn Văn Kích, Tôn Sĩ Kinh (Nxb Tổng hợp TPHCM 2006); “Công tác thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị” của Trần Trọng Hanh (Nxb Xây dựng 2008); “Địa lý đô thị”của Phạm Thị Xuân Thọ (Nxb Giáo dục 2008); vv…. Ngoài các công trình kể trên còn có bài viết của một số tác giả được đăng trên các tạp chí hoặc báo cáo tại các hội thảo khoa học. Các công trình nghiên cứu cũng như các hội thảo trên đã đề cập rất nhiều vấn đề từ lý luận đến thực tiễn đô thị hóa trên thế giới và trong cả nước, kể cả TP.HCM. Nhưng nhìn chung, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến tác động của quá trình đô thị hóa TP. HCM đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An. Chính vì vậy, luận văn này có thể được xem là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về tác động của quá trình đô thị hóa TP. HCM đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội. 5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5.1. Quan điểm 5.1.1. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ Đây là quan điểm cơ bản, truyền thống của Địa lý học. Trong thực tế các sự vật hiện tượng địa lý luôn có sự phân hóa không gian làm cho chúng có sự khác biệt giữa nơi này với nơi khác. Do đó, khi nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa TP. HCM đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An phải tìm hiểu mối quan hệ bên trong lãnh thổ và mối quan hệ giữa lãnh thổ nghiên cứu với các lãnh thổ lân cận. , đó chính là mối quan hệ không gian tương tác của đối tượng nghiên cứu. 5.1.2. Quan điểm hệ thống Đô thị hóa là quá trình chuyển hóa và vận động phức tạp mang tính quy luật. Đô thị hóa diễn ra trong mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật làm thay đổi kinh tế - xã hội, môi trường sống. Vì vậy, các tác động của quá trình đô thị hóa TP. HCM đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An cần được xem như là một hệ thống nằm trong hệ thống kinh tế - xã hội hoàn chỉnh, luôn vận động và phát triển không ngừng. TP. HCM là một yếu tố quan trọng trong hệ
  9. thống đô thị của quốc gia, tạo nên một cực phát triển trong hệ thống kinh tế - xã hội của các vùng xung quanh và cả nước. 5.1.3. Quan điểm lịch sử viễn cảnh Quan điểm này chú ý đến khía cạnh địa lý lịch sử. Các sự vật, hiện tượng không chỉ biến đổi trong không gian mà biến đổi cả theo thời gian. Do đó, việc nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa TP. HCM đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An trong mối liên hệ quá khứ - hiện tại - tương lai sẽ làm rõ bản chất của vấn đề theo một chuỗi thời gian, đảm bảo được tính logic, khoa học và chính xác khi nghiên cứu. 5.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Con người luôn chịu tác động của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Trong quá trình phát triển đô thị, con người đã làm biến đổi tự nhiên, gây ra những vấn đề môi trường nghiêm trọng. Cho nên, khi nghiên cứu cần phải quán triệt quan điểm sinh thái và phát triển bền vững để đề ra những giải pháp nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và tài nguyên môi trường. 5.2.Phương pháp nghiên cứu 5.2.1. Phương pháp thống kê Trong luận văn đã sử dụng và phân tích cơ sở số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, Cục thống kê TP. HCM, Long An, Phòng Thống kê Cần Giuộc, Cần Đước .Các số liệu điều tra từ các cơ quan và người dân tại địa phương,…Nhờ đó, chúng tôi đã có cơ sở để đánh giá mức độ tác động của quá trình đô thị hóa TP. HCM đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An. 5.2.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp Từ các tài liệu thu thập được, chúng tôi sắp xếp, phân loại và phân tích các thông tin, so sánh, đối chiếu nhằm tìm ra mối liên hệ giữa đô thị hóa với kinh tế - xã hội. Qua đó, đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa đến kinh tế - xã hội.
  10. 5.2.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ Nhằm chứng minh, làm sáng tỏ sự biến đổi của các hiện tượng kinh tế - xã hội, sự tác động của các yếu tố với nhau, ngoài việc dùng số liệu tương đối và tuyệt đối để chứng minh, chúng ta còn cụ thể hóa bằng các biểu đồ, bản đồ thích hợp. Bản đồ - biểu đồ là phương pháp đặc trưng của khoa học Địa lý. Việc sử dụng phương pháp này giúp cho các vấn đề nghiên cứu được cụ thể, trực quan và toàn diện hơn. Một số bản đồ trong luận văn được xây dựng bằng phần mềm Mapinfo 7.5 dựa trên các dữ liệu đã thu thập và xử lý. 5.2.4. Phương pháp dự báo Chúng tôi sử dụng phương pháp dự báo dựa trên cơ sở tính toán từ các số liệu đã thu thập được và sự phát triển có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và tương lai. 5.2.5. Phương pháp thực địa Đây là phương pháp cần thiết đối với nghiên cứu để có thể xác định mức độ tin cậy của các tài liệu, số liệu đã thu thập được. Tác giả đã điều tra thực tế một số nơi trên địa bàn, trực tiếp quan sát những thay đổi về kinh tế - xã hội, môi trường dưới sự tác động của quá trình đô thị hóa. Qua các thông tin và tìm hiểu thực địa, tác giả khẳng định lại mức độ tin cậy của số liệu và những nhận định đã có. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Sưu tầm, tổng hợp, phân tích và rút ra những tác động từ quá trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh ảnh hưởng đến Cần Giuộc, Cần Đước. Dựa trên thực trạng tác động từ quá trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài đưa ra những giải pháp, kiến nghị…nhằm hạn chế mặt tiêu cực và phát huy những ảnh hưởng tích cực để kinh tế - xã hội Cần Giuộc, Cần Đước phát triển hơn nữa, rút ngắn khoảng cách so với các khu vực lân cận. Đóng góp một phần nhỏ vào việc quy hoạch vùng Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 tầm nhìn 2050, bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính Thành phố Hồ Chí Minh và 7 tỉnh xung quanh gồm: Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long
  11. An, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu với diện tích 30.404 km2, bán kính ảnh hưởng từ 150 - 200 km. 7. Cấu trúc đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, phần nội dung nghiên cứu gồm ba chương: Chương 1 : Đô thị hóa và một số vấn đề liên quan. Chương 2: Tác động của quá trình đô thị hóa Thành phố Hồ Chí Minh đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội. Chương 3: Định hướng và giải pháp.
  12. Chương 1- ĐÔ THỊ HÓA VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1.1. Đô thị 1.1.1. Khái niệm Đô thị là một thực thể đã xuất hiện trong lịch sử xã hội loài người từ xa xưa, khi ở nơi này, nơi khác bắt đầu hình thành cách thức sinh hoạt khác biệt nếp sinh hoạt vẫn hằng tồn tại ở thôn quê gắn với nền sản xuất nông nghiệp. Những thực thể hình thành nên đô thị sau một quá trình chuyển động tổng hợp của những điều kiện ban đầu như sự định cư và tăng dân số trên một vùng nào đó, hoặc là do sự phát triển công nghiệp, thương mại phát triển. Trong các điều kiện ấy, trạng thái định cư dần dần biến đổi về chất, từ cộng đồng tập trung ở các địa phương, cô lập, tự cung tự cấp với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, trở thành một hình thái tập trung dân cư với những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp. Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những thuật ngữ khác nhau chỉ đô thị như thị trấn, thị xã, thành phố - Đô thị là thuật ngữ tổng quát dùng để chỉ các loại khu định cư có tính chất phi sản xuất nông nghiệp và qui mô đô thị khác nhau. Có nhiều khái niệm khác nhau về đô thị: Theo Ratzel ( 1960): “Đô thị là sự tích tụ lâu dài của người và chỗ ở của họ, chiếm một không gian không đáng kể và nằm giữa các cộng đồng lớn…” Ông cũng nêu lên sự đối lập hoạt động của nông thôn dựa trên cơ sở trồng trọt và chăn nuôi với hoạt động đô thị dựa vào công nghiệp và thương mại, cũng như nhà ở nông thôn phân tán hơn nhà ở đô thị. Theo Ratzel nếu dân số chưa đầy 2.000 người thì điểm tập trung dân cư đó mất tính chất đô thị. [53, tr.7] Theo Richtofen ( Berlin1968): “Đô thị là một nhóm tập hợp những người có cuộc sống không dựa vào nông nghiệp mà trước hết dựa vào công nghiệp và ông cũng cho rằng, người dân đô thị phải dựa trên hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và các nhu cầu sinh hoạt của họ chủ yếu do bên ngoài cung cấp”. [53, tr.7] Theo Yu. G. Xauskin: “Đô thị là một điểm quần cư có mật độ nhân khẩu cao và dân cư ở đây không có hoạt động nông nghiệp trực tiếp”.[53, tr.7]. Như vậy, theo Yu.G.Xauskin thì mật độ dân cư là nhân tố rất quan trọng để xác định đô thị.
  13. => Các khái niệm trên đã đưa ra những đặc điểm nhận biết đô thị vì mật độ dân số cao có thể không phải là đô thị. Cụ thể: tỉ lệ người không sống bằng nông nghiệp và tập trung với mật độ dân số cao ở những điểm khai thác mỏ than không được công nhận là đô thị, mà chỉ là những điểm công nghiệp khai thác, nếu hết than, nhóm dân cư đó lại chuyển đi nơi khác. Như vậy, các dấu hiệu để nhận biết đô thị không chỉ là sự tập trung dân cư cao độ và dân cư ở đó hoạt động trong các ngành phi sản xuất nông nghiệp mà còn bao gồm những dấu hiệu khác, như đô thị phải là nơi định cư lâu lài, bền vững. Một khái niệm tương đối hoàn chỉnh hơn là của Bách khoa toàn thư Liên Xô. Bách khoa toàn thư Liên Xô đã khái niệm: “Đô thị là khu dân cư rộng lớn, dân cư ở đây chủ yếu hoạt động trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp cũng như các lĩnh vực phục vụ, quản lý khoa học và văn hóa” [12, tr.28]. Ở Việt Nam, tên gọi đô thị có xuất xứ từ lịch sử hình thành các đô thị cổ Việt Nam. Các đô thị cổ Việt Nam được hình thành từ ba yếu tố là: đô, thành và thị. Đô chính là nơi làm việc của bộ máy quan lại triều đình phong kiến ở trung ương và địa phương, cũng là nơi của vua quan, gia đình và dòng tộc,… Thành là các thành quách và đơn vị quân đội thường trực có nhiệm vụ canh gác và bảo vệ “đô”. Thị dùng để chỉ thị trường buôn bán hàng hóa. Có “thành” và “đô” tất yếu phải có trao đổi, buôn bán. Nơi tập trung buôn bán chính là các chợ. Việc xuất hiện của chợ sẽ kéo theo sự tụ tập dân cư và cơ sở kinh tế khác, nhất là tiểu thủ công nghiệp. Ngày nay với sự phát triển của phương tiện bảo vệ hiện đại, các thành quách không còn là phương tiện bảo vệ hiệu quả nữa, nên khi xây dựng các đô thị người ta không xây dựng các thành quách bao quanh. Bên cạnh đó, các lực lượng bảo vệ như quân đội, cảnh sát cũng trở thành một đơn vị trong “đô”. Chính vì vậy, “thành” không còn đóng vai trò quan trọng trong đô thị hiện đại, mà thay vào đó là các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như: giao thông, điện nước, nhà cửa, y tế, giáo dục, văn hóa,…
  14. Theo từ điển Tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học, đô thị là “nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp, thành phố hoặc thị trấn”. [57, trang 332] Theo các tác giả của công trình Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, đô thị là “điểm dân cư tập trung với mức độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm chuyên ngành tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, huyện”. [49, tr.14] Từ đó, có thể hiểu đô thị là nơi tập trung dân cư rất đông đúc, nơi đó dân cư chủ yếu hoạt động trong các ngành sản xuất công nghiệp, quản lý kinh tế, quản lý hành chánh, văn hoá và các chức năng phi nông nghiệp khác. Nói một cách khác, đô thị là nơi tập trung dân cư với mật độ dân số cao, đa số là những người lao động phi nông nghiệp, dân cư sống và làm việc theo lối sống thành thị. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có ai đưa ra một định nghĩa xác đáng về đô thị. Những khái niệm quá phức tạp thường khó có định nghĩa xác đáng. Do đó, để xác định một cụm dân cư có phải là đô thị hay không, người ta căn cứ vào một số tiêu chí. Ở nước ta, ngày 5/5/1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ra quyết định số 132/HĐBT theo quy định đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản sau: 1. Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nhất định. 2. Quy mô dân số nhỏ nhất là 4.000 người (miền núi có thể thấp hơn). 3. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơn 60% trong tổng số lao động, là nơi có sản xuất dịch vụ và thương mại hàng hóa phát triển. 4. Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị. 5. Mật độ dân cư được xác định theo từng loại đô thị phù hợp với các đặc điểm của từng vùng. Như vậy, ở nước ta các điểm dân cư đô thị là những điểm dân cư có mật độ cao, lao động tập trung chủ yếu vào các ngành phi sản xuất nông nghiệp, có cơ sở hạ
  15. tầng thích hợp phục vụ cho dân cư đô thị, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ hay cả nước. - Mật độ dân cư là chỉ tiêu phản ánh mức độ tập trung dân cư đô thị, được tính bằng người/km2 hoặc số người/ha. - Lao động sản xuất phi nông nghiệp bao gồm: lao động công nghiệp và thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, bưu điện, ngân hàng, thương nghiệp và dịch vụ công cộng, du lịch, văn hóa, y tế, giáo dục, hành chính,… - Lao động sản xuất nông nghiệp ở ngoại thành. - Cơ sở hạ tầng: giao thông, điện, nước, thông tin, vệ sinh và các công trình công cộng phục vụ văn hóa xã hội, phục vụ giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học như: công viên, câu lạc bộ, rạp hát, rạp chiếu phim, viện bảo tàng, trường học, viện nghiên cứu khoa học, bệnh viện,… Đến năm 2001, theo nghị định 72/2001/NĐ-Cp ngày 5/10/2001 theo quy định đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản sau: 1. Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành. 2. Quy mô dân số nhỏ nhất là 4.000 người. 3. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trên 65% trong tổng số lao động. 4. Có đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội đạt từ 70% trở lên mức tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với từng loại đô thị. 5. Mật độ dân số thay đổi theo từng loại đô thị, từng vùng. Việc xác định quy mô, vai trò, chức năng của đô thị dựa vào hiện trạng và kết quả nghiên cứu phân bố lực lượng sản xuất, sơ đồ quy hoạch vùng. Mỗi đô thị có một không gian và địa giới riêng, bao gồm nội thị và ngoại ô, tùy thuộc vào loại đô thị và đặc điểm tự nhiên của vùng kế cận. Mỗi đô thị có các ngoại ô khác nhau, ngoại ô có chức năng hỗ trợ cho nội thị. Ngược lại, ngoại ô là vành đai chịu ảnh hưởng của nội thị về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Sự phát triển mạnh các chức năng KT - XH và quá trình đô thị hóa mạnh mẽ làm cho các đô thị có xu hướng không ngừng mở rộng vành đai ra ngoại thành. Việc điều chỉnh ranh giới đô thị sẽ là điều tất yếu đối với nhiều đô thị có sức hút lớn (các
  16. đô thị đặc biệt, loại I,loại II, loại III, loại IV), riêng các đô thị loại V không có ngoại ô. Từ thực tế tình hình đô thị hiện nay, các nhà nghiên cứu cũng như các chiến lược gia đã đưa ra 10 tiêu chí tối thiểu cho sự hiện diện một đô thị [47, tr.15,16]: 1. An toàn công cộng (Public safty). 2. Giá lương thực, thực phẩm (Food cost). 3. Không gian sinh tồn (Living spaces). 4. Tiêu chuẩn nhà ở (Housing standard). 5. Thông tin liên lạc (Communication). 6. Giáo dục (Education). 7. Sức khỏe công cộng (Public health). 8. Hòa bình và sự yên tĩnh (Peace and quiet). 9. Thuận tiện giao thông (Trafic flow). 10. Không khí trong lành (clean air). 1.1.2. Phân loại đô thị Để đánh giá vai trò, vị trí của đô thị trong hệ thống đô thị, chúng ta sắp xếp chúng theo một “trật tự đô thị” với những tiêu chí nhất định. Đó là sự phân loại các đô thị trên cở sở quy mô và phức tạp về chức năng của chúng. Ở nước ta đô thị phân theo hai hệ thống: theo phân cấp, phân loại đô thị và theo cấp quản lý hành chính. Theo Vụ Kiến trúc và Quy họach xây dựng - Bộ Xây dựng năm 2006 về việc phân loại và phân cấp đô thị, đô thị Việt Nam được chia thành 6 cấp đô thị như sau:
  17. Bảng 1.1. Phân loại đô thị ở Việt Nam [48, tr.7] Loại Chức năng Qui mô Mật độ, Vùng Cơ sở đô thị dân số tỉ lệ ảnh hạ tầng lao động hưởng phi SXNN Đặc Thủ đô hoặc đô thị là Từ 1,5 triệu Từ 15.000 Quốc Về cơ bản biệt trung tâm chính trị, trở lên người/km2 gia đồng bộ và kinh tế, văn hóa, khoa trở lên, tỉ hoàn chỉnh học kĩ thuật, đào tạo, lệ lao động du lịch dịch vụ, đầu phi nông mối giao thông, giao nghiệp từ lưu trong nước và 90% trở quốc tế, có vai trò lên thúc đẩy sự phát triển KT - XH của cả nước. I Đô thị rất lớn, là Từ 500.000 12.000 Vùng, Nhiều mặt trung tâm chính trị, đến 1,5 triệu người Quốc đồng bộ và kinh tế, văn hóa, khoa /km2, tỉ lệ gia hoàn chỉnh học kĩ thuật, du lịch lao động dịch vụ, đầu mối giao phi nông thông, giao lưu trong nghiệp nước và quốc tế, có trên 85% vai trò thúc đẩy sự phát triển KT - XH của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nước. II Đô thị lớn là trung Từ 250.000 10.000 Vùng Nhiều mặt tâm chính trị, kinh tế, đến 500.000 người/km2, tiến tới
  18. văn hóa, khoa học kĩ Tỉ lệ lao đồng bộ và thuật, du lịch dịch vụ, động phi hoàn chỉnh đầu mối giao thông, nông giao lưu trong tỉnh, nghiệp vùng liên tỉnh hoặc cả trên 80% nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT - XH của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước III Là trung tâm chính Từ 100.000 8.000 Tỉnh, Từng mặt trị, kinh tế, văn hóa, đến 250.000 người/km2, liên tỉnh đồng bộ và khoa học kĩ thuật, du tỉ lệ phi hoàn chỉnh lịch, dịch vụ, đầu mối lao động giao thông, giao lưu nông trong tỉnh, có vai trò nghiệp thúc đẩy sự phát triển trên 75% KT - XH của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh IV Là trung tâm tổng Từ 50.000 6.000 Huyện Đã hoặc hợp hoặc chuyên đến 100.000 người/km2, đang được ngành về chính trị, tỉ lệ lao xây dựng kinh tế, văn hóa, khoa động phi từng mặt học kỹ thuật, dịch vụ, nông đầu mối giao thông, nghiệp giao lưu trong tỉnh, có trên 70% vai trò thúc đẩy KT - XH của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh.
  19. V Là trung tâm tổng Từ 4000 đến Từ 2.000 Huyện - Đã hoặc hợp hoặc chuyên 50.000 người/km2, cụm xã đang được ngành về chính trị, tỉ lệ lao xây dựng kinh tế, văn hóa, dịch động phi nhưng chưa vụ, có vai trò thúc đẩy nông đồng bộ và KT - XH của một nghiệp hoàn huyện hoặc một cụm trên 65% chỉnh xã. => Dựa theo các tiêu chí trên, Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt. 1.1.3. Vai trò của đô thị Có những quan điểm khác nhau đánh giá vai trò của đô thị: Quan điểm 1: Đô thị lớn làm suy yếu các vùng xa trung tâm vì trong quá trình phát triển, sự cách biệt của giữa các đô thị và các vùng xung quanh càng tăng thêm.[29, tr.145] Quan điểm 2: Những đô thị lớn là đầu tàu thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước, của khu vực.[53, tr.37] Ở đây, chúng tôi nghiêng về quan điểm thứ hai hơn, vì thời đại nào thì các đô thị đều là nơi có tiềm lực lớn về kinh tế, chính trị, xã hội, có sức chi phối mạnh mẽ, ảnh hưởng đến các vùng xung quanh và ảnh hưởng đến sự phát triển KT - XH của mỗi quốc gia. Trong xu thế toàn cầu hóa, các thành phố lớn được mệnh danh là “thành phố trung tâm kinh tế quốc tế” hay thành phố thế giới (global city) có sức mạnh chi phối đối với nền kinh tế, chính trị thế giới. Ở phạm vi một quốc gia, đô thị là hạt nhân tạo vùng kinh tế, với vai trò là trung tâm công nghiệp, dịch vụ, hành chính, văn hóa, khoa học kỹ thuật. Ngoài ra, nó còn tạo ra lực hút kinh tế, dịch vụ và chi phối đời sống KT - XH đối với các vùng xung quanh, các đô thị khác và cả vùng. Sức hút của đô thị phụ thuộc vào quy mô của bản thân đô thị, vào tiềm lực của đô thị, khoảng cách của đô thị này với các đô thị khác. Đồng thời, sức hút của đô thị còn thay đổi phụ thuộc vào sự phát triển tương quan giữa các đô thị trong vùng. Sức lan tỏa ảnh hưởng của đô thị càng lớn thì quy mô vùng kinh tế càng lớn, tiềm lực vùng kinh tế
  20. càng mạnh. Trong vùng kinh tế, các đô thị lớn (thành phố) là hạt nhân chính, các đô thị vệ tinh và các đô thị nhỏ là hạt nhân phụ. Hệ thống đô thị trong vùng là bộ khung của vùng kinh tế. Các đô thị có mối liên hệ với nhau trong mạng lưới tạo nên sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ, khoa học, kỹ thuật và lao động. Với hệ thống dân cư đô thị có qui mô hơn vài triệu dân trở lên và có bán kính ảnh hưởng hàng chục thậm chí đến cả trăm km trong vùng, có thể nói chùm đô thị là hình thức chủ yếu về đô thị của thế kỷ XXI nó có thể kết hợp hài hòa ba cuộc Cách Mạng: công nghệ, nhân văn và xã hội. Như vậy, chùm đô thị có khả năng kết hợp khai thác các ưu điểm của hai lối sống thành thị và nông thôn, hình thành một đô thị sinh thái. 1.1.4. Hình thức tổ chức không gian đô thị Khi nói đến ĐTH, người ta thường đề cập đến khái niệm “tổ chức không gian đô thị”. Đó là khái niệm chỉ sự phân bố và sắp xếp các tổ chức không gian sống (nhà ở, công sở, nhà máy, cảnh quan môi trường) trên bề mặt của một thành phố theo những ý đồ nhất định nào đó, được thể hiện ở các mặt: “sự bố trí, sắp xếp các yếu tố không gian khác nhau của đô thị lên trên mặt bằng lãnh thổ dưới dạng bản đồ không gian ba chiều”[16, tr.13]. Trong luận văn này, việc tổ chức không gian đô thị liên quan chủ yếu đến “Vùng đô thị”. * Vùng đô thị (Metropolitan Area): Khái niệm 1: Vùng đô thị là một vùng địa lý gồm một trung tâm hạt nhân, dân cư lớn và các cộng đồng dân cư xung quanh có quan hệ hòa nhập về kinh tế với hạt nhân.[48, tr. 8,] Khái niệm 2: Vùng đô thị bao gồm thành phố cũ kết hợp với phần mở rộng. Thành phố cũ đóng vai trò là trung tâm và phần thứ hai mở rộng thêm.[16, tr.14] Hai khái niệm trên có nét tương đồng là đều nói đến sự có mặt của một thành phố chủ đạo đóng vai trò là trung tâm chính trị của toàn bộ vùng đô thị. Thành phố này thường có hàng trăm năm tuổi và được coi là cốt lõi, là linh hồn của toàn vùng. Dù lớn đến đâu, nó cũng được hình thành từ một hạt nhân đầu tiên (core). Cụ thể, Thành phố Sài Gòn bắt đầu từ Sài Gòn và Bến Nghé với diện tích không quá nửa

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản