intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Hiện trạng và định hướng sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:152

0
35
lượt xem
10
download

Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Hiện trạng và định hướng sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Hiện trạng và định hướng sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phân tích hiện trạng sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp của Bà Rịa - Vũng Tàu và đề ra định hướng cho việc nâng cao chất lượng, sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động trong ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo hướng phát triển bền vững.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Hiện trạng và định hướng sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH _____________________ Nguyễn Thị Sáu Chuyên ngành : Địa Lý học Mã số : 60 31 95 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐÀM NGUYỄN THÙY DƯƠNG Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
  2. LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo của khoa Địa Lý trường Đại học sư phạm TPHCM đã hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong thời gian học tập tại trường và thực hiện đề tài. Đặc biệt hơn, tác giả xin chân thành cám ơn sự tận tình hướng dẫn và giúp đỡ của Tiến sĩ: Đàm Nguyễn Thùy Dương đã dành cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các cơ quan ban nghành của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: UBND tỉnh, Tổng cục thống kê, Sở kế hoạch và đầu tư, Sở lao động thương binh- xã hội, Liên đoàn lao động, Sở công nghiệp, Phòng công nghiệp.v.v… đã nhiệt tình cung cấp tư liệu, số liệu và những thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu đề tài. Lời cảm ơn tới các thành viên lớp cao học Địa Lý K17, lòng biết ơn đến với gia đình, người thân đã luôn động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn. Xin cảm ơn TP.HCM, tháng 12 năm 2009
  3. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BR-VT : Bà Rịa - Vũng Tàu CHLB : Cộng hòa liên bang CN : Công nghiệp DS : Dân số DNTN : Doanh nghiệp tư nhân ĐTNN : Đầu tư nước ngoài FDI : Vốn đầu tư trực tiếp (Fund Direct Investment) GTSX : Giá trị sản xuất ILO : Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labor Orgnization) KT : Kinh tế KV : Khu vực LĐ : Lao động LLLĐ : Lực lượng lao động NN : Nông nghiệp SX : Sản xuất TNHH : Trách nhiệm hữu hạn XHCN : Xã hội chủ nghĩa
  4. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bước sang thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới biến đổi sâu sắc do tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Vai trò to lớn của nền kinh tế tri thức, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế làm cho việc phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia chủ yếu dựa trên nền tảng tri thức của con người, khác với trước đây là dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nước ta có dân số đông, lực lượng lao động dồi dào. Gần đây, tốc độ tăng lao động hàng năm khoảng 1,2 triệu lao động/năm. Lực lượng lao động đông về số lượng nhưng hạn chế về chất lượng, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất. Nhận thức được xu hướng phát triển nền kinh tế - xã hội thế giới và dựa vào tình hình thực tế của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đưa ra quan điểm “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”, trong đó “Nguồn lao động có ý nghĩa quan trọng và quyết định trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở nước ta”. Đó cũng là ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế nước ngoài tại Việt Nam: “Phát triển công nghiệp Việt Nam không nên dựa nhiều vào tài nguyên thiên nhiên mà nên dựa vào nhiều vào nguồn lực con người”. Trong đó, lực lượng lao động là bộ phận quan trọng nhất đối với nguồn nhân lực, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển công nghiệp cũng như phát triển kinh tế -xã hội của Việt Nam. Là một trong những tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nền kinh tế Bà Rịa - Vũng Tàu đang có nhiều chuyển biến tích cực. Những năm
  5. qua, tốc độ tăng trưởng GDP luôn đạt từ 12% - 13%/năm. Năm 2005 GDP/người của Bà Rịa -Vũng Tàu đứng đầu cả nước (4000 USD kể cả dầu khí, 2000 USD không kể dầu khí). Năm 2006, tốc độ tăng trưởng GDP là 12,86%. Công nghiệp tăng nhanh cả tốc độ tăng trưởng và giá trị sản xuất. Để đạt được thành tựu đó không thể không nói đến vai trò to lớn của lực lượng lao động trong ngành công nghiệp. Vì thế việc sử dụng hợp lý lực lượng lao động này hiện đang là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong tỉnh. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tôi quyết định chọn đề tài: “Hiện trạng và định hướng sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp ở Bà Rịa – Vũng Tàu” làm luận văn thạc sĩ. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài 2.1. Mục tiêu của đề tài Mục tiêu cơ bản của đề tài là đúc kết cơ sở lý luận về lực lượng lao động và sử dụng lực lượng lao động. Trên cở sở đó phân tích hiện trạng sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp của Bà Rịa – Vũng Tàu và đề ra định hướng cho việc nâng cao chất lượng, sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động trong ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo hướng phát triển bền vững. 2.2. Nhiệm vụ của đề tài - Tổng quan có chọn lọc một số vấn đề lý luận về lực lượng lao động và sử dụng lực lượng lao động. - Khái quát tình hình phát triển công nghiệp của tỉnh, chủ yếu là thời kỳ đổi mới. - Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến qui mô, chất lượng và việc sử dụng lực lượng lao động công nghiệp của Bà Rịa – Vũng Tàu dưới góc độ Địa lý kinh tế -xã hội.
  6. - Tìm hiểu thực trạng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp ở khía cạnh qui mô, cơ cấu và phân bố. - Nghiên cứu tình hình sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp trên địa bàn. - Đề ra một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động trong ngành công nghiệp cho địa phương. 2.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài  Nội dung nghiên cứu - Làm rõ một số khái niệm có liên quan: lực lượng lao động, cơ cấu lực lượng lao động, tình trạng việc làm, thị trường lao động. - Một số vấn đề về lý luận công nghiệp và sự phân chia công nghiệp, các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp. Những vấn đề này sẽ được cụ thể trong ngành công nghiệp của Bà Rịa – Vũng Tàu. - Qui mô, cơ cấu, phân bố lực lượng lao động, sử dụng lực lượng lao động công nghiệp ở địa phương. - Tổng quan dự báo về lực lượng lao động và sử dụng lực lượng lao động công nghiệp. Đề xuất một số ý kiến góp phần tổ chức, sử dụng lực lượng lao động, thực hiện phân công lao động công nghiệp trên địa bàn tỉnh. - Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở mức độ khái quát chung toàn ngành công nghiệp là chủ yếu. Sau đó đi sâu phân tích lực lượng lao động và sử dụng lực lượng lao động của các phân ngành công nghiệp. Do sự khác nhau về lý luận và thực tiễn phát triển, nên đề tài không đề cập đến việc sử dụng lực lượng lao động thuộc lĩnh vực “Làng nghề”.  Giới hạn lãnh thổ nghiên cứu: Toàn tỉnh theo đơn vị hành chính hiện nay và lãnh thổ nghiên cứu xuống đến cấp huyện, thị xã.  Thời gian nghiên cứu: từ năm 2000 đến nay.
  7. 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trước sự đổi mới của đất nước, những năm qua có rất nhiều công trình nghiên cứu về lao động, việc làm của các cơ quan chức năng như: Trung tâm Nghiên cứu lao động của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Ban Dân cư lao động của Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với một số cơ quan thuộc Trung tâm Khoa học - Xã hội và Nhân văn quốc gia, v.v… Vấn đề lao động và sử dụng lực lượng lao động đã được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học: GS.TS Đặng Thu, GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, GS.TS Lê Thông, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, GS.TS Nguyễn Thị Minh Đức … Ngoài ra, cũng phải kể đến một số đề tài được đề cập chuyên sâu về nguồn lao động và sử dụng lao động: “Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam” của tác giả Trần Đình Hoan và Lê Mạnh Khoa, “Dân cư, nguồn lao động trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vùng duyên hải Nam Trung Bộ” của tác giả Hoàng Văn Chức, “Nguồn lao động và sử dụng lao động ở TPHCM” của tác giả Đàm Nguyễn Thùy Dương … Tuy nhiên đa số các đề tài nghiên cứu có qui mô lớn, tổng hợp, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về lực lượng lao động công nghiệp ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội. Chính vì thế đề tài “Hiện trạng và định hướng sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp ở Bà Rịa – Vũng Tàu” sẽ là một đóng góp nhỏ, mới mẻ trong kho tàng khoa học khổng lồ. Và những đề tài nghiên cứu của các tác giả trên sẽ là tài liệu tham khảo vô cùng quý báu cho tôi thực hiện đề tài này.
  8. 4. Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu 4.1. Hệ quan điểm 4.1.1. Quan điểm hệ thống Các đối tượng hiện tượng địa lý đều có sự tác động qua lại với nhau trong một hệ thống nhất định khi một thành phần của hệ thống bị tác động làm nó thay đổi, phát triển thì nó sẽ gây ra những ảnh hưởng đến các thành phần khác của hệ thống đồng thời kéo theo các thành phần khác thay đổi. Lực lượng lao động là một bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế - xã hội, sự phát triển về số lượng, chất lượng lao động cũng như việc sử dụng lao động trong công nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, vào một cơ cấu kinh tế và một thể chế xã hội nhất định. Vì vậy khi nghiên cứu đánh giá lực lượng lao động và vấn đề sử dụng lực lượng lao động trong công nghiệp ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phải dựa trên quan điểm hệ thống, coi mọi sự vật hiện tượng thông suốt trong các hợp phần thì việc đánh giá phân tích mới chính xác. 4.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ Lực lượng lao động của một vùng có quan hệ mật thiết với các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội của vùng và các vùng lân cận, các yếu tố có thể thúc đẩy hoặc ức chế sự phát triển của lực lượng lao động của vùng đó và ngược lại. Vì vậy việc nghiên cứu các vấn đề về lực lượng lao động và sử dụng lực lượng lao động trong công nghiệp ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không thể tách rời vấn đề sử dụng lực lượng lao động của các vùng lân cận và cả nước. 4.1.3. Quan điểm lịch sử viễn cảnh Lực lượng lao động và sử dụng lực lượng lao động trong công nghiệp không chỉ có phân hóa theo không gian mà còn có sự thay đổi phát triển theo thời gian. Vì vậy để lí giải lực lượng lao động và thực trạng sử dụng lực
  9. lượng lao động trong hiện tại và xác định kế hoạch phát triển sử dụng lao động trong tương lai của tỉnh chúng ta cần phải quán triệt quan điểm lịch sử và viễn cảnh. 4.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Nghiên cứu những vấn đề về lao động phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững, phát triển kinh tế tạo việc làm cho người lao động phải đi đôi với sử dụng hợp lý, bảo vệ tái tạo tài nguyên thiên nhiên, chống gây ô nhiễm môi trường, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. 4.2. Phương pháp nghiên cứu 4.2.1. Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp Đề tài khai thác thông tin, số liệu từ nguồn của tỉnh: Cục thống kê, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Liên đoàn lao động, Sở Công nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban quản lý khu công nghiệp và khu chế xuất, Phòng công nghiệp, v.v… Ngoài ra chúng tôi còn đối chiếu, tham khảo các nguồn khác như Tổng cục Thống kê, các tài liệu từ thư viện Quốc gia, thư viện Trường Đại học Sư phạm TPHCM, …Chúng tôi tiến hành xử lý số liệu, sắp xếp, kiểm tra mức độ chính xác, phân tích và tổng hợp các dữ liệu, rút ra những kết luận cần thiết cho luận văn. 4.2.2. Phương pháp bản đồ - biểu đồ Đây là phương pháp đặc trưng trong nghiên cứu Địa lý. Các loại bản đồ được sử dụng để nghiên cứu sự biến động về số lượng, kết cấu của lực lượng lao động, sử dụng lực lượng lao động trong toàn ngành công nghiệp của tỉnh cũng như trong một số phân ngành chủ yếu nhất. 4.2.3. Phương pháp thực địa Thực địa là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu các vấn đề địa lý kinh tế - xã hội. Vì vậy, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi sử
  10. dụng phương pháp này để kiểm tra độ chính xác, độ tin cậy của các nguồn tài liệu thu thập được và có cơ sở thực tiễn đánh giá tình hình sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp của tỉnh. 4.2.4. Phương pháp dự báo Đây là giai đoạn khái quát hóa, hệ thống hóa thông tin ở mức cao nhằm xác định trạng thái trong tương lai của vấn đề. Dựa vào số liệu về lực lượng lao động, tình hình sử dụng lực lượng lao động trong quá khứ và hiện nay của tỉnh, chúng tôi tiến hành dự báo về lực lượng lao động và sử dụng lực lượng lao động công nghiệp trong tương lai của tỉnh nhằm hiểu rõ vấn đề và đề ra những biện pháp giải quyết cho hợp lý. 4.2.5. Phương pháp GIS Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi ứng dụng phần mềm thông tin địa lý (GIS) nhằm tính toán, thiết kế, biên tập bản đồ. Nhờ đó quá trình nghiên cứu đề tài mang tính định lượng hơn. Các phương pháp trên được vận dụng trong toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận văn với sự thống nhất và kết hợp giữa chúng. 5. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm ba chương chính: Chương 1: Cơ sở lý luận về lực lượng lao động trong ngành công nghiệp Chương 2: Hiện trạng sử dụng lực lượng lao động trong ngành công nghiệp ở Bà Rịa - Vũng Tàu Chương 3: Định hướng sử dụng lao động trong ngành công nghiệp ở Bà Rịa - Vũng Tàu
  11. Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP 1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan 1.1.1. Lao động 1.1.1.1. Quan niệm về lao động Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân và xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng, hiệu quả là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội.[58] Các định nghĩa lao động tập trung đề cập hai khía cạnh chủ yếu: Thứ nhất, xem lao động là hoạt động, phương thức tồn tại sống của con người. Thứ hai, lao động quan niệm là chính bản thân con người, với tất cả nỗ lực vật chất, tinh thần của nó thông qua hoạt động lao động của mình sử dụng các công cụ lao động tác động đến đối tượng lao động để đạt được mục đích nhất định. [4] 1.1.1.2. Tuổi lao động Tuổi lao động là khoảng thời gian con người có khả năng lao động để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật lao động qui định. [57] Độ tuổi lao động luôn được pháp luật qui định và có thể thay đổi trong các thời kì khác nhau. Có quan niệm khác nhau về độ tuổi lao động. Về giới hạn dưới của tuổi lao động: Ai Cập qui định từ 6 tuổi, Braxin từ 10 tuổi, Thụy Điển và Hoa Kì từ 16 tuổi … Về giới hạn trên của tuổi lao động: Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan qui định 74 tuổi; Ai Cập, Malaixia, Hoa Kì, CHLB Đức qui định 65 tuổi. Nhiều nước khác không qui định tuổi tối đa. Ở Việt Nam theo qui định hiện hành của Bộ luật Lao động, tuổi lao động được qui định:
  12. - Nam: từ đủ 15 tuổi trở lên đến 60 tuổi. - Nữ: từ đủ 15 tuổi trở lên đến 55 tuổi. Thực tế có những người không nằm trong độ tuổi lao động do pháp luật qui định nhưng vẫn tham gia lao động. Đó là lao động trẻ em và lao động cao tuổi. Lao động trẻ em là lao động dưới tuổi lao động (Dưới 15 tuổi đối với Việt Nam). Lao động cao tuổi là lao động trên tuổi lao động (nam trên 60 tuổi, nữ trên 55 tuổi) theo qui định của pháp luật nhưng vẫn còn khả năng lao động và có nhu cầu làm việc, họ được miễn giảm các nghĩa vụ theo pháp luật lao động qui định. 1.1.1.3. Vai trò của lao động Những nguồn lực được dùng để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ gọi là các yếu tố sản xuất. Lao động là một trong bốn yếu tố sản xuất cơ bản: Đất đai, lao động, vốn và năng lực kinh doanh. Bất kì doanh nghiệp nào, nếu thiếu lực lượng lao động, quá trình sản xuất sẽ không thể tiến hành bình thường được. Là yếu tố sản xuất đặc biệt, lao động không đơn thuần là số lượng mà bao gồm cả chất lượng lao động. Mỗi thời kì khác nhau, số lượng lao động nhiều hay ít, chất lượng lao động cao hay thấp sẽ trực tiếp quyết định đến kết quả sản xuất. [21] Nền sản xuất trình độ thấp thì số lượng lao động quan trọng hơn chất lượng lao động. Nền sản xuất trình độ cao đòi hỏi chất lượng lao động cao. Mức độ trang bị kĩ thuật – công nghệ như nhau thì ở các nước có công nghệ tiên tiến với trình độ chuyên môn của người lao động cao hơn sẽ có năng suất lao động cao hơn. Mặt khác, người lao động là người trực tiếp hưởng những thành quả lao động của mình và xã hội, là yếu tố tiêu thụ sản phẩm, tạo nhu cầu kích thích sản xuất phát triển. Lao động không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt của bản thân người lao động mà còn tích lũy tái sản xuất sức lao động thông qua đóng
  13. góp nghĩa vụ lao động, để dành lúc tuổi già sức yếu … Tóm lại, người lao động trong hệ thống sản xuất xã hội có vai trò hai mặt: vừa là yếu tố sản xuất, vừa là yếu tố tiêu thụ. Người lao động là nhân tố đầu vào quan trọng của cả hai lĩnh vực cung và cầu. Bản chất lao động là nhân tố tích cực. 1.1.2. Lực lượng lao động 1.1.2.1. Quan niệm về lực lượng lao động Theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp. Ở Việt Nam cũng có nhiều quan điểm khác nhau về lực lượng lao động. Theo giáo trình “Kinh tế lao động” của trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội: Lực lượng lao động là số người trong tuổi lao động cộng 1/2 số người lao động trên tuổi và 1/3 số người lao động dưới tuổi có khả năng lao động và nhu cầu làm việc. Trong cuốn sách “Hướng dẫn nghiệp vụ chỉ tiêu xã hội ở Việt Nam” của Tổng cục Thống kê qui định: Lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và không có việc làm (biểu thị dân số hoạt động kinh tế). Các quan niệm nêu về lực lượng lao động mới chỉ làm rõ phần nào về mặt định tính hoặc định lượng của chỉ tiêu lực lượng lao động, không thể dùng làm căn cứ để đánh giá thống kê về quy mô lực lượng lao động, bởi vì chúng còn một số yếu tố không xác định và không phù hợp với Bộ luật Lao động của Việt Nam. Theo quan điểm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Lực lượng lao động gồm những người từ độ tuổi 15 trở lên đang tham gia hoạt động kinh tế, không phân biệt là có việc làm hay thất nghiệp.
  14. Khái niệm này về cơ bản thống nhất với quan điểm của ILO và qui định hiện hành của Tổng cục Thống kê về lực lượng lao động: Lực lượng lao động đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế. Sơ đồ 1.1: Dân số - nguồn lao động - lực lượng lao động xã hội Trong độ tuổi lao động Ngoài độ tuổi lao động Không Tình Khôn Nội Đi Thất Làm Chủ Tự Trên Lao Trên Dưới có khả trạng g có trợ học nghiệp công doanh tạo tuổi lao động tuổi tuổi năng lao khác nhu ăn nghiệp việ động trẻ lao lao động cầu lương c đang em động động làm làm làm khôn khôn việc việc g làm g làm việc việc Dân số không hoạt động Dân số hoạt động kinh tế kinh tế Nguồn lao động Nguồn: Nguồn nhân lực, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội 2001 Lực lượng lao động tuy là một bộ phận của nguồn lao động nhưng không đồng nhất với nguồn lao động. Lực lượng lao động không bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không tham gia hoạt động kinh tế như đang đi học, đang làm nội trợ cho gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc. Do vậy, ngoài các đặc trưng về nhân khẩu, về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kĩ thuật, lực lượng lao động còn bao hàm các đặc trưng về trình độ, cơ cấu, nghề nghiệp, cấu trúc đào tạo, tác phong kỷ luật lao động, đạo đức nghề nghiệp, sự hiểu biết về pháp luật, khả năng đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khả năng hội nhập với thị trường lao động trong nước và thế giới.
  15. 1.1.2.2. Cơ cấu lực lượng lao động Theo quan điểm triết học, “cơ cấu” hay “kết cấu” là phạm trù phản ánh cấu trúc bên trong của một hệ thống, là tập hợp những mối quan hệ cơ bản tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành nên bộ phận đó trong một thời gian nhất định. Với quan niệm trên, cơ cấu lực lượng lao động là thành phần khác nhau và mối quan hệ tỉ lệ của các thành phần đó theo các tiêu thức cấu thành nên một tổng thể lực lượng lao động. Cơ cấu đó thể hiện đặc trưng của lực lượng lao động từng quốc gia hay địa phương và được hình thành do quá trình phân phối sử dụng lực lượng lao động. Ví dụ: Cơ cấu theo giới tính, cơ cấu theo độ tuổi, cơ cấu theo trình độ văn hóa, cơ cấu theo trình độ chuyên môn kĩ thuật… Người ta thường nghiên cứu cơ cấu lực lượng lao động theo các tiêu thức sau:  Cơ cấu lực lượng lao động theo giới tính Nghiên cứu lực lượng lao động theo tiêu thức này giúp ta xem xét cấu thành lực lượng lao động nam, nữ tham gia hoạt động sản xuất; tỉ lệ lao động trẻ, khỏe trong nền kinh tế quốc dân. Trong chừng mực nhất định nó chi phối năng suất lao động và các hoạt động khác của lao động. Để thể hiện cơ cấu lực lượng lao động theo giới, người ta thường dùng tỉ số lực lượng lao động theo giới tính. Tỉ lệ này được tính bằng hai công thức: Tỉ lệ giới tính nam (hoặc nữ) bằng số lực lượng lao động nam (hoặc nữ) trên tổng số lực lượng lao động. Đơn vị tính: % Số lực lượng lao động nam (nữ) Tỉ lệ giới tính nam (nữ) = Tổng số lực lượng lao động
  16. Tỉ số giới tính là tổng số lực lượng lao động nam trên tổng số lực lượng lao động nữ. Đơn vị tính: % Tổng số lực lượng lao động nam Tỉ số giới tính = Tổng số lực lượng lao động nữ Cơ cấu lực lượng lao động theo giới thay đổi theo loại hình công việc. Đối với những ngành lao động nặng nhọc, lực lượng lao động chủ yếu là nam, đối với những công việc nhẹ, đòi hỏi sự khéo léo, cần cù như công nghiệp dệt, may mặc … lao động chủ yếu là nữ. Cơ cấu lực lượng lao động theo giới phản ánh tính chất, đặc điểm, loại hình công việc và mức độ bình đẳng nam – nữ. Trong chừng mực nhất định nó chi phối năng suất lao động và các sinh hoạt xã hội. Trên thế giới, khi nền kinh tế càng phát triển thì xu hướng gia tăng tỉ lệ lao động nữ càng cao, tạo cơ hội cho sự bình đẳng nam – nữ.  Cơ cấu lực lượng lao động theo ngành kinh tế Cơ cấu lực lượng lao động theo ngành là tình trạng phân bố sắp xếp lực lượng lao động của một vùng, một nước (hay trên toàn thế giới) vào các ngành kinh tế khác nhau, đảm bảo cho sự hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Việc phân chia lực lượng lao động theo ngành kinh tế chủ yếu dựa vào tính chất và nội dung của hoạt động sản xuất. Nền kinh tế của mỗi quốc gia được chia thành 3 nhóm ngành: Nông – lâm – ngư (khu vực I); Công nghiệp – xây dựng (khu vực II) và Dịch vụ – thương mại (khu vực III). Mỗi ngành kinh tế lại được phân chia thành các phân ngành nhỏ hơn. Lực lượng lao động công nghiệp là toàn bộ những người có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm trong lĩnh vực công nghiệp với các phân ngành: khai thác mỏ; công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất, phân phối điện, ga, nước. [58]
  17. Tỉ lệ lực lượng lao động theo nhóm ngành kinh tế phản ánh tình hình và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Bởi vì, sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo sự thay đổi cơ cấu lực lượng lao động. Với xu thế phát triển kinh tế - xã hội như hiện nay, tỉ lệ lực lượng lao động trong khu vực sản xuất vật chất sẽ giảm xuống, tỉ lệ lực lượng lao động trong khu vực không sản xuất vật chất tăng lên. Nghĩa là, tỉ lệ lực lượng lao động trong khu vực I và II đang giảm dần và tăng tỉ lệ lực lượng lao động ở khu vực III. Bảng 1.1: Cơ cấu lực lượng lao động khu vực kinh tế ở một số quốc gia trên thế giới năm 2002 Đơn vị tính: % Quốc gia Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ Thế giới 40,0 30,0 30,0 Xing-ga-po 0,2 20,8 79,0 Thụy Sĩ 5,6 33,2 61,2 Hoa kỳ 2,7 24,0 73,3 Nhật Bản 5,7 33,6 60,7 Thái Lan 48,8 14,6 36,6 In-đô-nê-xi-a 45,3 13,5 42,1 Trung Quốc 46,9 12,5 40,6 Ấn Độ 63,0 15,0 22,0 (Nguồn: 66 ) Cơ cấu lực lượng lao động theo ngành kinh tế cho phép nghiên cứu cơ cấu, quá trình phân phối và sử dụng lực lượng lao động theo từng ngành kinh tế và toàn bộ nền kinh tế, cũng như xu hướng biến động đó qua từng thời kì.  Cơ cấu lực lượng lao động theo thành phần kinh tế Cơ cấu lực lượng lao động theo thành phần kinh tế phụ thuộc vào chế độ chính trị - xã hội của mỗi quốc gia. Nó thể hiện sự khác biệt và tính đa dạng của nền kinh tế.
  18. Ở nước ta, trước đây chỉ có hai thành phần kinh tế: Quốc doanh và tập thể. Từ khi phát triển nền kinh tế thị trường đến nay, cơ cấu lực lượng lao động theo thành phần kinh tế đã có sự thay đổi lớn. Trong báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nước ta có 6 thành phần kinh tế sau: Kinh tế Nhà nước; Kinh tế tập thể; Kinh tế cá thể và tiểu chủ; Kinh tế tư bản tư nhân; Kinh tế tư bản Nhà nước; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. [Trích trong Văn kiện Đại biểu toàn quốc lần thứ IX “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010”, trang 188 – 191]. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động của nước ta đang thay đổi theo hướng giảm dần tỉ lệ lao động ở khu vực quốc doanh, tăng tỉ lệ lao động ở khu vực ngoài quốc doanh. Sự chuyển dịch đó phù hợp với đặc điểm và khả năng phát triển nền kinh tế - xã hội nước ta, phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.  Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ phản ánh chất lượng lực lượng lao động, việc bố trí lao động phù hợp với trình độ của họ tạo cơ sở cho việc tăng năng suất lao động, cũng như khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Đây là cơ sở cho việc lập kế hoạch đào tạo và nâng cao trình độ cho người lao động. Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ được tính theo tiêu thức sau:  Trình độ văn hóa: biểu hiện thông qua các quan hệ tỉ lệ của số lượng người biết đọc, biết viết; số người có trình độ tiểu học; số người có trình độ trung học cơ sở; số người có trình độ trung học phổ thông; số người có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học. Trình độ văn hóa cao của lực lượng lao động tạo khả năng tiếp thu, vận dụng nhanh chóng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào thực tiễn.
  19.  Trình độ chuyên môn: là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó, nó thể hiện trình độ được đào tạo ở các trường chuyên nghiệp có khả năng chỉ đạo, quản lí một công việc thuộc một chuyên môn nhất định. Trình độ chuyên môn của lực lượng lao động được đo bằng tỉ lệ cán bộ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học và trên đại học.  Trình độ kĩ thuật: Trong nền kinh tế nông nghiệp, nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển là lao động phổ thông. Trong nền kinh tế công nghiệp, nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển là các chuyên gia và công nhân lành nghề. Trong nền kinh tế tri thức, nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển là các chuyên gia công nghệ cao và người lao động tri thức có nhiều khả năng sáng tạo. Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ kĩ thuật được phân ra: Lao động không có kĩ thuật (còn gọi là lao động phổ thông, lao động đơn giản hay lao động không có nghề) là lao động không qua học nghề dưới bất kì hình thức nào. Lao động có trình độ kĩ thuật là những người có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp nghiệp vụ và công nhân kĩ thuật. Công nhân kĩ thuật là những người tốt nghiệp các khóa đào tạo và hoàn thành thời gian tập sự hoặc tích lũy kiến thức qua thực tế, đạt trình độ nhất định theo tiêu chuẩn nghề qui định. Lao động có trình độ cao là những lao động kĩ thuật có trình độ kĩ năng và kĩ xảo đặc biệt thông qua đào tạo hoặc tích lũy kinh nghiệm thực tế, đảm nhiệm được những công việc rất phức tạp, đáp ứng được yêu cầu kĩ thuật – công nghệ; có khả năng truyền nghề và dạy nghề (gồm những người có trình độ đại học trở lên, các nghệ nhân, những người có tài năng bẩm sinh đặc biệt). Ngoài những chỉ tiêu được định lượng hóa kể trên về chất lượng lực lượng lao động, người ta còn xem xét chỉ tiêu năng lực, phẩm chất, ý chí và năng lực tinh thần người lao động. Chỉ tiêu này phản ánh mặt định tính và khó
  20. định lượng như: truyền thống dân tộc về bảo vệ tố quốc, văn hóa văn minh dân tộc, phong tục tập quán, lối sống, phong cách làm việc của người lao động. 1.1.3. Việc làm - Thất nghiệp 1.1.3.1. Việc làm “Việc làm là những công việc mà người lao động tiến hành nhằm có được thu nhập bằng tiền hoặc bằng hiện vật” [Theo từ điển “Kinh tế khoa học xã hội”] Ở Việt Nam, thời bao cấp, coi việc làm là những công việc đòi hỏi một chuyên môn nào đó tạo ra một thu nhập nhất định; người có việc làm hoặc phải thuộc biên chế nhà nước, hoặc làm việc trong các hợp tác xã. Hiện nay, quan niệm việc làm ở nước ta đã thay đổi. Điều 3 của Bộ luật Lao động đầu tiên của nước Việt Nam năm 1994 được sử dụng trong các cuộc điều tra về: “Thực trạng lao động – việc làm ở Việt Nam” đưa ra định nghĩa: “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm” [51] “Người có việc làm là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm hoạt động kinh tế, mà trong tuần trước điều tra: đang làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật; đang làm công việc không được hưởng tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận trong các công việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình; đã có công việc trước đó, song trong tuần lễ trước điều tra tạm thời không làm việc và sẽ tiếp tục làm việc ngay sau thời gian tạm nghỉ việc”. [51] Căn cứ vào thời gian thực hiện công việc và nhu cầu làm thêm, người có việc làm được chia ra: Người đủ việc làm và người thiếu việc làm. - Người đủ việc làm là người có số giờ làm việc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ; Hoặc những người có số giờ

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản