Luận văn tốt nghiệp: Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam

Chia sẻ: Kha Nguyên | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:125

0
97
lượt xem
17
download

Luận văn tốt nghiệp: Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn tốt nghiệp với đề tài "Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam" trình bày nội dung chính được phân làm 3 chương: Chương 1 tình hình ngoại thương Trung Quốc từ năm 1979 đến nay, chương 2 một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc, chương 3 một số gợi ý đối với hoạt động ngoại thương Việt Nam từ bài học kinh nghiệm của Trung Quốc.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp: Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam

  1. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam Luận văn tốt nghiệp MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG CỦA TRUNG QUỐC VÀ GỢI Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  1
  2. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam LỜI NÓI ĐẦU Trong những năm cuối của thế kỷ XX, nền kinh tế Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ, là hiện tượng nổi bật nhất, thu hút nhiều sự chú ý nh ất ở khu v ực Châu Á - Thái Bình Dương và trên toàn thế giới. Sau hơn 20 năm (1979-2003) thực hiện cải cách mở cửa, bộ mặt kinh tế xã hội Trung Quốc đã biến đổi sâu sắc.Về nhiều mặt, Trung Quốc đang chiếm những vị trí đáng kể trong n ền kinh tế thế giới, đứng hàng đầu về tốc độ tăng trưởng với một thực lực kinh tế không nhỏ. Đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương, trải qua gần một ph ần tư thế kỷ, ngoại thương Trung Quốc đã thu được nhiều thành tựu rực rỡ: từ ch ỗ xếp hàng thứ 32 trên thế giới về xuất nhập kh ẩu (năm 1978) đ ến nay Trung Quốc đã là cường quốc ngoại thương lớn thứ 5 trên thế giới với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên tới 620,8 tỷ USD năm 2002 (tăng gấp 30 lần so v ới năm 1978). Hơn thế nữa, vị thế và ảnh hưởng của Trung Quốc trong thương m ại quốc tế ngày càng được nâng cao, ngoại thương Trung Quốc đang đứng trước những cơ hội mới để phát triển tốt đẹp hơn, đặc biệt là sau sự kiện Trung Quốc đã trở thành thành viên thứ 143 của Tổ ch ức thương m ại th ế giới ngay vào năm đầu tiên của thế kỷ XXI. Việt Nam là nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, dân cư, chế độ chính trị xã hội và cả về kinh tế với Trung Quốc. Cũng giống như Trung Quốc, Việt Nam đang tiến hành đổi mới đất nước, hướng tới việc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, Việt Nam tiến hành mở cửa, đổi mới đất nước sau Trung Qu ốc 8 năm và cho đến nay thì những thành tựu kinh tế, thành tựu phát tri ển ngo ại th ương v ẫn còn là khiêm tốn so với những thành quả to lớn của nước b ạn và còn ch ưa x ứng với tiềm năng của chính Việt Nam. Vì vậy, để thành công hơn nữa trong công Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  2
  3. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam cuộc phát triển ngoại thương Việt Nam thì việc tham kh ảo bài h ọc kinh nghi ệm của Trung Quốc là rất cần thiết. Với lý do trên, em xin được mạnh dạn nghiên cứu vấn đề “Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Qu ốc và g ợi ý đ ối v ới Việt Nam”. Bản khóa luận này chủ yếu đi sâu vào phân tích các bài học kinh nghiệm thành công cũng như chưa thành công trong phát triển ngoại th ương c ủa Trung Quốc trong tiến trình mở cửa và cải cách kinh tế từ năm 1979 đến nay, để trên cơ sở đó tham khảo một cách có phê phán và chọn lọc những kinh nghiệm có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn ngoại thương Việt Nam, đưa ra nh ững g ợi ý nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngoại thương đất nước trong nh ững năm đ ầu của thế kỷ XXI. Khóa luận được xây dựng dựa trên các phương pháp nghiên cứu khoa h ọc: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê và so sánh. Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục bản khóa luận gồm có 3 chương: Chương I: Tình hình ngoại thương Trung Quốc từ năm 1979 đến nay Chương II: Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngo ại thương của Trung Quốc Chương III: Một số gợi ý đối với hoạt động ngoại thương Việt Nam từ bài học kinh nghiệm của Trung Quốc Em xin chân thành cảm ơn cô giáo – Tiến sỹ Vũ Thị Kim Oanh, người đã tận tình hướng dẫn em trong việc hoàn thành khóa luận tốt nghi ệp này. Em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, bạn bè, Th ư vi ện trường Đ ại h ọc Ngoại thương, Viện kinh tế thế giới, Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc đã giúp đỡ, tạo điều kiện để khóa luận được hoàn thành. Hà Nội, tháng 12/2003 Sinh viên thực hiện Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  3
  4. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam Lê Thùy Dương CHƯƠNG I TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG TRUNG QUỐC TỪ 1979 ĐẾN NAY I. VÀI NÉT VỀ ĐẤT NƯỚC TRUNG QUỐC 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Trung Quốc là một đất nước có diện tích rộng lớn nằm ở nửa phía Bắc của Đông bán cầu, phía Đông Nam của đại lục Á-Âu, phía Đông của Châu Á và phía Tây Thái Bình Dương, có đường biên giới đất liền dài khoảng 22.000 km tiếp giáp với 15 quốc gia, có vùng biển rộng lớn với tuyến bờ biển dài và rất nhiều đảo, đường biên giới trên biển dài khoảng 18.000 km. Diện tích Trung Quốc là 960 vạn km2 , là nước lớn nhất Châu Á, thứ 3 trên thế giới về diện tích lãnh thổ [22]. Với vị trí địa lý rất thuận lợi cùng với diện tích đất đai rộng l ớn đã tạo ra cho Trung Quốc những điều kiện dễ dàng phát triển mối quan hệ kinh tế, đ ặc bi ệt là quan hệ mậu dịch với các nước và khu vực lớn ở Châu Âu, Châu Mỹ cũng như Đông Nam Á, Australia và Trung Á. Địa hình Trung Quốc rất đa dạng bao gồm đồng bằng, gò đồi, cao nguyên, bồn địa, sơn địa, hoang mạc, sa mạc xen kẽ nhau, chủ yếu là địa hình đồi núi, chiếm 70% diện tích đất đai trong đó gần 1/3 ở độ cao trên 300m, diện tích đ ất trồng tr ọt ch ỉ khoảng 100 triệu ha, độ phì nhiêu khá cao. Điều kiện khí hậu rất ưu việt nhưng tương đối khác nhau giữa các vùng, trải rộng từ Nam tới Bắc là các vùng khí hậu khác nhau: vượt nhiệt đới, nhi ệt đ ới, á nhiệt đới, noãn ôn đới, hàn nhiệt đới. Lượng mưa dồi dào, bình quân hàng năm ở Trung Quốc là 629mm. Điều kiện nhiệt độ và lượng nước phân phối h ợp lý tạo ra Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  4
  5. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam điều kiện cho việc phát triển nông nghiệp, như nghề trồng lúa, trồng bông, các loại hoa quả và nghề cá. Trung Quốc là nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú, trong đó lượng tài nguyên nước đứng thứ nhất thế giới. Nguồn tài nguyên năng lượng cũng rất lớn, trữ lượng than thăm dò được là 700 tỷ tấn, đứng thứ nhất thế giới. Sản lượng dầu thô đứng thứ năm thế giới. Tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc tương đối toàn diện và đồng bộ, 150 loại khoáng sản được sử dụng trên thế giới đều được phát hiện ở Trung Quốc, trong đó trữ lượng thăm dò được của hơn 20 loại như: than, vonfram, sitilium, đồng, chì, kẽm, vanađium, titan... đứng hàng đầu thế giới. Rừng của Trung Quốc cũng đứng đầu thế giới về chủng loại gỗ với hơn 2500 loại trong đó có 500 loại cây quý hiếm và 50 loại cây đặc chủng cùng nhiều lo ại đ ộng v ật quý hiếm [22]. 2. Dân cư Trung Quốc là nước có dân số lớn nhất thế giới, dân số Trung Quốc tính đ ến cuối năm 2002 có 1.284.530.000 người [22]. Trung Quốc là một trong những quốc gia có mật độ dân cư cao nhất và phân bố không đồng đều; mật độ trung bình là 125 người/km2; dao động từ 1,5 người ở vùng tự trị Tây Tạng đến 400-500 người/km2 ở các vùng đồng bằng phía Đông, nhiều nơi lên đến 1000-1500 người/km2 như ở vùng Bắc và Đông Bắc [7]. Tiềm năng về nguồn nhân lực của Trung Quốc là rất l ớn và lâu dài. S ố ng ười trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 61% tổng dân số, trong số này có 60% là lao động nông nghiệp. Năm 1990, Trung Quốc có lực lượng lao động là 756, 6 triệu người (từ 15-64 tuổi). Theo tính toán, trung bình mỗi năm Trung Quốc có thêm 21 triệu người bước vào độ tuổi lao động [7].Nguồn nhân lực dồi dào này cùng với truyền thống lao động cần cù, sáng tạo và công tác giáo dục ở đây rất được coi trọng nên chất lượng lao động ngày càng tăng lên. Đó là tài sản vô giá và là nhân t ố quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước này. 3. Đặc điểm chính trị - xã hội Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập vào ngày 01/10/1949. Sau khi nước CHND Trung Hoa thành lập, Đảng cộng sản Trung Quốc đã lãnh đ ạo Cách mạng Trung Quốc đi vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế đ ất nước. Trong giai đoạn đầu của công cuộc xây dựng kinh tế đất nước, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, Trung Quốc đã có nhiều va vấp, thất bại. Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  5
  6. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam Hội nghị Trung ương 3 khóa 11 Đảng cộng sản Trung Quốc (1978) đã đề ra đường lối cải cách mở cửa “Một trung tâm, hai điểm cơ bản” (xây dựng kinh tế là trung tâm, 2 điểm cơ bản là kiên trì cải cách mở cửa và kiên trì 4 nguyên tắc: Con đường xã hội chủ nghĩa, chuyên chính dân chủ nhân dân, sự lãnh đạo của Đ ảng, t ư tưởng Mao Trạch Đông). Đặng Tiểu Bình đã đưa ra lý luận “Xây dựng xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc” với nội dung cơ bản là “Giải phóng tư tưởng, thực sự cầu thị” tức là đi theo chủ nghĩa Mác nhưng phải xuất phát từ th ực tế Trung Quốc. Từ đó đến nay, Trung Quốc luôn luôn kiên trì công cuộc cải cách mở cửa, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, đưa đất n ước chuyển sang một thời đại mới. Nhìn chung, tình hình chính trị-xã hội Trung Quốc trong những năm gần đây ổn định, tuy trong nước và quốc tế có nhiều biến động nhưng Đảng cộng s ản Trung Quốc vẫn giữ vững được quyền lãnh đạo. Nội bộ ban lãnh đạo đã quán triệt quan điểm xuất phát từ đại cục, tập trung mọi nguồn lực để phát tri ển kinh tế. Bên c ạnh đó, về chính trị-xã hội, Trung Quốc cũng còn nổi cộm 2 vấn đề lớn, đó là: 1- T ệ tham nhũng, buôn lậu, vấn đề việc làm, chênh lệch giàu nghèo; 2- Trung Quốc đang bước vào giai đoạn quyết định của cải cách, thời kỳ then chốt của phát triển , có những biến đổi sâu sắc, đan xen về thành phần kinh tế, lợi ích kinh tế, lối sống, hình thức tổ chức xã hội ... đặc biệt là sự thay đổi về kết cấu giai t ầng, tỷ l ệ nòng c ốt (giai cấp công nhân và nông dân) trong Đảng cộng sản Trung Quốc cũng đã thay đổi, đòi hỏi phải đổi mới công tác chính trị tư tưởng và công tác xây dựng Đảng. 4. Kinh tế Trung Quốc sau hơn 20 năm cải cách mở cửa * Về tăng trưởng kinh tế Từ năm 1978, khi bắt đầu cải cách, Trung Quốc đi vào con đường hội nhập với thế giới và khu vực và đã thu được thành công đáng kể. Trước cải cách, từ 1952 đến 1978, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của kinh tế Trung Quốc là 4,4%, thấp hơn bình quân hàng năm của thế giới (4,52%) [15]. Từ năm 1978 đến nay, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của Trung Qu ốc là 7,6%, cao hơn nhiều so với mức bình quân của thế giới. Giai đoạn 1992-1997, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng ngoạn mục hơn nữa với tốc độ tăng tr ưởng GDP bình quân đạt 11%/ năm. Trong đó, GDP Trung Quốc năm 1996 lớn hơn GDP của ASEAN khoảng 15%, bằng 3% GDP của thế giới, 23% kinh tế Nhật, 12% kinh tế Mỹ [22]. Nhiều nhà quan sát xem sự tăng trưởng này là thần kỳ, đặc bi ệt là khi so sánh v ới các nước xã hội chủ nghĩa cũ trong lúc các này trải qua sự suy thoái kinh tế trầm Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  6
  7. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam trọng trong suốt giai đoạn từ đầu đến giữa thập niên 90. Trong những năm 1997- 1999, do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, n ền kinh t ế Trung Qu ốc cũng chững lại, và có dấu hiệu suy giảm. Tuy nhiên, ngay sau đó Trung Quốc đã lấy lại được xu thế tăng trưởng. Năm 2000 là năm cuối của kế hoạch năm năm phát triển kinh tế xã hội lần th ứ chín ( 1996-2000), cũng là năm đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong nền kinh tế Trung Quốc. Với những cố gắng gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), tái cơ cấu nền kinh tế, tập trung cải cách xí nghiệp quốc doanh, thúc đ ẩy phát triển khoa học công nghệ, cải cách cơ bản về nông nghiệp và mở rộng nhu cầu nội địa, Trung Quốc đã đảo ngược xu hướng suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế kéo dài liên tục trong 3 năm qua. Năm 2000, với GDP đạt 8.928 tỷ NDT - tương đương 1.072 tỷ USD, với mức tăng GDP là 8,3% (theo Cục thống kê quốc gia) [33], theo số liệu của IMF con số này là 7,5%, GDP bình quân đầu người đạt 850 USD, Trung Quốc đã hoàn thành vượt mức kế hoạch tăng gấp 4 lần GDP bình quân đ ầu người của năm 1980 (200 USD). Với kết quả này, Trung Quốc đã lần đầu tiên đ ặt chân vào hàng ngũ các quốc gia có GDP trên 1000 tỷ USD [34]. Bước sang thế kỷ 21, năm 2001 được đánh dấu bằng sự kiện lớn, vi ệc Trung Quốc chính thức trở thành thành viên thứ 143 của WTO (vào ngày 11 tháng 11) sau 15 năm nỗ lực và cố gắng là một bước tiến lớn của nền kinh tế Trung Quốc theo hướng nhất thể hoá kinh tế toàn cầu. Sự kiện này cũng đã mở ra những cơ h ội và thách thức mới đối với nền kinh tế Trung Quốc. Trong bức tranh ảm đ ạm của nền kinh tế thế giới 2001, mặc dù tăng trưởng xuất khẩu chững lại do bị ảnh hưởng của sự suy giảm kinh tế Mỹ, Nhật Bản và thế giới song Trung Quốc vẫn duy trì đ ược mục tiêu tăng trưởng. Theo đánh giá của IMF, năm 2001, GDP của Trung Quốc đ ạt 9593,3 NDT tương đương khoảng 1100 tỷ USD, tăng 7,3%, thấp hơn so với mức kế hoạch đề ra (7,5%). Năm 2002, GDP của Trung Quốc lần đầu tiên phá mốc 10 nghìn tỷ NDT, đ ạt 10.239,8 tỷ NDT tương đương 1278 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng là 8% [36]. Nhìn chung, trong nhiều năm gần đây Trung Quốc là nước có tốc đ ộ tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới và trong vòng 10 năm tới Trung Quốc có thể vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng này. Bảng 1: So sánh tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc và thế giới Năm Trung Quốc Thế giới 1999 7,1% 2,8% 2000 7,5% 4,7% Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  7
  8. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam 2001 7,3% 2,2% 2002 8,0% 2,8% 2003(dự đoán) 8,6% 3,4% Nguồn: Đánh giá của IMF và WB, Kinh tế Việt Nam & Thế gi ới các s ố 2000-2001, 2001- 2002,2002-2003 ( Chuyên san ra hằng năm của Thời báo Kinh tế Việt Nam) Tăng trưởng kinh tế nhanh kéo theo thu nhập bình quân đ ầu người dân Trung Quốc tăng lên đáng kể. Từ năm 1978 đến năm 2000, thu nhập thực tế của dân cư đô thị tăng bình quân 6%/ năm, và thu nhập thực tế của dân cư nông thôn tăng với mức bình quân 8%/ năm. Năm 2001, con số này lần lượt là 8,5% và 4,2%. Năm 2002, con số tương ứng là 13,4% và 4,8%.Thu nhập của nông dân tăng đã làm số dân nghèo theo thống kê chính thức giảm mạnh từ mức 33% vào năm 1978 xuống còn 4% vào năm 1997 và 3% vào năm 2001 [22]. * Về công nghiệp Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 15, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đưa ra mục tiêu “biến Trung Quốc thành nước có tỷ l ệ l ớn dân phi nông nghi ệp, có nền công nghiệp hiện đại và dịch vụ hiện đại”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 16 vào tháng 11/2002, nội dung: “Thúc đẩy nâng cấp ưu hoá cơ cấu ngành nghề, hình thành lên cơ cấu ngành nghề: lấy ngành nghề khoa học kỹ thuật cao, mới đi đầu, ngành nghề cơ sở và chế tạo làm hỗ trợ…” cũng không nằm ngoài mục tiêu xây dựng một nền kinh tế, trong đó có ngành công nghiệp hiện đại. Trong m ấy thập k ỷ tiến hành Công nghiệp hoá - hiện đại hoá, cho tới nay, có thể thấy mục tiêu c ủa các kỳ đại hội đang từng bước được thực hiện. Trong vòng 20 năm từ 1978-1997, tốc độ tăng trưởng bình quân của công nghiệp Trung Quốc là 12%, giá trị sản lượng của các xí nghiệp công nghiệp từ cấp xã trở lên tăng gấp 14 lần [7]. Năm 2000, Trung Quốc đạt sản lượng 163 triệu tấn dầu thô, 131 triệu tấn quặng sắt, 1000 tri ệu tấn than, 128,5 triệu tấn thép thô, 1355,6 tỷ kwh điện [22]. Đến năm 2001, sản l ượng các ngành công nghiệp này đều tăng lên mức 165 triệu tấn dầu thô, 145,4 tri ệu t ấn quặng sắt, 1110 triệu tấn than, 152,66 triệu tấn thép thô và 1478 tỷ kwh đi ện [37]. Năm 2002, giá trị gia tăng của công nghiệp cả năm đạt 4593,5 tỷ NDT, tăng 10,2% so với 2001; giá trị sản phẩm mới cả năm tăng 24% so với 2001; tổng lượng phát đi ện cả năm đạt 1654 tỷ Kwh, tăng 11,7% so với năm 2001; sản lượng than đạt 1380 triệu tấn,tăng 18,9%; sản lượng dầu thô đạt 167 triệu tấn, tăng 1,8% [21]. Cơ cấu công nghiệp của Trung Quốc cũng có nhiều thay đổi theo hướng tăng cường phát triển các mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật cao như điện tử, vi tính, ô tô, công nghệ viễn thông… Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  8
  9. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam Vào giai đoạn chuyển giao thế kỷ, Trung Quốc đã trở thành trung tâm sản xuất hàng công nghiệp của thế giới, từ các ngành có hàm lượng lao động cao như d ệt may, giày dép đến các ngành dùng nhiều tư bản và công nghệ cao. Thực t ế, Trung Quốc đã trở thành nước có sản lượng công nghiệp lớn thứ 4 trên th ế gi ới, chỉ sau có Mỹ, Nhật Bản và Đức. Hiện nay, Trung Quốc đã chiếm trên 20% sản lượng thế giới trong các ngành đồ điện gia dụng cao cấp như đầu máy video, DVD, máy điều hoà không khí, tivi màu… Trong ngành điện thoại di động và máy tính cá nhân, Trung Qu ốc cũng s ản xuất trên 10% sản lượng thế giới [25]. * Về nông nghiệp Với dân số 1,3 tỷ người - đông nhất trên thế giới - vấn đề lương thực luôn luôn đứng ở vị trí được coi trọng hàng đầu đối với người dân Trung Quốc. Cuộc cải cách do Đặng Tiểu Bình lãnh đạo, bên cạnh chủ trương thúc đẩy phát triển công nghiệp, dịch vụ, cũng hết sức quan tâm chú trọng tới phát triển nông nghiệp, từng bước hiện đại hóa ngành nông nghiệp. Từ một đất nước nghèo đói, lượng lương thực thực phẩm trong nước không đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước, phải thường xuyên nhập khẩu lương thực thực phẩm với khối lượng lớn, sau hơn 20 năm, bộ mặt nông nghiệp Trung Quốc đã có nhiều thay đổi đáng kể. Tổng giá trị sản l ượng nông lâm ngư nghiệp và chăn nuôi của Trung Quốc năm 1997, sau khi tr ừ đi nhân tố giá c ả, tăng 3,4 lần so với 1978, bình quân mỗi năm tăng 6,6%. Năm 1997, Trung Qu ốc đã vươn lên đứng đầu thế giới về sản lượng nhiều loại sản phẩm như ngũ cốc (444 triệu tấn), bông (4,6 triệu tấn), hạt có dầu (9,6 triệu tấn), thịt (41,2 tri ệu t ấn) [7]. Trong năm 2000, sản lượng lương thực Trung Quốc đạt 500 triệu tấn [22]. Năm 2002, GDP nông nghiệp là 1488,3 tỷ NDT, tổng sản lượng lương thực cả năm đạt 457,11 triệu tấn, sản lượng thịt đạt 65,90 triệu tấn. Nền nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu trong nước mà còn đáp ứng cho xuất khẩu với khối lượng khá lớn [21]. * Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Liên tục trong các năm gần đây, các nhà đầu tư coi Trung Quốc là một đ ịa ch ỉ đầu tư hấp dẫn nhất Châu Á và thực tế là từ năm 1993-2001, Trung Quốc luôn đứng thứ 2 trên thế giới về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, là nước nhận v ốn đ ầu tư lớn nhất trong số các nước đang phát triển. Những cải cách môi trường đầu t ư đã đưa lại những kết quả tốt đẹp cho hoạt động đầu tư của Trung Quốc, biểu hiện cụ thể trong số liệu đầu tư ngày càng tăng lên. Từ 1 979-1997, Trung Quốc đã thu hút đầu tư nước ngoài đạt 348,35 tỷ USD, trong đó 63% là đầu tư trực tiếp, đạt trên 220 Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  9
  10. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam tỷ USD từ hơn 100 nước và đầu tư vào trên 20 ngành nghề. Trong giai đoạn 1997- 2002, đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh, trong 5 năm đạt 226 t ỷ USD, h ơn c ả giai đoạn 1979-1997 [29]. Đặc biệt, năm 2002, một năm sau khi gia nh ập WTO v ới ảnh hưởng tích cực của sự kiện này, Trung Quốc lần đầu tiên vượt Mỹ trở thành quốc gia thu hút được FDI lớn nhất thế giới, với tổng vốn FDI thực tế là 52,7 tỷ USD [21]. Nguồn vốn FDI đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế ở đất nước này. * Về du lịch Nói đến kinh tế Trung Quốc, không thể bỏ qua du lịch - “ngành công nghiệp không khói” của đất nước này. Mỗi năm, Trung Quốc thu hàng tỷ USD với hàng chục triệu lượt người đến tham quan. Năm 1995, số khách du lịch là 46,39 triệu lượt người, doanh thu đạt 8,7 tỷ USD. Năm 2000, con số này là 698 triệu lượt người, tăng 50 triệu lượt người so với năm 1999. Riêng năm 2001, tổng doanh thu ngành du l ịch đạt khoảng 59 tỷ USD (496 tỷ NDT), tăng 9,76% so với năm 2000 [22]. Năm 2002, số người du lịch trong nước cả năm đạt 877,82 triệu lượt người, thu nhập du l ịch trong nước đạt 387,8 tỷ NDT, tăng 10,1%; thu nhập ngoại tệ du lịch quốc tế đ ạt 20,4 tỷ USD, tăng 14,6% [21]. Qua hơn 20 năm cải cách, đất nước Trung Quốc đã trải qua nhiều thăng tr ầm, chuyển biến, nền kinh tế Trung Quốc vừa phải đối mặt với những khó khăn, thách thức nhưng cũng gặt hái được rất nhiều thành tựu. Sự phát triển kỳ di ệu của Trung Quốc là nhờ đâu nếu không phải từ sự nỗ lực hết mình của người dân Trung Quốc trong công cuộc xây dựng đất nước với mục tiêu đưa Trung Quốc từng bước hội nhập với kinh tế thế giới, từng bước trở thành một cường quốc kinh tế l ớn mạnh. Chắc chắn rằng trong những năm tới đây, Trung Quốc sẽ vẫn còn tiếp tục phát triển, nền kinh tế sẽ ngày càng hội nhập, trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế Trung Quốc trong hơn 20 năm qua phát triển rất sôi đ ộng, nh ưng đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương thì những chuyển biến lại càng di ễn ra nhanh hơn, mạnh hơn. Có thể nói ngoại thương là “đầu tàu” trong phát tri ển kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn cải cách mở cửa hiện nay. Trong lĩnh vực này, Trung Quốc đã có những bước tiến thành công, gặt hái nhiều thành tựu. Tuy nhiên để làm được điều đó thì ngoại thương Trung Quốc đã phải trải qua nhiều giai đo ạn phát triển, vừa làm vừa rút kinh nghiệm mới dần dần đi vào đúng quỹ đạo phát triển. Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  10
  11. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam II. CẢI CÁCH HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG TRUNG QUỐC QUA CÁC GIAI ĐOẠN * Sự cần thiết phải cải cách mở cửa ngoại thương Trung Quốc Trước khi thực hiện cải cách mở cửa nền kinh tế vào cuối năm 1978, Trung Quốc đã có những quan hệ kinh tế với nhiều nước trên thế giới nhưng quy mô nhỏ, phạm vi hẹp. Các quan hệ đã chỉ dừng lại ở một nền ngoại thương kém phát triển và một ít viện trợ nhằm mục tiêu chính trị. Những hoạt động thông thường như vay nợ, nhận đầu tư từ nước ngoài, tổ chức du lịch...đều không đáng kể. Chính sách bế quan tỏa cảng vốn có trong lịch sử vẫn là xu thế cơ bản trong các quan h ệ kinh t ế đ ối ngoại của Trung Quốc. Điều này khiến cho Trung Quốc không tận dụng được những thành quả khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới. Nó cũng khiến cho mọi nhân tố tiềm tàng nội tại của đất nước không được đánh thức dậy. Nền kinh t ế bị kìm hãm làm cho khoảng cách kinh tế của Trung Quốc với các nước phát tri ển trên thế giới ngày càng xa. Tình hình kinh tế trong nước những năm 70 đòi hỏi các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải tiến hành thay đổi chính sách này. Đ ặng Tiểu Bình khi tổng kết bài học kinh nghiệm trong lịch sử Trung Quốc đã cho rằng: “M ột nhân t ố quan trọng khiến Trung Quốc chìm đắm trong tình trạng lạc hậu và trì tr ệ là đóng cửa tự bao vây. Kinh nghiệm cho thấy, đóng cửa tự bao vây, đóng c ửa đ ể tự xây dựng thì không thể thành công được, sự phát triển của Trung Quốc không thể tách rời với thế giới được” [13]. Người Trung Quốc cũng đã thấm thía cái giá quá đắt của chính sách “tự lực cánh sinh, độc lập tự chủ” cực đoan và phiến diện, thấy rõ tính tất y ếu của xu th ế hội nhập và phân công lao động mới trong nền kinh tế thế giới và khu vực mà Trung Quốc không thể dứng ngoài. Không chỉ thực trạng kinh tế yếu kém của đất nước đòi hỏi phải cải cách mở cửa mà tình hình thế giới vào cuối thập kỷ 70 cũng tạo điều kiện cho sự thay đổi sâu sắc và toàn diện diễn ra ở Trung Quốc. Đặc biệt vào cuối thập kỷ 70, xu th ế đa phương hóa và chuyên môn hóa, quốc gia hóa trong nền kinh tế th ế giới trở nên vô cùng sôi động, làm cho mối quan hệ giao lưu trao đổi và mậu dịch quốc tế ngày càng được mở rộng và phát triển mạnh mẽ. Đứng trước tình hình này, hoạt đ ộng ngoại thương chủ yếu dựa vào quyền lực của thể chế kinh tế truyền thống tập trung, t ự cấp tự túc, bế quan tự thủ của Trung Quốc đã trở nên lạc hậu và kém hiệu quả, không thể phù hợp với xu thế mở rộng quan hệ đối ngoại, hòa nhập kinh t ế, tăng cường mậu dịch và hợp tác trên đà phát triển sôi động trong các nước trên thế giới. Bên cạnh đó, những thách thức của những tiến bộ khoa học kỹ thuật như vũ bão và cuộc cách mạng ngành nghề mới trên phạm vi toàn cầu, của phát tri ển giao Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  11
  12. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam lưu và quốc tế hóa kinh tế cao độ cũng buộc Trung Quốc phải tự xét lại mình, tự đổi mới, tiếp thu thành quả khoa học kỹ thuật hiện đại, tạo ra sự phát tri ển m ạnh m ẽ. Đặc điểm của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là khoa học kỹ thuật trở thành sức sản xuất trực tiếp, trí tuệ đóng vai trò trọng tâm tạo ra những hi ệu qu ả kinh tế g ấp nhiều lần trước kia. Con người không những tác động đến đối tượng sản xuất mà còn có khả năng tạo ra cả đối tượng sản xuất, những năng lượng mới, những v ật liệu mới. Công nghệ mới, lao động chất xám đã làm cho năng suất lao đ ộng phát triển lên đến mức vô cùng to lớn, thúc đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa s ản xu ất. Nền kinh tế quốc gia đã vượt ra ngoài phạm vi một n ước đ ể tham gia vào s ự phân công lao động quốc tế. Đó là xu thế phát triển của thế giới. Sự phát triển với tốc độ cao của một số nước Châu Á-Thái Bình Dương cũng là một sức ép góp phần thúc đẩy Trung Quốc mở cửa. Tất cả các nước NICs và các nước ASEAN do nhận thấy xu thế toàn cầu hóa của nền sản xuất, cho nên đã đi ều hướng sản xuất của mình chuyển từ chỗ thay thế nhập khẩu sang chỗ hướng về xuất khẩu, tham gia mạnh mẽ vào nền thương mại thế giới. Rõ ràng là họ đã trước sau thoát khỏi tình trạng đóng cửa, vươn mạnh ra bên ngoài, khắc phục tư tưởng sợ phụ thuộc vào nước ngoài, Chính điều này đã làm cho các nước này có tốc đ ộ tăng trưởng đáng ngạc nhiên, đặc biệt là Nam Triều Tiên có tốc đ ộ tăng trưởng v ề xu ất khẩu trong những năm 60 và 70 là 35% và 27%, trong khi đó thì thương mại th ế gi ới chỉ tăng tương ứng có 9% và 7%. Vào những năm 70 tỷ lệ xuất nhập kh ẩu đối v ới GDP của Nam Triều Tiên và Đài Loan là 34% và 50% [15]. Tình hình này buộc Trung Quốc phải xem lại mình và buộc Trung Quốc ph ải cải cách ngoại thương nếu không muốn tụt hậu hơn nữa so với các nước trong khu vực. Do đó vấn đề cấp thiết và tiên quyết của Trung Quốc trong chiến lược phát triển ngoại thương là phải tăng cường khôi phục và thúc đẩy toàn bộ hệ th ống mậu dịch đối ngoại phát triển sống động, tạo điều kiện cho sản xuất, xuất khẩu hàng hóa và nhập khẩu thiết bị và kỹ thuật tiên tiến của thế giới, góp phần đ ưa n ền kinh tế quốc dân phát triển nhanh chóng. Trung Quốc đã tiến hành cải cách ngoại thương nhằm tiến tới thiết lập một hệ thống thương mại tự do phù hợp với nền kinh tế mở cửa và hòa nhập vào xu th ế chung của nền kinh tế thế giới. Quá trình cải cách này có thể chia làm các giai đoạn chính như sau: 1. Giai đoạn 1979-1987 (giai đoạn tìm tòi thử nghiệm) Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  12
  13. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam Là chặng đường đầu tiên của mở cửa cải cách nên cách thức thực hiện còn nhiều bỡ ngỡ, tuy nhiên có thể tập trung vào các chính sách chính sau: - Mở rộng quyền giao dịch của các chính quyền địa phương, các bộ và các doanh nghiệp. Cải cách trong giai đoạn này bao gồm việc thực hi ện chế độ khoán ngoại thương theo khu vực và phân bổ thẩm quyền phê chuẩn đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp cho các tỉnh, thành phố và các khu tự trị. - Cải cách chế độ kế hoạch hóa trong xuất nhập khẩu, bao gồm từng bước giảm đáng kể số lượng hàng hóa theo kế hoạch mệnh lệnh, và gi ảm đáng kể số lượng hàng hoá xuất nhập khẩu do Chính phủ trực tiếp quản lý. Năm 1985, các Bộ trực thuộc Chính phủ trung ương đã bắt đầu ngừng ra các mệnh lệnh đối với mua và phân phối hàng hóa xuất khẩu. - Điều chỉnh chế độ tài chính trong ngoại thương. Các khoản tài chính của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các doanh nghiệp sản xuất kiêm xuất nhập kh ẩu trực thuộc các Bộ được tổng hợp lại trong tài chính của Chính phủ trung ương. Các doanh nghiệp lớn có quyền kinh doanh xuất nhập khẩu được kiểm toán một cách độc lập. Các chính quyền địa phương về mặt nguyên tắc có trách nhiệm với mọi khoản lỗ lãi trong các hoạt động xuất nhập khẩu mà họ tham gia. - Cải cách chế độ hoạt động ngoại thương, bao gồm chuyển từ chế độ kinh doanh một kênh sang chế độ kinh doanh nhiều kênh, chuyển từ chế độ kinh doanh một chức năng sang chế độ sản xuất kiêm kinh doanh xuất nhập khẩu, cho phép các doanh nghiệp tham gia vào ngoại thương kinh doanh xuất nhập kh ẩu một cách đ ộc lập và áp dụng chế độ đại lý đối với một số loại hàng hóa. - Thực hiện chế độ giữ lại ngoại hối. Để khuyến khích các chính quyền đ ịa phương, các bộ và các doanh nghiệp tham gia vào xuất nhập khẩu một cách tích cực, chế độ giữ lại ngoại hối được áp dụng năm 1979. Nói cách khác, trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý ngoại hối và đảm bảo cho những nhu cầu quan trọng c ủa các dự án quan trọng, các doanh nghiệp có quyền giữ lại một phần ngoại tệ mà h ọ kiếm được và có quyền tự quyết đối với việc sử dụng số ngoại tệ này. Họ có th ể tham gia vào thị trường ngoại hối và có thể bán số ngoại hối không s ử dụng cho các doanh nghiệp cần mua. Với những cải cách bước đầu trong hoạt động ngoại thương, từ sau năm 1978, hoạt động ngoại thương của Trung Quốc diễn ra khá sôi động. Kim ngạch ngoại thương năm 1979 mới chỉ đạt 29,33 tỷ USD thì đến năm 1987 đã đạt 82,652 tỷ USD nghĩa là tăng 2,8 lần so với năm 1979. Trong thời gian này, ngoại thương Trung Quốc Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  13
  14. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam phát triển với tốc độ trung bình là 14,2% một năm, đưa Trung Quốc từ chỗ xếp thứ 28 trên thế giới về tổng khối lượng buôn bán lên vị trí thứ 12, về xuất khẩu từ thứ 32 lên thứ 14, về nhập khẩu từ thứ 27 lên thứ 11. Số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD từ 20 chủng loại tăng lên tới 48 chủng loại. Thị trường ngoại thương quốc tế cũng được mở mang mọi mặt từ chỗ có quan hệ ngoại thương với trên 140 nước trong năm 1979 lên 180 nước và khu vực vào năm 1987 [23]. 2. Giai đoạn 1988-1990 (giai đoạn quá độ chuyển sang cải cách chiều sâu) - Trọng tâm của giai đoạn này là tăng cường chế độ khoán ngoại thương. Chính phủ đã bắt đầu áp dụng chế độ này vào năm 1988. Trong phạm vi ch ế đ ộ này, các chính quyền địa phương ký kết hợp đồng với Chính phủ về số lượng ngoại hối mà họ cam kết sẽ thu được, số lượng ngoại hối họ sẽ giao nộp cho Chính phủ và những lợi ích kinh tế mà họ cố gắng đảm bảo. Những hợp đồng này vẫn không thay đổi từ năm 1988- 1990. Sau đó, các chính quyền địa phương lại ký hợp đồng với các doanh nghiệp kinh doanh địa phương và thực hiện các mục tiêu ngoại thương của mình theo quy định của pháp luật. Trong phạm vi chế độ này, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tự chịu trách nhiệm về các khoản lỗ lãi của chính mình. Trách nhiệm này trước hết được áp dụng tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong ngành công nghiệp nhẹ, mỹ nghệ và may mặc. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp sản xuất và các chính quyền địa phương giữ lại một phần lớn các khoản thu ngoại tệ, còn một phần nhỏ được giao nộp cho Chính phủ. Tuy nhiên, để đổi lấy tỷ lệ giữ lại lớn, h ọ ph ải hoàn toàn chịu trách nhiệm về các khoản lỗ lãi của mình. Với chế độ khoán ngoại thương, chế độ kế hoạch hóa ngoại thương cũng được cải thiện thêm một bước. Trừ 21 loại hàng hóa xuất khẩu vẫn nằm dưới chế độ quản lý thống nhất và vẫn theo chế đ ộ xuất khẩu hai kênh, tất cả các loại hàng hóa đã được chuyển từ chế độ hai kênh sang chế độ một kênh duy nhất. Điều này có nghĩa là các chính quyền đ ịa ph ương s ẽ ký hợp đồng trực tiếp với Chính phủ. Một khi chế độ này được thực hiện thì chế độ tài chính trong ngoại thương cũng được cải cách theo. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ký hợp đồng trực tiếp với Nhà nước về các chỉ tiêu lợi ích kinh tế nhất định, và theo thông lệ quốc tế, Nhà nước đã thực hiện đầy đủ các ưu đãi v ề thuế xuất kh ẩu. Ngân sách của các chi nhánh địa phương của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu được gắn với các ngân sách của các chính quyền địa phương và tách ra khỏi ngân sách c ủa Chính phủ trung ương. - Chế độ quản lý ngoại thương đã được tiếp tục cải cách dưới hệ thống mới này nhằm xác định lại quyền quản lý các hoạt động thương mại. Từ tháng 10/1988, Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  14
  15. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam chức năng của Bộ ngoại thương cũng đã được đổi mới: ngoài việc nghiên c ứu xác định chiến lược phát triển ngoại thương, quản lý giấy phép, hạn ngạch xuất nhập khẩu, còn chịu trách nhiệm kế toán ngoại hối, tăng cường giám sát quản lý công tác thống kê, chỉ đạo công tác kinh doanh và kế toán tài vụ của các xí nghiệp ngoại thương, tham gia điều tiết mức thuế và cân đối công tác ngoại thương giữa các khu vực. - Việc thi hành hệ thống hợp đồng trách nhiệm theo hướng cân đối trách nhiệm, quyền hạn và lợi nhuận của các công ty ngoại thương có tác dụng giải quyết các vấn đề khác nhau của địa phương, các ngành, các công ty ngoại thương và các xí nghiệp sản xuất, đồng thời còn đóng vai trò quan trọng thúc đẩy phương th ức hoạt động bên trong của các xí nghiệp, đó là nguyên nhân tạo ra đ ược lợi nhuận và m ở rộng ngoại thương. Giai đoạn này chỉ kéo dài có 3 năm nhưng ngoại thương Trung Quốc đã có những bước tiến lớn. Vào năm 1990 kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc đạt 115,4 tỷ USD so với 102,784 tỷ USD năm 1988 tăng lên 12%. Điểm đặc bi ệt là sau một thời gian dài nhập siêu đến năm 1990 Trung Quốc đã xuất siêu với thặng d ư là 8,746 tỷ USD. Số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu hàng năm hơn 100 triệu USD từ 48 loại vào năm 1987 đã lên đến 83 loại vào năm 1990. T ỷ tr ọng hàng công nghi ệp xuất khẩu trong kim ngạch xuất khẩu chiếm 74,5%. Đối với hoạt động nhập khẩu, vào năm 1989, những thiết bị đồng bộ và kỹ thuật tiên ti ến được nhập vào khoảng 4,39 tỷ USD, đổi mới 400 xí nghiệp trọng điểm và đã sản xuất ra hơn 6000 loại s ản phẩm mới, trong đó một số lượng khá lớn đạt được tiêu chuẩn tiên tiến trên thế giới có sức cạnh tranh mạnh mẽ. Đến năm 1990, Trung Quốc đã thiết lập được quan hệ thương mại với 200 nước và khu vực [23]. 3. Giai đoạn 1991-2001 Mục tiêu của giai đoạn này là thiết lập một chế độ quản lý và một cơ chế hoạt động với đặc điểm "chính sách thống nhất, cạnh tranh lành mạnh, quản lý tự chủ, trách nhiệm của mỗi doanh nghiệp đối với các khoản lỗ lãi, kết h ợp sản xuất với thương mại, áp dụng chế độ đại lý và thẩm quyền duy nhất trong việc gi ải quy ết các vấn đề thương mại". Mục tiêu của chế độ mới là nhằm chấm dứt một lịch sử lâu đời của nền ngoại thương trợ cấp và buộc các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Các biện pháp cải cách bao gồm: - Xoá bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đồng thời tăng tỷ lệ giữ lại ngoại hối để thực hiện chế độ khoán ngoại thương đ ối với các khoản lỗ và lãi. Cụ thể: Tổng công ty ngoại thương trung ương giao khoán xuất khẩu trực tiếp cho các địa phương, các địa phương chịu trách nhiệm tổ chức Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  15
  16. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam xuất khẩu, thu ngoại tệ về và giao nộp 70%, được giữ lại 30% ở đ ịa phương, chỉ tiêu khoán được giao cho các xí nghiệp và cơ sở ngoại thương. Nếu thu nh ập v ượt quá mức chỉ tiêu khoán thì phần vượt này địa phương được giữ lại 80%. Việc c ải cách hệ thống quản lý ngoại tệ đã giúp các công ty có được nhiều ngoại tệ hơn cho các nhu cầu mở rộng tái đầu tư của họ. Nhiều xí nghiệp và các viện nghiên cứu khoa học đã được phép tham gia các hoạt động ngoại thương. Đồng thời với việc thu hẹp, giới hạn các mặt hàng xuất nhập khẩu cần xin giấy phép, Trung Quốc đã giảm thuế nhập khẩu nhằm mở rộng tự do thương mại. - Tự do hơn nữa thị trường ngoại hối. Trước hết hủy bỏ ch ế đ ộ hai tỷ giá, thống nhất tỷ giá của đồng Nhân dân tệ với các ngoại tệ khác, chủ yếu dựa vào thị trường cung và cầu ngoại tệ. Chính sách này được đưa ra nhằm mang lại đầy đủ vai trò quan trọng của tỷ giá hối đoái, như là một biện pháp điều chỉnh ngoại th ương. Thị trường giao dịch ngoại tệ giữa các ngân hàng đã được thành l ập, nhằm trợ giúp cho cơ chế xây dựng tỷ giá hối đoái và nhận ra những tác đ ộng có thể làm thay đ ổi đồng Nhân dân tệ đối với tài khoản hiện hành. Cuộc cải cách về tỷ giá h ối đoái đã thúc đẩy cải cách trong hệ thống quản lý nhập khẩu. Một số quy đ ịnh h ạn chế phi thuế quan bị hủy bỏ hoặc là bị giảm bớt, đã mở rộng thêm "tự do" cho hoạt đ ộng nhập khẩu. - Chính phủ ký hợp đồng với các tỉnh, khu tự trị, thành phố h ạch toán tài chính độc lập, công ty chuyên doanh xuất nhập khẩu, doanh nghiệp sản xuất kiêm xuất nhập khẩu các loại hàng hóa chuyên ngành nhất định cũng như với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khác. Các hợp đồng đó quy định hạn ngạch xuất kh ẩu, h ạn ng ạch thu ngoại hối và hạn ngạch ngoại hối phải nộp cho Chính phủ. Các hạn ngạch trong mỗi hợp đồng được đánh giá và điều chỉnh theo từng năm. Nhìn chung, những cải cách trong giai đoạn này đẩy mạnh hơn nữa việc mở rộng quyền hạn, chủ động sản xuất kinh doanh ngoại thương; khơi dậy tính tích cực, năng động sáng tạo cho các xí nghiệp sản xuất và các công ty xuất nh ập kh ẩu; đẩy mạnh việc mở rộng kênh lưu thông, tiêu thụ hàng hóa ra thị trường thế giới; tăng cường sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường quốc tế. 4. Năm 2001 Trung Quốc trở thành thành viên của WTO - m ột d ấu mốc quan trọng trong phát triển ngoại thương nói riêng và kinh t ế nói chung 4.1. Sự cần thiết gia nhập WTO của Trung Quốc Xét từ góc độ tiềm lực phát triển của kinh tế Trung Quốc cũng như từ c ơ chế hoạt động toàn cầu của WTO, việc Trung Quốc gia nhập WTO là phù h ợp v ới nhu cầu của cả hai bên. Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  16
  17. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam * Về phía Trung Quốc: Trong hơn hai thập kỷ qua, công cuộc cải cách và mở của của Trung Quốc được tiến hành trong bối cảnh quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Toàn cầu hoá đã mang lại cho Trung Quốc cả những cơ hội lẫn những thách th ức. Cho đến nay, sự phát triển và thịnh vượng của Trung Quốc phụ thuộc khá nhiều vào các mối liên kết của Trung Quốc với thế giới bên ngoài. Chính vì vậy, gia nhập WTO là nhu cầu thiết thực để Trung Quốc: - Tiếp tục đi sâu cải cách và mở cửa, xây dựng n ền kinh tế th ị trường xã h ội chủ nghĩa - Hoà nhập vào xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới - Tận dụng triệt để hơn nữa kinh nghiệm quản lý, kỹ thuật, công nghệ, thị trường và nguồn vốn quốc tế - Tăng cường xây dựng niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài về triển vọng phát triển và môi trường đầu tư của Trung Quốc - Thúc đẩy sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, xúc tiến việc mở rộng các ngành sản xuất và điều chỉnh cơ cấu kinh tế, tăng cường khả năng cạnh tranh trên th ị trường quốc tế. - Tham gia WTO, Trung Quốc sẽ được hoà nhập vào một "Liên hợp quốc về kinh tế và thương mại" với hơn 140 thành viên, kim ngạch buôn bán hàng năm chiếm trên 90% kim ngạch buôn bán toàn cầu [14]. Lợi ích mà Trung Quốc nhận được là vô cùng to lớn khi Trung Quốc được hưởng Quy chế Tối huệ quốc (MFN) vô điều kiện, điều đó chắc chắn sẽ thúc đẩy quá trình giao l ưu buôn bán, xu ất nh ập kh ẩu hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc với các nước và khu vực trên th ế gi ới không ngừng tăng lên. - Thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, Trung Quốc sẽ tránh được những rào cản không đáng có của “chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch”, b ảo v ệ tối đa quyền lợi hợp pháp của Trung Quốc trong thương mại quốc tế. * Về phía WTO Xét từ góc độ tiềm lực phát triển và quy mô to lớn của nền kinh tế–thương mại Trung Quốc, từ mối quan hệ tương hỗ đôi bên cùng có lợi giữa nền kinh tế Trung Quốc với các quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới, từ thị trường to lớn cho tới tư thế và phương thức ứng xử của Trung Quốc trong vai trò một nước l ớn có tiếng nói trên trường quốc tế, tất cả đều chứng minh rằng WTO sẽ không thể được Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  17
  18. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam coi là hoàn chỉnh khi chưa có sự tham gia của Trung Quốc-nước đang phát tri ển l ớn nhất trên thế giới: - Không có sự tham gia của Trung Quốc trong việc xây dựng những nguyên tắc của WTO, phạm vi ứng dụng của những nguyên tắc ấy chắc chắn sẽ hạn chế. - Không có sự tham gia của một thị trường rộng lớn như Trung Quốc, thị trường quốc tế khó có thể là thống nhất. Có thể thấy, Trung Quốc cần WTO và WTO cần Trung Quốc, việc Trung Quốc gia nhập WTO là phù hợp với lợi ích của cả Trung Quốc và các nước trên thế gi ới. Điều đó đã được chứng minh một cách thuyết phục thông qua sự hợp tác thành công và những thành tựu to lớn mà các bên đạt được trong nhiều năm qua. 4.2. Tóm tắt quá trình đàm phán và gia nhập WTO của Trung Quốc 4.2.1. Tiến trình gia nhập 1948 - Trung Hoa Dân Quốc là một trong số 23 thành viên sáng lập của Hi ệp định chung về thuế quan và thương mại GATT (tiền thân của WTO) 1950 - Một năm sau ngày thành lập nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, nước này tuyên bố rút khỏi GATT với lý do GATT chỉ là hội của những nước tư bản. 1986 - Trung Quốc đệ đơn gia nhập GATT 1987 - GATT đã thành lập “Nhóm công tác về địa vị nước tham gia ký kết hiệp định chung của Trung Quốc” 1989 - Các cuộc đàm phán bị hoãn lại sau sự kiện Thiên An Môn. Nhiều chương trình tự do hoá kinh tế đã trở nên sai lệch với mục tiêu của các cuộc đàm phàn. 1994 - Trung Quốc thực hiện nhiều cố gắng, nhanh chóng tự do hoá thương mại để cố gia nhập WTO vào cuối năm nhưng nội bộ vẫn chưa thông suốt và ch ế độ bảo hộ còn cao 1995 01/1995 - WTO thay thế cho GATT 07/1995 - Trung Quốc được công nhận là quan sát viên của WTO 11/1995 - Trung Quốc tuyên bố kế hoạch tự do hoá thương mại lớn nhất từ trước tới nay, kế hoạch này sẽ được thực hiện trong vòng 16 năm nhằm lôi kéo s ự ủng hộ của Mỹ. Trung Quốc dự kiến cắt giảm 30% thuế quan và cho phép thành lập các doanh nghiệp có vốn đầu tư nưóc ngoài. 1997 - Khủng hoảng tài chính ở Châu Á . Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  18
  19. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam Trung Quốc vẫn giữ ổn định được đồng Nhân dân tệ, tuy nhiên việc tự do hoá đã chậm lại, Trung Quốc lo sợ việc mở cửa quá nhanh sẽ làm xấu h ơn tình tr ạng kinh tế cũng như những cải cách vừa đạt được. Mặc dù, Trung Quốc đã cắt giảm thuế nhập khẩu từ 23% xuống còn 17% nhưng thuế đối với một sồ mặt hàng khác như ôtô…vẫn còn khá cao. 1999 04/03/1999 - Đại diện thương mại Mỹ Charlene Barshefski đã tới Bắc Kinh đàm phán nhưng không có kết quả do có những bất đồng lớn trong lĩnh vực nông sản và dịch vụ. 08/04/1999 - Thủ tướng Chu Dung Cơ thăm Mỹ với nhiều thoả hiệp và nhượng bộ nhằm hoàn tất đàm phán và ký hiệp định nhưng Mỹ tiếp tục yêu cầu cao hơn 07/05/1999 - NATO ném bom sứ quán Trung Quốc ở Belgrade, đàm phán Trung- Mỹ bị ngừng lại 11/09/1999 - Trong Hội nghị APEC tại NewZealand, Tổng thống Bill Clinton và Chủ tịch nước Giang Trạch Dân đã nối lại đàm phán nhưng hai bên vẫn chưa đ ạt được thoả thuận. 08/11/1999 - Tổng thống Bill Clinton cử bà Barshefski sang Trung Quốc để cố đưa ra một thoả thuận chung nhưng không có kết quả. 13/11/1999 - Thủ tướng Chu Dung Cơ hội đàm với Đại diện thương mại Mỹ Charlene Barshefski 15/11/1999 - Mỹ và Trung Quốc tuyên bố Hiệp định thương mại đã được ký kết. Trung Quốc cam kết mở cửa nhiều lĩnh vực từ nông sản đến dịch vụ vi ễn thông. Tổng thống Bill Clinton thuyết phục Quốc hội Mỹ ban Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn cho Trung Quốc. 2000 19/05/2000 - EU và Trung Quốc ký kết Hiệp định thương mại 09/2000 - Trung Quốc ký Hiệp định song phương với Thuỵ Sỹ. 10/10/2000 - Tổng thống Bill Clinton ký Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn sau khi được sự thông qua của Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ 2001 01/2001 - Trung Quốc đã tiến hành một chuỗi các vòng đàm phán đa phương hết sức gay go với nhiều nước thành viên trong WTO. Sở dĩ thời gian đàm phán kéo dài là do nhiều nước đã không nhất trí với Trung Quốc về vấn đề trợ cấp nông sản Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  19
  20. Một số bài học kinh nghiệm trong phát triển ngoại thương của Trung Quốc và gợi ý đối với Việt Nam 09/06/2001 - Trung Quốc và Mỹ nhất trí việc Trung Quốc gia nhập WTO kể cả vấn đề trợ cấp nông sản. 20/06/2001 - EU tuyên bố tiếp tục đàm phán song phương với Trung Quốc về việc nước này gia nhập WTO 03/07/2001 - Trưởng đoàn đàm phán Bộ thương mại Trung Quốc-ông Long Vĩnh Đồ- nói rằng “tất cả những vấn đề mấu chốt” đã đ ược giải quy ết bằng thương lượng với các thành viên WTO 13/09/2001 - Trung Quốc và Mêhicô kết thúc đàm phán song phương, hoàn thành xong cuộc đàm phán thứ 37 cũng là cuộc đàm phán cuối cùng trước khi Trung Quốc gia nhập WTO. 14/09/2001 - Các thành viên WTO nhất trí điều khoản Trung Quốc gia nhập WTO tại một cuộc họp bất thường. 17/09/2001 - Trung Quốc cùng các đối tác thương mại chủ yếu ký hiệp định chính thức về việc Trung Quốc gia nhập WTO. 11/11/2001 - Tại Hội nghị các bộ trưởng của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) diễn ra ở Doha-Quata, Trung Quốc đã hoàn tất thủ tục gia nhập WTO sau 15 năm thương lượng và chính thức trở thành thành viên thứ 143 của Tổ chức này. 4.2.2. Quá trình đàm phán Đàm phán gia nhập WTO được Trung Quốc tiến hành theo hai phương thức song song và bổ sung cho nhau. Trong suốt 15 năm, cùng với nhiều cố g ắng khác, Trung Quốc luôn giữ được thái độ tích cực, đã tiến hành gần 30 lần hội nghị Nhóm công tác đa phương và hàng trăm lần đàm phán song phương. 4.2.2.1. Đàm phán đa phương Ngày 11/07/1986, Đại sứ Trung Quốc tại Liên hiệp quốc Tiền Giai Đông g ửi công hàm cho GATT, chính thức đề xuất việc chính phủ Trung Quốc xin khôi ph ục địa vị nước tham gia ký kết Hiệp định chung về thuế quan và th ương mại GATT. Đến tháng 6/1987, GATT đã thành lập “Nhóm công tác về đ ịa vị n ước tham gia ký kết Hiệp định chung của Trung Quốc”. Để đạt được thoả thuận trong các đàm phán đa phương, từ năm 1986 đến nay Trung Quốc đã thực hiện hàng loạt các biện pháp mở cửa và cải cách thể chế mậu dịch, tăng cường đàm phán với các bên ký kết hi ệp định chủ yếu. Các cố gắng của Trung Quốc được thể hiện ở các điểm chính sau: - Đẩy nhanh nhịp độ cải cách mậu dịch: Đại hội 14 Đảng Cộng sản Trung Quốc(1992) tuyên bố xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc, làm cho thể chế kinh tế Lê Thùy Dương – Anh 6 K38 KTNT  20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản