intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện na

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:91

0
117
lượt xem
30
download

LUẬN VĂN: Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện na

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nước ta là một quốc gia đa dân tộc, cùng với dân tộc Kinh còn có 53 dân tộc thiểu số, với trên 10,5 triệu người. Tuy chỉ chiếm 14% dân số cả nước nhưng địa bàn cư trú của các dân tộc là 3/4 diện tích đất nước. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như an ninh quốc phòng. Nhìn lại tình hình phát triển kinh tế - xã hội của phần lớn các dân tộc thiểu số hiện nay, chúng ta thấy những khó...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện na

  1. LUẬN VĂN: Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trỡnh phỏt triển kinh tế - xó hội ở cỏc tỉnh miền nỳi phớa Bắc nước ta hiện na
  2. Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước ta là một quốc gia đa dân tộc, cùng với dân tộc Kinh còn có 53 dân tộc thiểu số, với trên 10,5 triệu người. Tuy chỉ chiếm 14% dân số cả nước nhưng địa bàn cư trú của các dân tộc là 3/4 diện tích đất nước. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như an ninh quốc phòng. Nhìn lại tình hình phát triển kinh tế - xã hội của phần lớn các dân tộc thiểu số hiện nay, chúng ta thấy những khó khăn chồng chất mà đồng bào đang phải gánh chịu. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc đã chỉ ra: Sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là từ sau khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, tình hình ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có bước chuyển biến quan trọng, tuy nhiên cho đến nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế, yếu kém [24, tr.31]. Hội nghị cũng nhận định một cách cụ thể: Nhìn chung, kinh tế ở miền núi và các dân tộc còn chậm phát triển, nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập quán canh tác còn lạc hậu. Chất lượng sản phẩm thấp, tiêu thụ khó khăn. Tình trạng du canh, du cư, di dân tự do còn diễn biến phức tạp. Một số hộ còn thiếu đất sản xuất. Kết cấu hạ tầng ở vùng cao, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng còn rất thấp kém... ở nhiều vùng dân tộc và miền núi tỷ lệ đói nghèo hiện còn cao hơn so với bình quân chung cả nước; khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng... [24, tr.31-32]. Để khắc phục hạn chế, yếu kém, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn miền núi, ngoài việc phải khai thác tiềm năng, thế mạnh từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái, đồng thời phải tập trung phát huy các nguồn lực, trong đó nguồn lực con người là nguồn lực mang tính trực tiếp và quyết định. Phụ nữ DTTS chiếm hơn 1/2 dân số, là nguồn lực có vai trò, vị trí đặc biệt, tác động rất lớn tới phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở những khu vực này.
  3. Phụ nữ DTTS nước ta là những chủ nhân của đất nước, có tiềm năng lớn tác động trực tiếp đến sự phát triển ngay trên chính quê hương họ. Nhưng thực trạng hiện nay cho thấy, vấn đề việc làm, thu nhập, địa vị của người phụ nữ là những vấn đề bức xúc đối với phụ nữ vùng dân tộc thiểu số. Bởi vì, đại bộ phận các gia đình ở các dân tộc thiểu số đang sống ở mức nghèo đói, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, miền núi. Trong bộ phận dân cư ấy, phụ nữ lại là nhóm xã hội cực khổ nhất. Họ vừa tham gia lao động sản xuất ngoài xã hội, cộng đồng; lại vừa trực tiếp chăm lo công việc gia đình nên cường độ lao động và thời gian lao động đối với họ là quá tải trong khi mức thu nhập lại thấp, thậm chí họ lao động vất vả nhưng ít được cộng đồng, xã hội quan tâm. Bên cạnh đó, điều kiện để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống còn rất nhiều hạn chế, yếu kém: trình độ sản xuất, tư liệu lao động, kết cấu hạ tầng, nguồn vốn... Hơn thế nữa, phụ nữ vùng dân tộc thiểu số chính là người trực tiếp tham gia các hoạt động kinh tế, trực tiếp sản xuất nhưng ít có cơ hội, điều kiện tiếp thu khoa học kỹ thuật. Trình độ học vấn nói chung là thấp, công việc nội trợ gia đình, sinh đẻ và nuôi dạy con cái cũng làm hạn chế năng lực sản xuất của phụ nữ. Vì vậy, để phụ nữ vùng DTTS phát triển phải phát huy tiềm năng của họ, điều đó vừa có ý nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, vừa có ý nghĩa trong thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Khu vực miền núi phía Bắc nước ta gồm Đông Bắc và Tây Bắc, là địa bàn tụ cư của nhiều dân tộc thiểu số. Đây cũng là những vùng mà kinh tế - xã hội phát triển chậm (nhất là Tây Bắc). Một trong những nguyên nhân hạn chế sự phát triển chung của khu vực này là chưa khai thác, phát huy tiềm năng của lực lượng lao động nữ, thực hiện bình đẳng giới. Trong bối cảnh như vậy, việc đánh giá thực trạng tiềm năng của phụ nữ các dân tộc thiểu số, chỉ ra những nguyên nhân và tác động của chính sách kinh tế - xã hội, đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm phát huy tiềm năng của họ, tạo điều kiện và cơ hội cho họ hòa nhập vào phát triển, góp phần tích cực vào sự phát triển chung của cộng đồng là cấp thiết. Đây chính là một phương hướng, nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp giải phóng phụ nữ của cánh mạng XHCN nói chung, của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nói riêng. Chính thực tế đó đã thôi thúc tôi lựa chọn đề tài: “Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quá trỡnh phỏt triển kinh tế - xó hội ở cỏc tỉnh miền nỳi phớa Bắc nước ta hiện nay” làm luận văn thạc sĩ triết học của mình.
  4. 2. Tình hình nghiên cứu Nghiên cứu về phụ nữ, gia đình, dân tộc các vùng nông thôn miền núi đã được tiến hành từ lâu, tuy nhiên, có nhiều cách tiếp cận dưới những góc độ khác nhau. Đặc biệt, trong những năm gần đây, cụ thể hơn là từ khi có Nghị quyết 22-NQ/TƯ, ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, thì những vấn đề này được quan tâm nhiều hơn. Những cuộc điều tra, nghiên cứu về kinh tế - xã hội miền núi thực hiện theo những chuyên đề, những công trình như: - Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa - chủ biên (1998): Phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hướng CNH, HĐH, Nxb CTQG. Công trình đã phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội vùng DTTS, từ đó đưa ra định hướng chung cho quá trình phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, công trình chưa khai thác những đặc điểm về dân cư, tộc người, nguồn lực lao động, trong đó có nguồn lực nữ. - Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX (2001), Nxb CTQG. Đây là công trình lớn của nhiều nhà khoa học, nhiều vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, viết về quá trình phát triển các dân tộc thiểu số trong một thế kỷ qua. Có một số chuyên luận đã nói về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội... Tuy nhiên chưa có chuyên luận nào đi sâu vào phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực nữ dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc. - ủy ban Dân tộc và miền núi (2002): Miền núi Việt Nam, thành tựu và phát triển những năm đổi mới, Nxb Nông nghiệp. Đây là công trình tổng kết quá trình đổi mới, phát triển của miền núi, và đánh giá những thành tựu, hạn chế của quá trình đó, đồng thời nêu quan điểm định hướng và nguyên tắc phát triển miền núi và vùng DTTS. Đặc biệt, công trình đã đề cập đến vấn đề nghèo đói và sự tác động của nó đến các nhóm cư dân khác nhau, trong đó, phụ nữ, trẻ em là nhóm xã hội bị tác động lớn nhất, từ đó đưa ra các giải pháp hỗ trợ cho nhóm này. - Viện nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi (2002): Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb CTQG. Cuốn sách bao gồm những chuyên đề được trình bày tại cuộc hội thảo lớn đề cập đến nhiều vấn đề kinh tế - xã hội và chính sách dân tộc. - Hà Quế Lâm (2002): Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay, Nxb CTQG: xuất phát từ những số liệu điều tra xã hội học, những cứ liệu được đánh giá qua các cuộc hội thảo và báo cáo chuyên đề về công tác xóa đói giảm nghèo, đặc biệt
  5. là vùng DTTS, công trình nêu lên những thành tựu và khó khăn của công cuộc xóa đói, giảm nghèo và đề ra hướng phát huy sức mạnh nguồn lực tại chỗ, nội lực của đồng bào DTTS. - Nguyễn Quốc Phẩm: Các dân tộc Việt Nam trên con đường CNH, HĐH. Kỷ yếu Hội thảo của Viện Dân tộc (2003). Trong chuyên luận có bàn đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn các vùng dân tộc thiểu số miền núi. Tuy nhiên, chuyên luận chưa đi sâu khai thác nội lực, nguồn lực lao động của các nhóm xã hội. - Nguyễn Quốc Phẩm “Những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến phát triển bền vững các vùng dân tộc thiểu số miền núi ở Việt Nam. Kỷ yếu khoa học cấp bộ của Viện Dân tộc học và ủy ban Dân tộc (2003). Tham luận nêu và lý giải những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân cư, tộc người đối với quá trình phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số miền núi nước ta. - Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học (2004-2005): “Phát huy nội lực từng vùng và các dân tộc nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn các tỉnh miền núi, vùng cao Tây Bắc nước ta hiện nay”. Đây là công trình kết quả đề tài khoa học cấp bộ. Các tác giả đề tài khảo sát, phân tích những đặc điểm, tiềm năng, thế mạnh, khó khăn vùng Tây Bắc, từ đó đề xuất những giải pháp phát huy hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, phát huy nội lực các dân tộc. Tuy nhiên, đề tài cũng chưa có điều kiện đi sâu phân tích nguồn lực lao động nữ, vì vậy những số liệu đề tài đưa ra chưa được phân tích dưới góc độ giới. Với đối tượng phụ nữ, trong những năm qua, trung tâm nghiên cứu Gia đình và phụ nữ thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia đã có tiến hành nghiên cứu ở một số điểm trong cả nước dưới những góc độ khác nhau đề cập đến vai trò của phụ nữ trong gia đình, trong xã hội và tác động của chính sách của Đảng, Nhà nước về dân số, gia đình, phụ nữ nông thôn. Trong đó, bước đầu đã có sự xem xét, đánh giá dưới góc độ giới. Sau đây là một số kết quả nghiên cứu: “Thực trạng gia đình Việt Nam và vai trò phụ nữ trong gia đình (1990); “Gia đình, người phụ nữ và giáo dục gia đình” (1993); “Đánh giá vì sự tiến bộ của phụ nữ từ 1985-1995”. Tác giả Bùi Thị Kim Quỳ với: “Phụ nữ Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước, vấn đề lao động, việc làm và hạnh phúc gia đình, gia đình và địa vị người phụ nữ trong xã hội, cách nhìn từ Việt Nam và Hoa Kỳ,” Nxb KHXH, (1995). Bàn về vấn đề này còn có các đề tài khoa học, bài viết của cán bộ Trung tâm
  6. nghiên cứu Khoa học về gia đình và phụ nữ được nêu trong báo cáo tổng kết 10 năm xây dựng và phát triển của Trung tâm là các tư liệu phong phú và khá đầy đủ, phản ánh nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến vai trò của phụ nữ, phụ nữ trong phát triển. Tiêu biểu là “Vai trò gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam”, do tác giả Lê Thi làm chủ nhiệm; “Phụ nữ, giới và phát triển” (1996) của tác giả Trần Thị vân Anh và Lê Ngọc Hùng; “Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường do Đỗ Thị Bình và Lê Ngọc Lân thực hiện; “Những vấn đề chính sách xã hội đối với phụ nữ nông thôn trong giai đoạn hiện nay do tác giả Trần Thị Bình làm chủ biên(1997); Báo cáo của Ngân hàng thế giới về “Đưa vấn đề giới vào phát triển” (2001); “Nghiên cứu giới, phụ nữ và gia đình” của tác giả Nguyễn Linh Khiếu (2003). Ngoài ra còn có các luận văn, luận án như: “Bình đẳng giới trong gia đình nông thôn ở Đồng bằng sông Hồng hiện nay” (2002) của tác giả Chu Thị Thoa; “Gia đình Việt Nam và vai trò người phụ nữ trong gia đình hiện nay” của tác giả Dương Thị Minh; “Học thuyết Mác - Lênin về phụ nữ và liên hệ thực tiễn nước ta hiện nay” (2002) của tác giả Lê Ngọc Hùng; “Phát huy nguồn nhân lực nữ và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn” của tác giả Lê Thi; Gần đây, công trình mới được xuất bản năm 2005 “Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Đỗ Thị Thạch đã một lần nữa chứng minh “sức lao động dồi dào, óc sáng tạo phong phú, là nguồn lực to lớn cần được phát huy trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội” của người phụ nữ. Đó là những công trình nghiên cứu hệ thống và là tư liệu tham khảo quý cho luận văn. Đối với phụ nữ vùng DTTS - với tính cách là một đối tượng hẹp thì hiện nay chưa được nghiên cứu một cách chuyên biệt, mà chỉ có một số công trình và bài viết liên quan đến vấn đề này của tác giả Đỗ thúy Bình như: “Gia đình người H, mông trong bối cảnh kinh tế hiện nay”( 1992); “Môi trường miền núi và phụ nữ miền núi” (1995); “Về cơ cấu gia đình các dân tộc miền núi phía Bắc”; “Một số vấn đề đặt ra khi nghiên cứu thực trạng đời sống phụ nữ các dân tộc ít người góp phần hoàn thiện chính sách xã hội” (2002). Đề tài mà tác giả chọn làm luận văn góp phần bổ sung mặt thiếu hụt mà các công trình nêu trên chưa đề cập tới. Luận văn nhằm giải đáp về mặt lý luận nghiên cứu nguồn lực con người ở vùng núi phía Bắc và giải đáp vấn đề thực tiễn của đổi mới là phải nhìn nhận đánh giá thực trạng tiềm năng của phụ nữ và đời sống của họ. Tiềm năng ấy cần phải được phát huy để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trên cơ sở tìm hiểu, xem xét sự tham
  7. gia của mỗi giới trong hoạt động, hưởng thụ trong đời sống kinh tế - xã hội miền núi hiện nay, những thuận lợi, khó khăn, cản trở họ trên con đường phát triển, đề ra những biện pháp phát huy tiềm năng của phụ nữ DTTS ở miền núi phía Bắc. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài * Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng tiềm năng và việc phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc, luận văn đề xuất những phương hướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tiềm năng của đội ngũ này trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn đã nêu trong điều kiện hiện nay. * Nhiệm vụ của đề tài: - Xem xét những vấn đề lý luận và các khía cạnh tổng quát liên quan đến phụ nữ, tiềm năng, nội lực của phụ nữ đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. - Phân tích, đánh giá thực trạng của việc phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nước ta trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. - Đề xuất những phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu để phát huy tiềm năng của phụ nữ các dân tộc thiểu số, thực hiện bình đẳng giới trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh CNH, HĐH. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài * Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc và việc khai thác, phát huy tiềm năng, nội lực của phụ nữ ở các vùng đã nêu. *Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề phát huy tiềm năng của phụ nữ các dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay (qua điều tra một số tỉnh tiêu biểu của khu vực: Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình, Hà Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn). * Thời gian nghiên cứu: Từ năm 1986 đến nay 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở phương pháp luận.
  8. - Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp: Lôgíc - lịch sử, tổng hợp, phân tích các tài liệu, khảo sát thực tế, điều tra xã hội học, v.v.. 6. Những đóng góp về khoa học và ý nghĩa của luận văn - Từ góc độ Triết học, chuyên ngành CNXHKH, Luận văn kết hợp chặt chẽ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam với phương pháp tiếp cận giới. Từ đó không những làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về giải phóng phụ nữ mà còn đưa họ vào quá trình phát triển, nhất là nhóm phụ nữ nghèo nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số, nơi còn rất nhiều hạn chế trong thực hiện bình đẳng giới. - Từ khảo sát thực tế, phân tích thực trạng tiềm năng của phụ nữ các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, luận văn đề ra những phương hướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tiềm năng, nội lực của họ, coi đây là một điều kiện, tiền đề quan trọng nhằm phát huy nguồn lực lao động nông thôn miền núi trong quá trình CNH, HĐH. - Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, giảng dạy về giới trong hệ thống các tr ường Đảng, các trường đào tạo cán bộ nữ... 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương, 7 tiết.
  9. Chương 1 Phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số - những khía cạnh lý luận chung 1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề giải phóng phụ nữ 1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề giải phóng phụ nữ Phụ nữ là phần nửa dân số không thể thiếu được trong đời sống xã hội. Phụ nữ là một bộ phận cấu thành quan trọng có ý nghĩa quyết định việc tái sản xuất lực lượng sản xuất, góp phần quan trọng vào sự phát triển xã hội bền vững. Các nhà kinh điển Mác - Lênin đánh giá rất cao vai trò, vị thế của phụ nữ trong xã hội, coi phụ nữ là nguồn nhân lực chủ yếu trong cách mạng xã hội. Theo các ông: “Trong lịch sử nhân loại, không có một phong trào to lớn nào của những người áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia, phụ nữ lao động là những người bị áp bức nhất trong tất cả những người bị áp bức” [46, tr.60], chính vì vậy nên họ chưa bao giờ và không bao giờ đứng ngoài các cuộc đấu tranh giải phóng. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ phải gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Nếu dân tộc đã được giải phóng rồi, phụ nữ có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phụ nữ phải có trách nhiệm phát triển kinh tế - xã hội. Nói cách khác, theo Ăngghen, phụ nữ tham gia công việc xã hội chính là điều kiện đầu tiên để giải phóng phụ nữ. Người khẳng định rõ hơn: “Người ta thấy rằng, sự giải phóng phụ nữ, quyền bình đẳng giữa nam và nữ đều không thể có được và mãi mãi không thể có được; chừng nào mà người phụ nữ còn bị gạt ra ngoài lao động sản xuất của xã hội và còn phải bị bó hẹp trong công việc riêng tư ở gia đình” [45, tr.507]. Có thể nói, cả C.Mác và Ph.Ăngghen đều cho rằng, xã hội cần phải giải phóng phụ nữ khỏi sự ràng buộc gia đình, phải làm cho phụ nữ và nam giới bình đẳng bằng cách lôi cuốn phụ nữ tham gia công việc xã hội. Những quan điểm biện chứng ấy có được là xuất phát từ sự nghiên cứu công phu và sự chiêm nghiệm trong thực tiễn của C.Mác và Ph.Ănghen để tìm hiểu địa vị của người phụ nữ trong xã hội tư sản. Các ông đã chứng kiến và thấu hiểu tình cảnh của người phụ nữ trong
  10. nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đó là tình trạng người phụ nữ bị bóc lột đến kiệt sức, thậm chí bị chết vì do lao động quá sức. Phụ nữ bị mắc các bệnh nghề nghiệp đến tử vong và họ bị mắc bệnh nhiều hơn nam giới. C.Mác chỉ rõ: “Trong những nghề nghiệp của phụ nữ như bông, len, lụa và đồ gốm, tỷ lệ bình quân chết vì bệnh phổi trong 100 nghìn người đàn bà là 643 người, nhiều hơn so với tỷ lệ đàn ông là 610 người” [50, tr.428]; hoặc đó là sự bóc lột tinh vi bằng cách kéo dài ngày công lao động trong môi trường thiếu vệ sinh và thiếu không khí. Phụ nữ phải làm việc cật lực trung bình ngày 16 giờ và trong mùa may mặc thì làm cật lực một mạch 30 giờ không nghỉ. Hậu quả của tình trạng trên là sự suy sụp về tinh thần và thể xác: “Không mấy chốc họ đã thấy mệt mỏi, kiệt sức, suy nhược, ăn mất ngon, đau vai, đau lưng, đau thắt lưng, nhất là đau đầu; sau đó là xương sống bị vẹo, hai vai nhô cao và biến dạng, gầy mòn, mắt sưng, chảy nước mắt và nói chung là nhức nhối, cận thị, ho, ngực lép, khó thở và mọi thứ bệnh phụ nữ [48, tr.589]. C.Mác đi đến kết luận: trong nền sản xuất tư bản chủ, nghĩa phụ nữ có vai trò lớn nhưng địa vị lại thấp hèn cả trong gia đình và ngoài xã hội, họ luôn chịu cảnh bất bình đẳng với nam giới, bị bóc lột, bị tha hóa. Trong các công xưởng tư bản chủ nghĩa, phụ nữ phải chịu bao nỗi nhục nhã, đắng cay, phải lao động cực nhọc, làm việc cật lực thậm chí là trong điều kiện ốm đau. Phụ nữ là nô lệ. Tình trạng trong hôn nhân gia đình dưới chế độ TBCN cũng vậy. Trong chế độ TBCN có hai loại gia đình là gia đình tư sản và gia đình vô sản, giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất là giai cấp thống trị và bóc lột giai cấp không có tư liệu sản xuất, điều này được thể hiện rõ trong gia đình tư sản, nơi mà người đàn ông nắm giữ địa vị kinh tế thì nắm giữ luôn vị thế thống trị người đàn bà, người đàn bà không có tư liệu sản xuất. Với tư cách là đơn vị của tế bào xã hội, gia đình cũng chứa đựng tất cả mối quan hệ bất công và bất bình đẳng xã hội. Ph. Ăngghen viết: “trong gia đình, người chồng là nhà tư sản, người vợ đại biểu cho giai cấp vô sản” [49, tr.116]. Như vậy, chế độ tư bản đã làm tăng sự nô dịch từ hai phía xã hội và gia đình và chất thêm gánh nặng lên cả hai vai người phụ nữ. Cùng một lúc phụ nữ phải vừa tham gia lao động trong nền sản xuất xã hội và vừa phải đảm nhiệm mọi thứ công việc như nô lệ trong gia đình. Nghiên cứu lịch sử loài người, C.Mác và Ăngghen chỉ ra rằng: Trong xã hội có giai cấp đối kháng, phụ nữ là nạn nhân trực tiếp của sự áp bức giai cấp và sự bất bình đẳng
  11. trong gia đình và ngoài xã hội. Sự ra đời của chế độ tư hữu dẫn đến tình trạng áp bức, nô dịch của giai cấp có của đối với giai cấp không có của, từ đây, trong gia đình người phụ nữ trở nên hoàn toàn lệ thuộc về kinh tế, phải phục tùng tuyệt đối quyền lực của người chồng. Từ việc phân tích sự bất bình đẳng nam nữ trong xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội và nhận thức của sự bất bình đẳng đó. Về nguồn gốc kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ các ông nhấn mạnh rằng: sự phân công lao động giữa nam và nữ là do những nguyên nhân hoàn toàn khác, chứ không phải do địa vị của người đàn bà trong xã hội quyết định. Quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới là do quan hệ kinh tế của họ quyết định. Kể cả trong hôn nhân, thì nguồn gốc của sự thống trị của đàn ông đối với đàn bà cũng là sự thống trị về mặt kinh tế. Ph. Ăngghen đã vạch rõ nguyên nhân kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ như sau: “Tình trạng không bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng ta, tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế” [49, tr.115]. Sự bất bình đẳng nam nữ hay sự bất bình đẳng về giới có nguồn gốc từ sự bất bình đẳng về kinh tế giữa phụ nữ và nam giới. Địa vị của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội luôn thấp kém hơn nam giới là bắt nguồn từ địa vị kinh tế của họ. Phụ nữ có địa vị thấp kém hơn nam giới trước hết là trong quan hệ đối với tư liệu sản xuất, đồng thời là trong quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất và trong quan hệ phân phối, tiêu dùng sản phẩm. Cơ sở kinh tế như thế nào thì đặc điểm và tính chất của mối quan hệ nam nữ như thế ấy. Trong nền kinh tế cộng sản nguyên thủy, do đàn bà nắm giữ kinh tế nên đàn bà đồng thời nắm giữ quyền cai quản xã hội và gia đình. “Kinh tế gia đình cộng sản... là cơ sở hiện thực của quyền thống trị của người đàn bà, cái quyền thống trị phổ biến khắp mọi nơi trong thời nguyên thủy” [49, tr.83]. Nhưng cùng với sự thống trị kinh tế của đàn bà bị mất và đàn ông nắm quyền thống trị kinh tế thì sự thống trị của nam giới với phụ nữ trở nên phổ biến không chỉ trong nền sản xuất vật chất của xã hội mà cả trong nền tái sản xuất, tức là trong hôn nhân gia đình. Mác và Ăngghen chỉ rõ: “Sự thống trị của đàn ông trong hôn nhân chỉ đơn thuần là kết quả của sự thống trị của họ về kinh tế” và vì vậy, khi không còn chế độ tư hữu thì sự thống trị của đàn ông đối với đàn bà trong hôn nhân “sẽ tiêu vong cùng với sự thống trị về kinh tế” [49, tr.127].
  12. Học thuyết Mác - Lênin đã chỉ rõ nguồn gốc và nguyên nhân kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ trong xã hội. Nền kinh tế dựa trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội đã đẻ ra 2 đặc trưng cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình: một là sự thống trị của người đàn ông và hai là tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân. Kết luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng rút ra ở đây là: cơ sở kinh tế biến đổi thì những đặc điểm và tính chất của mối quan hệ nam nữ tương ứng với nó cũng thay đổi. Về nguồn gốc nhận thức, văn hóa - xã hội của sự bất bình đẳng nam nữ, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng: bên cạnh yếu tố kinh tế là nguyên nhân chính gây nên tình trạng bất bình đẳng nam nữ còn có yếu tố phi kinh tế - đó là yếu tố thuộc về nhận thức, văn hóa, xã hội. Ănghen đã nêu rõ quan điểm này như sau: Chúng tôi coi những điều kiện kinh tế là cái cuối cùng quyết định sự phát triển lịch sử. Nhưng chủng tộc cũng là một nhân tố kinh tế... Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, v.v. là dựa trên sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả sự phát triển đó đều tác động lẫn nhau và cùng tác động đến cơ sở kinh tế. Hoàn toàn không phải điều kiện kinh tế là nguyên nhân duy nhất chủ động, còn mọi thứ khác chỉ có tác dụng thụ động. Trái lại, có sự tác động qua lại trên cơ sở tính tất yếu kinh tế, xét đến cùng bao giờ cũng tự vạch ra con đường đi của nó. Nhà nước, chẳng hạn, tác động bằng những thuế quan bảo hộ, tự do buôn bán; bằng chế độ thuế khóa tốt hay xấu [47, tr.788]. Trình độ nhận thức, thói quen suy nghĩ và các phong tục tập quán phản ánh sự bất bình đẳng kinh tế giữa phụ nữ và nam giới đã ăn sâu bám chắc vào trong óc con người, thành tư tưởng “trọng nam khinh nữ” và thành thói ứng xử của người đàn ông đối với đàn bà. Đó chính là nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc văn hóa - xã hội của sự bất bình đẳng nam nữ. Tư tưởng trọng nam khinh nữ, tập quán gia trưởng trở thành quy tắc, thành thông lệ. Tàn tích đó của chế độ nam trị, chế độ thống trị của toàn thể nam giới đối với toàn thể nữ giới không cần tới pháp luật bảo vệ vẫn có tác động cưỡng chế, điều chỉnh hành vi ứng xử của người đàn ông và đàn bà ngay cả khi cơ sở kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ bị phá bỏ. Ăngghen viết: Tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân, thì một phần là kết quả của các điều kiện kinh tế, trong đó có chế độ một vợ một chồng phát sinh, và phần nữa
  13. là một truyền thống của thời kỳ trong đó có mối liên hệ giữa các điều kiện kinh tế ấy với chế độ một vợ một chồng còn chưa được người ta hiểu một cách đúng đắn, và đã bị tôn giáo thổi phồng lên [49, tr.127]. Không chỉ tôn giáo thổi phồng lên mà cả tư tưởng, pháp luật của giai cấp tư sản cũng ra sức bảo vệ cho sự bất bình đẳng nam nữ. Học thuyết Mác - Lênin chỉ rõ rằng cùng với nguồn gốc kinh tế, sự thống trị của đàn ông đối với đàn bà còn bắt nguồn từ trong nhận thức, niềm tin và thói quen cùng phong tục tập quán được hình thành từ lâu trong lịch sử. Trên cơ sở phân tích nguồn gốc kinh tế, xã hội và nhận thức của tình cảnh phụ nữ bị áp bức trong xã hội tư bản chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã vạch rõ xu hướng biến đổi địa vị của người phụ nữ theo hướng tiến tới sự bình đẳng nam nữ trong xã hội và tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa đối với sự giải phóng phụ nữ. Khi bàn về vấn đề này, C.Mác và Ph. Ănghen khẳng định, phụ nữ có tiềm năng, vai trò và vị trí trong các cuộc cách mạng xã hội. Theo C.Mác, chính chủ nghĩa tư bản phát triển đã tạo ra những tiền đề kinh tế, xã hội cho cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp bị áp bức, bóc lột, giải phóng phụ nữ nhưng bản thân chủ nghĩa tư bản khi xác lập vị trí của nó trên vũ đài chính trị lại không thể giải phóng được con người nói chung, người phụ nữ nói riêng khỏi sự áp bức của gia đình và xã hội, thậm chí nó còn tăng cường sự áp bức bóc lột và làm tha hóa phụ nữ. Việc này chỉ có thể giải quyết được trong chủ nghĩa xã hội, vấn đề là làm thế nào để giải phóng được phụ nữ khỏi sự áp bức bất công trong cả gia đình và ngoài xã hội? C.Mác khẳng định: phải giải phóng phụ nữ khỏi mọi sự áp bức và bất bình đẳng. Điều đó chỉ có thể thực hiện bằng cuộc cách mạng vô sản- cuộc cách mạng giải phóng cho toàn bộ nhân loại. Để phụ nữ được giải phóng và tiến tới bình đẳng nam nữ cần phải thực hiện những điều kiện sau: Thứ nhất, xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu nhằm xóa bỏ sự lệ thuộc về mặt kinh tế của người phụ nữ đối với nam giới. Giải phóng phụ nữ ra khỏi sự bất công, áp bức, bóc lột và bất bình đẳng trong nền sản xuất xã hội. Thực hiện tốt điều này sẽ tạo điều kiện cho việc xây dựng quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ và cũng chính là điều kiện để phát huy tiềm năng của phụ nữ. Thứ hai, tạo điều kiện cho phụ nữ thoát khỏi những ràng buộc gia đình, tạo điều kiện và cơ hội cho họ tham gia vào nền sản xuất xã hội. Xã hội cần phải giúp phụ nữ giảm
  14. bớt gánh nặng công việc gia đình bằng cách phát triển các hệ thống dịch vụ công cộng. “Điều kiện tiên quyết để giải phóng phụ nữ là làm cho toàn bộ nữ giới trở lại tham gia nền sản xuất xã hội, và điều kiện đó lại đòi hỏi phải làm cho gia đình cá thể không còn là một đơn vị kinh tế của xã hội nữa” [49, tr.116]. Thứ ba, xóa bỏ dần các phong tục tập quán, định kiến giới và tâm lý coi thường phụ nữ, tuyên truyền giáo dục và vận động mọi thành viên trong xã hội nhận thức được sâu sắc và ý nghĩa của việc nâng cao bình đẳng nam nữ là góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Thứ tư, xây dựng quan hệ gia đình bình đẳng, hòa thuận, tiến bộ đòi hỏi hôn nhân phải dựa trên tình yêu chân chính chứ không bị lợi ích kinh tế chi phối. Theo C.Mác và Ph.Ănghen, sự nghiệp giải phóng phụ nữ chỉ có thể thực hiện được một cách triệt để khi lao động gia đình biến thành lao động xã hội: Chỉ có thể giải phóng được người phụ nữ khi người phụ nữ có thể tham gia sản xuất trên một quy mô xã hội rộng lớn và chỉ phải làm công việc trong nhà rất ít. Nhưng chỉ với nền công nghiệp hiện đại, là nền công nghiệp không những thu nhận lao động của phụ nữ trên quy mô lớn, mà còn trực tiếp đòi hỏi phải có lao động nữ và ngày càng có xu hướng hòa tan lao động tư nhân của gia đình trong nền sản xuất công cộng, thì có thể thực hiện được điều nói trên [49, tr. 241]. Tuy nhiên, để giải quyết những mâu thuẫn khi thực hiện công việc trong gia đình và ngoài xã hội, để phụ nữ tham gia công việc xã hội mà không bị lệ thuộc những cản trở từ công việc gia đình, theo Ănghen, cần phải đưa công việc nội trợ của gia đình cá thể thành công việc chung của xã hội - tức là “hòa tan lao động tư nhân của gia đình trong nền sản xuất công cộng”, biến công việc nội trợ thành lao động công cộng. Tư tưởng này của Mác - Ăngghen được Lênin kế thừa và phát triển trong điều kiện mới ở nước Nga Xô viết. Lênin đánh giá rất cao tiềm năng, vai trò của phụ nữ trong cách mạng: “Một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể thành công nếu không có một phần phụ nữ lao động tham gia rộng rãi” [42, tr.18],“không thể nào xây dựng được ngay cả chế độ dân chủ - chứ đừng nói đến chủ nghĩa xã hội nữa, nếu phụ nữ không tham gia công tác xã hội, đội dân cảnh, sinh hoạt chính trị…” [38, tr. 418]; “Nếu một phần lớn phụ nữ lao động không tham gia một cách tích cực thì không thể có cách mạng xã hội chủ nghĩa được” [40, tr.220]. Người còn khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ và chỉ ra khả năng của họ có ảnh hưởng rất quan trọng đến nguồn lực cách mạng, có mối liên quan mật thiết với sức mạnh nhân
  15. dân: “Không lôi kéo được phụ nữ vào công việc chính trị thì không thể lôi kéo được quần chúng nhân dân vào công việc chính trị được” [42, tr.13]. Lênin cũng đã xác định trách nhiệm của Đảng, Nhà nước là phải lôi cuốn, thúc đẩy mọi phụ nữ tham gia chính trị, quản lý nhà nước Xô Viết: “Nhiệm vụ của chúng ta là phải làm cho chính trị trở thành công việc mà mỗi người phụ nữ lao động đều có thể tham dự” [39, tr.101]. Trong bức thư “Gửi nữ công nhân” viết năm 1920, Lênin tố cáo pháp luật tư sản giành đặc quyền cho nam giới và đặt phụ nữ vào tình trạng không bình đẳng với nam giới. Do đó, để tiến tới giải phóng phụ nữ thì một trong những bước đầu tiên phải thực hiện là: chính quyền xô - viết hủy bỏ tất cả pháp luật tư sản và đưa ra luật pháp tôn trọng bình đẳng nam và nữ. Nhưng Lênin cho rằng như thế chưa đủ, cần phải tạo bình đẳng trên thực tế. Lênin viết: “Bình đẳng về mặt pháp luật vẫn chưa phải là bình đẳng trong thực tế đời sống... Muốn vậy, phải làm sao cho nữ công nhân ngày càng tham gia nhiều hơn nữa vào công việc quản lý các xí nghiệp công cộng, vào quản lý nhà n ước” [41, tr.182-183]. Lênin tin tưởng rằng “Trong khi quản lý, phụ nữ sẽ học tập nhanh chóng và đuổi kịp nam giới”. Người yêu cầu mọi người ủng hộ phụ nữ tham gia quản lý nhà nước nếu họ có đức, có tài: Hãy bầu nhiều nữ công nhân hơn nữa vào xô - viết, cả đảng viên lẫn ngoài đảng. Miễn là chị ấy là một công nhân trung thực, biết làm việc có tình có lý và tận tâm, thì dù họ có là người không đảng phái cũng không sao, cứ bầu họ vào Xô-viết Matxcơva!...Giai cấp vô sản sẽ không đạt được tự do hoàn toàn, nếu không giành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ [41, tr.183]. Người cũng đề ra nhiệm vụ chủ yếu của phong trào công nhân nữ là thu hút sự tham gia của đông đảo phụ nữ vào cuộc đấu tranh vì sự bình đẳng nam nữ. Lênin yêu cầu: “Đấu tranh cho phụ nữ được quyền bình đẳng về mặt kinh tế và xã hội, chứ không phải bình đẳng về mặt hình thức. Nhiệm vụ chủ yếu là lôi cuốn phụ nữ tham gia vào lao động sản xuất của xã hội, giải phóng chị em ra khỏi địa vị “nô lệ trong gia đình”, ra khỏi địa vị lệ thuộc (cái địa vị làm cho họ ngu muội đi và hạ thấp con người họ) vào cảnh suốt đời chỉ có trông nom bếp núc và con cái” [41, tr.222]. “Đó là cuộc đấu tranh lâu dài, đòi hỏi phải cải tạo một cách căn bản cả nền kỹ thuật xã hội lẫn tập quán xã hội” [41, tr.222]. Như vậy, theo quan điểm của Lênin thì không chỉ giải phóng người phụ nữ ngoài xã hội mà còn giải phóng họ ngay trong chính gia đình vì chính ở đây gánh nặng công việc đang đè lên vai họ, làm cho họ không có điều kiện phát triển được như nam giới. Muốn
  16. thực hiện điều này, theo Lênin, Nhà nước xô viết cần đưa ra chính sách ưu tiên đối với phụ nữ: Tất cả phụ nữ lao động có con nhỏ đều được dành thời gian cho con bú vào các khoảng cách nhau không quá 3 giờ, được nhận một số tiền phụ cấp và chỉ làm việc 6 giờ mỗi ngày, cấm dùng phụ nữ lao động ban đêm, phụ nữ được nghỉ lao động 8 tuần trước khi sinh và vẫn được hưởng lương như thường lệ, không phải trả tiền chữa bệnh và tiền thuốc. Hơn thế nữa, Lênin đã đánh giá rất cao khả năng và vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa vì theo Lênin, kinh nghiệm của tất cả các phong trào giải phóng chứng tỏ rằng cách mạng muốn thắng lợi là tùy thuộc vào mức độ tham gia của phụ nữ. Bởi vậy, trên thực tế chính quyền xô - viết đã làm hết sức mình để lôi cuốn phụ nữ tham gia công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội nhằm từng bước giải phóng phụ nữ. Lênin chỉ ra rằng: Phụ nữ chỉ được giải phóng, được phát triển khi họ nhận thức được vị trí, vai trò và khả năng của mình và có ý chí phấn đấu cho sự nghiệp cao cả ấy: việc giải phóng lao động nữ phải là việc của bản thân phụ nữ. Để thực hiện sự nghiệp giải phóng, chính bản thân phụ nữ phải ra sức học tập, nâng cao trình độ, nhanh chóng đuổi kịp nam giới. Chỉ có học tập với trình độ cao thì phụ nữ mới thực hiện tốt vai trò và phát huy tốt khả năng của mình trong gia đình và ngoài xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết khoa học, cách mạng của thời đại ngày nay, là sự kế tục, phát triển tư tưởng nhân loại về giải phóng phụ nữ. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng nguồn gốc và nguyên nhân cũng như những yếu tố tác động tới sự bất bình đẳng nam nữ trong lịch sử loài người đó chính là quá trình phụ nữ bị gạt ra khỏi nền sản xuất xã hội. Học thuyết Mác - Lênin đồng thời chỉ ra tiềm năng và vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng và tiến bộ xã hội, chỉ ra điều kiện để giải phóng phụ nữ là đưa phụ nữ trở lại tham gia lao động sản xuất xã hội, gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Muốn có sự nghiệp giải phóng phụ nữ trong thực tế đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, thực hiện công hữu hóa, đồng thời thủ tiêu sự bất bình đẳng nam nữ trong tư tưởng và nhận thức của xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng khẳng định rằng sự nghiệp giải phóng phụ nữ luôn gắn liền với sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội, giải phóng con người là vấn đề mang tính biện chứng sâu sắc. Hơn nữa, cùng với việc xóa bỏ cơ sở kinh tế của sự bất bình đẳng nam nữ thì cần tạo cơ hội và điều kiện để thu hút ngày càng nhiều sự tham gia của phụ nữ vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để phụ nữ có thể phát huy hết tiềm năng của mình.
  17. 1.1.2. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề giải phóng phụ nữ Kế thừa và phát triển học thuyết Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người Việt Nam đầu tiên hiểu và đặc biệt quan tâm đến tiềm năng, vai trò, vị thế của phụ nữ trong phong trào cách mạng thế giới nói chung và sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiềm năng, vai trò của phụ nữ Việt Nam có cội nguồn sâu xa, từ cuộc sống gia đình và xã hội trong thời niên thiếu ở quê nhà, đến sự tiếp thu truyền thống lịch sử, tinh hoa văn hóa Việt Nam và thế giới. Với sự nhạy cảm của một tâm hồn và nhân cách lớn, Người sớm nắm bắt được tinh hoa văn hóa dân tộc trong đó có vấn đề phụ nữ. Đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng những truyền thống văn hóa “thuận vợ, thuận chồng tát bể đông cũng cạn”, “lệnh ông không bằng cồng bà”; “Người chồng trị vì, người vợ cai quản”, là những hằng số văn hóa thể hiện vai trò, vị trí của người phụ nữ không dễ gì bị “lấn át” trong xã hội phong kiến, thực dân ở Việt Nam. Chính truyền thống lịch sử với những tấm gương của các anh hùng liệt nữ hy sinh vì dân vì nước, vì độc lập dân tộc là bằng chứng hùng hồn không thể phủ nhận, có sức sống mạnh mẽ, trường tồn trong tâm thức, dân tộc. Trong diễn trình lịch sử - văn hóa của phụ nữ Việt Nam, có thể nói từ thời đại Hồ Chí Minh, phụ nữ mới được coi như một lực lượng, một tổ chức với tầm vóc lịch sử có vai trò quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ rất sớm khi đấu tranh cho quyền độc lập của dân tộc đã đấu tranh cho quyền sống, quyền hạnh phúc của người phụ nữ các nước thuộc địa. Trong những năm 20 của thế kỷ XX, trong “Thư gửi quốc tế cộng sản”, “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người luôn luôn đề cập “Nỗi khổ nhục của người đàn bà bản xứ”. Trên tờ báo Người cùng khổ, trong bài “Phụ nữ Việt nam và chế độ đô hộ của Pháp”, Người viết: “Chế độ thực dân tự bản thân nó đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi. Bạo lực đó đem ra đối xử đối với trẻ em và phụ nữ lại càng bỉ ổi hơn nữa”. Từ cảm nhận sâu sắc nỗi “khổ nhục” của phụ nữ dưới chế độ thực dân phong kiến, Hồ Chí Minh càng ý thức hơn phụ nữ chính là một lực lượng, “một nửa” thành công của cách mạng. Trước khi có một chính Đảng ra đời, trên báo Thanh niên - cơ quan tuyên truyền của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội do Người phụ trách đã mở mục
  18. Diễn đàn phụ nữ. Trong một tác phẩm quan trọng viết sau đó, cuốn Đường cách mệnh (viết năm 1927), Nguyễn ái Quốc khẳng định: “Việt nam cách mệnh phải có nữ giới tham gia mới thành công, mà nữ giới muốn cách mệnh thì phải theo phụ nữ quốc tế chỉ bảo”. Sau này, trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, Người luôn nhấn mạnh khả năng cách mạng của phụ nữ và sớm nhận thấy nhân tố góp phần thắng lợi của cuộc cách mạng ấy chính là phụ nữ: “Xem trong lịch sử cách mệnh, chẳng có lần nào là không có đàn bà, con gái tham gia” [52, tr.288]; “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công” [52, tr.289]. Về sau, trong thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm ngày phụ nữ 8-3-1952, Người khẳng định: “Non sông gấm vóc nước Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ” [55, tr.289]. Sự nhìn nhận sâu sắc và đánh giá đúng vai trò của phụ nữ trong lịch sử dân tộc là tư tưởng xuyên suốt ở Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn thế nữa, Người còn tuyên truyền cho đồng bào, đồng chí hiểu về vấn đề đó. Năm 1941, sau khi về nước, trong số báo Việt Nam Độc lập tại Việt bắc, Người đã viết: Việt Nam phụ nữ đời đời Nhiều người vì nước vì nòi hy sinh Nghìn thu vang tiếng Bà Trưng Ra tay cứu nước cứu dân đến cùng Bà Triệu ẩu thật anh hùng Cưỡi voi đánh giặc anh hùng bốn phương Từ việc đánh giá đúng khả năng và vai trò của phụ nữ trong cách mạng, Người luôn theo dõi sát sao và tạo mọi điều kiện cho phụ nữ tham gia vào sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng nhà nước. Đặc biệt, Người rất quan tâm đến công tác phát triển Đảng trong quần chúng phụ nữ. Khi làm việc với các cấp ủy đảng từ trung ương đến địa phương, Người luôn chú ý số lượng cán bộ nữ. Người hiểu rõ khả năng to lớn của phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Người nói: “Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ trở thành chuyên gia các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm Giám đốc và Phó giám đốc các xí nghiệp, Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, Bí thư chi bộ Đảng…” [55, tr.149] và Người vui mừng trước việc ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào công việc quản lý: “Từ ngày nước ta được giải phóng đến nay, phụ nữ đều tiến bộ rõ về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhưng một sự tiến bộ rõ rệt nhất là phụ nữ ta hiện nay tham gia
  19. chính quyền ngày càng nhiều” [54, tr.164]. Sau nữa, Người đã đặt trách nhiệm của Đảng đối với sự phát triển của phụ nữ. Người khẳng định: phải giải phóng phụ nữ thực sự, giải phóng phụ nữ thì phải bằng pháp luật, chính sách, biện pháp cụ thể: “Từ nay, các cấp Đảng, chính quyền địa phương khi giao công tác cho phụ nữ, phải căn cứ vào trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ phụ nữ nhiều hơn nữa” [54, tr.164], “phải thực sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ” [54, tr.225], “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cân nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo” [55, tr.502]. Hồ Chí Minh cho rằng: không ai thấu hiểu phụ nữ bằng chính phụ nữ, muốn vận động, bảo vệ, hỗ trợ phụ nữ phải thành lập tổ chức của phụ nữ. Ngay từ những năm hai mươi của thế kỷ XX trong cuốn Đường cách mệnh, Hồ chí Minh đã nói: “muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà, con gái công nông các nước…Mỗi Đảng cộng sản phải có một Bộ phụ nữ trực tiếp thuộc về phụ nữ quốc tế” [52, tr.288]. Tôn trọng phụ nữ, đánh giá đúng vai trò của phụ nữ, song Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất nghiêm khắc đối với phụ nữ. Người luôn nhắc nhở phụ nữ phải ý thức được vai trò, vị thế của mình mà phấn đấu cho bản thân và cho dân tộc. Người nói: “Đảng, Chính phủ và Bác mong phụ nữ tiến bộ nhiều hơn nữa. Hiện nay trong các ngành, số phụ nữ tham gia còn ít” [54, tr.87]. Vì vậy, người nhắc nhở phụ nữ: “không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâm học tập, phát huy sáng kiến, tin tưởng ở khả năng mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết, giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn trong công tác chính quyền” [54, tr.661], “phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập” [54, tr.294]. Người đã chỉ cho phụ nữ Việt Nam thấy rằng, muốn có sự bình đẳng thực sự, không nên chỉ trông chờ vào người khác mà “bản thân chị em phải có chí khí tự cường, tự lập, phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi cho mình”[54, tr.225]. Về con đường giải phóng phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí minh nhấn mạnh: Muốn giải phóng phụ nữ thì trước hết phải giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, thực hiện quyền tự do bình đẳng cho mọi người, trong đó có phụ nữ. Để đưa công cuộc giải phóng ấy thắng lợi, để xây dựng xã hội mới thành công, theo Người phải tiến hành làm cách mạng vô sản, mà trước hết là phải thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Đánh đổ đế quốc phong kiến là một bước căn bản để giải phóng cho phụ nữ. Sau đó, thực hiện cuộc
  20. cách mạng xã hội chủ nghĩa để xóa bỏ tận gốc sự bất bình đẳng của người phụ nữ với nam giới trên tất cả mọi lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn hóa. Phụ nữ chỉ được bình đẳng thực sự trong điều kiện một nền kinh tế phát triển, một nền văn hóa lành mạnh và một xã hội văn minh. Do đó, Hồ Chí Minh chủ trương gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người thường nói: chúng ta làm cách mạng để giành lấy tự do, dân chủ, bình đẳng, trai gái ngang quyền nhau, không để phụ nữ bị áp bức, bị coi thường. Ngay từ khi Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập, trong lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã viết: “thực hiện nam nữ bình quyền” . Như vậy, từ việc khẳng định phụ nữ là một lực lượng to lớn của xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt lên tư tưởng hẹp hòi của Nho giáo - phong kiến, đánh giá đúng và khách quan vai trò, tiềm năng và vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Phụ nữ vừa là lực lượng lao động quan trọng của xã hội, vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên của con trẻ. Đời sống vật chất và tinh thần của họ, trình độ học vấn của họ, điều kiện làm việc của họ có ảnh hưởng to lớn đến thế hệ tương lai. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định tầm quan trọng của việc giải phóng phụ nữ, coi đó là thước đo tiến bộ của phát triển xã hội. Theo Người, “giải phóng phụ nữ” không chỉ bao hàm nội dung giải phóng phụ nữ thoát khỏi ách nô lệ, khỏi chế độ thực dân phong kiến trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ mà còn xóa bỏ tư tưởng “trọng nam khinh nữ” từ trong gia đình ra ngoài xã hội, là tạo điều kiện để phụ nữ phát huy tiềm năng sức lực của mình vào phát triển đất nước và của chính bản thân. Tư tưởng này đã chi phối nhận thức và hành động trong suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dưới chế độ phong kiến và về sau là chế độ thuộc địa nửa phong kiến, phụ nữ Việt Nam hàng trăm năm sống trong triết lý Nho giáo “tam tòng, tứ đức”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”…, quanh quẩn hoặc an phận với cuộc sống gia đình, với hạnh phúc nhỏ nhoi chật hẹp trong gia đình và ngoài xã hội, họ bị những quan điểm trên “trói buộc” và chịu một thân phận “thiệt thòi”…Vì lẽ đó mà giải phóng phụ nữ là nội dung và chương trình cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tiến hành không chỉ là cuộc cách mạng xã hội gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp mà còn là cuộc cách mạng văn hóa, nhân văn sâu sắc. Nếu như trong cách mạng dân tộc, dân chủ, Hồ Chí Minh khẳng định “Việt nam cách mệnh phải có nữ giới tham gia mới thành công” thì trong hòa bình và xây dựng đất nước Người lại nêu: “Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2