intTypePromotion=3

Luận văn tốt nghiệp: Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm về nhận biết và tách một số chất vô cơ trong chương trình hóa học THPT

Chia sẻ: Tự Hãn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:167

0
8
lượt xem
3
download

Luận văn tốt nghiệp: Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm về nhận biết và tách một số chất vô cơ trong chương trình hóa học THPT

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm về nhận biết và tách một số chất vô cơ trong chương trình hóa học THPT nhằm đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách chính xác hơn, tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập môn hóa học. Góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của dạy học hóa học ở trường phổ thông, đánh giá một cách khách quan kết quả học tập của học sinh, phân loại học sinh. Góp phần bổ sung hoàn thiện hệ thống phương pháp kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả và đánh giá được một cách khách quan kết quả học tập.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp: Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm về nhận biết và tách một số chất vô cơ trong chương trình hóa học THPT

  1. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài ...…………………………………………………...1 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu …………………………………………..3 3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài ……………………………………3 4. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………4 5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu …………………………………5 6. Giả thuyết khoa học …………………………………………………5 7. Những đóng góp của đề tài ………………………………………….5 NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ……………………………7 1.1. Phân loại bài tập trắc nghiệm khách quan môn hoá học ………………...7 1.1.1 Trắc nghiệm khách quan loại “đúng – sai “ ……………………………7 1.1.2. Trắc nghiệm khách quan loại ghép đôi ………………………………..9 1.1.3. Trắc nghiệm khách quan loại điền khuyết ……………………………11 1.1.4 Trắc nghiệm khách quan loại nhiều lựa chọn …………………………12 1.2. Tác dụng của bài tập trắc nghiệm về nhận biết và phân biệt các chất trong dạy học hoá học ……………………………………………………………..15 1.3. Thực trạng việc sử dụng bài tập trắc nghiệm về nhận biết và phân biệt các chất trong dạy học hoá học ở trường THPT ………………………………...16 Chƣơng 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM VỀ NHẬN BIẾT VÀ TÁCH MỘT SỐ CHẤT VÔ CƠ TRONG CHƢƠNG TRÌNH HOÁ HỌC THPT ………………………………………………...21 2.1. Bài tập nhận biết các chất ………………………………………………21 2.1.1. Nguyên tắc và yêu cầu khi giải bài tập nhận biết …………………….21 2.1.2. Các phương pháp nhận biết ………………………………………….22 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 1
  2. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa 2.1.2.1. Nhận biết bằng phương pháp vật lý ………………………………...22 2.1.2.2. Nhận biết bằng phương pháp hóa học ……………………………...25 2.1.2.3. Phương pháp làm bài tập nhận biết ………………………………...36 2.1.2.4. Các dạng bài tập nhận biết ………………………………………….37 Dạng 1: Nhận biết các hóa chất (rắn, lỏng, khí ) riêng biệt ………………...38 1. Nhận biết các chất rắn riêng biệt ………………………………………...38 2. Nhận biết các chất lỏng, dung dịch riêng biệt …………………………...42 3. Nhận biết các chất khí riêng biệt …………………………………………50 Dạng 2: Nhận biết các chất trong cùng một hỗn hợp ……………………….53 Dạng 3: Nhận biết sự có mặt của các chất (hoặc các ion) trong cùng một dung dịch ……………………………………………………………………57 2.1.3. Hệ thống bài tập áp dụng …………………………………………….62 2.2. Bài tập tách các chất ra khỏi hỗn hợp trong hóa vô cơ …………………78 2.2.1. Phương pháp tách các chất ra khỏi hỗn hợp ………………………...78 2.2.1.1. Sử dụng phương pháp vật lý ………………………………………..78 2.2.1.2. Sử dụng phương pháp hóa học ……………………………………..79 2.2.2. Các dạng bài tập tách các chất ra khỏi hỗn hợp …………………….80 Dạng 1: Tách các chất ra khỏi hỗn hợp dựa vào tính chất vật lý …………...80 Dạng 2: Tách các chất ra khỏi hỗn hợp dựa vào tính chất hóa học …………82 1. Tách các chất khí …………………………………………………………82 2. Tách các chất rắn ở dạng bột …………………………………………….86 3. Tách các chất ở dạng dung dịch ………………………………………….90 Dạng 3: Tách các chất không làm thay đổi khối lượng ……………………..95 Dạng 4: Tinh chế (làm sạch) các chất ………………………………………98 2.2.3. Hệ thống bài tập áp dụng …………………………………………...102 Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ……………………………….108 1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm …………………………………….108 2. Nội dung thực nghiệm …………………………………………………..108 3. Phương pháp thực nghiệm ………………………………………………109 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 2
  3. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa 3.1. Chọn mẫu thực nghiệm ………………………………………………..109 3.2. Tổ chức giảng dạy – đánh giá và lấy ý kiến giáo viên ………………..109 4. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm ………………………………...109 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ …………………………………….116 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………..118 PHỤ LỤC ………………………………………………………120 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 3
  4. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa Lời cảm ơn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất đến thầy giáo Tiến sĩ Cao Cự Giác, người đã giao đề tài và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện khóa luận. Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn: Các thầy cô giáo trong bộ môn phương pháp giảng dạy Hóa học và toàn thể các thầy cô giáo khoa Hóa học trường Đại học Vinh. Các thầy cô giáo, các em học sinh trường THPT Nam Đàn 1 – Nam Đàn – Nghệ An cùng gia đình và bạn bè. Đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt Khóa luận này. Vinh, ngày 10 tháng 05 năm 2011 NGƯỜI THỰC HIỆN Nguyễn Thị Sen TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 4
  5. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa MỘT SỐ KÍ HIỆU VIẾT TẮT TNKQ : Trắc nghiệm khách quan THPT : Trung học phổ thông dd : Dung dịch đ : Đặc l : Loãng HS : Học sinh GV : Giáo viên TT : Thực nghiệm ĐC : Đối chứng TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 5
  6. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ cùng với sự bùng nổ thông tin trong giai đoạn hiện nay, đã làm xuất hiện nhanh và nhiều nguồn tin tức mới. Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Quốc tế WTO. Đó là cơ hội cũng là thách thức đối với cả nước nói chung và ngành Giáo dục – Đào tạo nói riêng. Những yêu cầu của xã hội ngày càng cao đòi hỏi ngành Giáo dục – Đào tạo phải đào tạo học sinh trở thành những con người vừa có khả năng đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trước mắt, vừa có khả năng sáng tạo, có năng lực và phẩm chất trí tuệ để góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Muốn vậy bắt buộc phải đổi mới phương pháp dạy học sao cho thích ứng. Vì mục tiêu dạy học, phương pháp dạy học thay đổi nên phương pháp kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng thay đổi cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới. Hiện nay việc nghiên cứu ứng dụng các phương pháp kiểm tra – đánh giá quá trình dạy học và kết quả dạy học một cách khách quan chính xác và nhanh chóng là một vấn đề được đặc biệt quan tâm trong thực tiễn và lý luận sư phạm. Trong quá trình dạy học nói riêng, giáo dục và đào tạo nói chung, kiểm tra đánh giá là một trong những bộ phận chủ yếu và hợp thành một chỉnh thể thống nhất trong quy trình đào tạo. Việc kiểm tra đánh giá không chỉ đơn thuần chú trọng vào kết quả của học sinh, mà còn có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy động cơ, thái độ tích cực của người học, hoàn thiện quá trình dạy học, kiểm tra chất lượng, hiệu quả dạy học. Hiện nay các trường THPT ở nước ta vẫn còn đang sử dụng các phương pháp kiểm tra truyền thống như: Kiểm tra miệng, kiểm tra viết (kiểm tra 15 phút, 1 tiết, học kỳ… ) bằng hình thức tự luận. Các phương pháp kiểm tra này giáo viên đặt ra những câu hỏi tùy đối tượng, thời gian và nội dung cần kiểm TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 6
  7. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa tra, còn học sinh thì dùng những kiến thức đã tiếp thu được rồi tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh và trả lời trực tiếp hoặc biện luận, lý giải. Phương pháp kiểm tra này có ưu điểm nổi bật là đánh giá được vai trò chủ động sáng tạo của học sinh trong cách giải quyết vấn đề, khuyến khích khả năng phát triển tư duy logic, rèn luyện khả năng suy diễn, tổng quát hóa, có thể kiểm tra sâu một mục tiêu nào đó của chương trình. Tuy vậy phương pháp kiểm tra này vẫn bộc lộ những nhược điểm cơ bản như không thể kiểm tra hết mục tiêu của chương trình vì vậy khó tránh khỏi tình trạng quay cóp học tủ của học sinh, cho kết quả thiếu chính xác và không khách quan. Ngoài ra việc chấm bài mất nhiều thời gian và công sức. Đặc biệt là trong các kỳ thi có số lượng đông học sinh như các kỳ thi tuyển sinh Đại học. Thấy được những ưu điểm của trắc nghiệm khách quan, trong những năm gần đây. Bộ giáo dục và Đào tạo đã khởi xướng áp dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong việc kiểm tra – đánh giá chất lượng học tập của học sinh mà điển hình là kỳ thi tuyển sinh Đại học năm 2007 áp dụng cho các môn: Anh, Sinh, Hóa, Lý. Đây là phương pháp kiểm tra – đánh giá có nhiều ưu điểm, trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra một lượng kiến thức lớn, làm bài, chấm bài nhanh, kết quả đánh giá lại hết sức khách quan. Bên cạnh đó, hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, nó gắn liền với khoa học kĩ thuật và với lao động sản xuất. Ngoài việc học sinh tiếp cận với các dụng cụ, hóa chất, các thí nghiệm hóa học… Trong quá trình học, việc làm các bài tập lí thuyết cũng như các dạng bài tập định tính, định lượng hết sức quan trọng. Trong những dạng bài tập lí thuyết của môn hóa học, dạng bài tập nhận biết, tách các chất ra khỏi hỗn hợp là dạng bài tập mà học sinh thường lúng túng. Để giải quyết loại bài tập này ngoài việc nắm vững lí thuyết, về tính chất hóa học của các chất, học sinh cần phải nhạy bén trong việc phát hiện sự khác nhau về tính chất của các chất nhằm nhận biết một chất hay tách một TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 7
  8. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa chất ra khỏi hỗn hợp. Đó là nỗi lo âu, trăn trở của nhiều giáo viên dạy môn hóa học ở bậc trung học phổ thông. Là một sinh viên năm cuối, chuẩn bị trở thành giáo viên bộ môn hóa học bậc trung học phổ thông, với mong muốn nâng cao chất lượng dạy và học, để góp phần phụ đạo học sinh yếu kém, bồi dưỡng học sinh khá giỏi và hình thành cho học sinh những kiến thức cơ bản của môn hóa học. Đồng thời nâng cao hiệu quả dạy học và góp phần đề xuất phương pháp kiểm tra – đánh giá chính xác và hiệu quả hơn. Được sự thống nhất của giáo viên hướng dẫn cũng như tổ chuyên môn chuyên ngành phương pháp dạy học, sự tìm tòi nghiên cứu sách vở, tôi xin viết về vấn đề : “Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm về nhận biết và tách một số chất vô cơ trong chương trình hóa học THPT“. Qua luận văn sẽ giới thiệu một số dạng cơ bản về nhận biết và tách một số chất vô cơ trong chương trình hóa học THPT. 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Đã có nhiều công trình nghiên cứu về dạng bài tập nhận biết và tách một số chất vô cơ của một số tác giả như Ngô Ngọc An, Cao Cự Giác, … Nhiều sách tham khảo về dạng bài tập này cũng đã được xuất bản. Nhìn chung các đề tài trên đã mở ra hướng đi cơ bản cho dạng bài tập nhận biết và tách một số chất vô cơ, nhưng chủ yếu được khai thác dưới những dạng bài tập tự luận; chưa đi sâu vào việc nghiên cứu, sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan trong việc kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh. 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 3.1. Mục đích của đề tài - Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm về nhận biết và tách một số chất vô cơ trong chương trình hóa học THPT nhằm đánh giá kết quả học tập của TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 8
  9. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa học sinh một cách chính xác hơn, tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập môn hóa học. - Góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của dạy học hóa học ở trường phổ thông, đánh giá một cách khách quan kết quả học tập của học sinh, phân loại học sinh (trung bình, khá, giỏi ). - Góp phần bổ sung hoàn thiện hệ thống phương pháp kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả và đánh giá được một cách khách quan kết quả học tập. 3.2. Nhiệm vụ của đề tài - Nghiên cứu cơ sở lý luận trắc nghiệm khách quan trong dạy học hóa học. - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn bài tập trắc nghiệm về nhận biết và tách một số chất vô cơ trong hóa học THPT. - Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm về nhận biết và tách một số chất vô cơ trong chương trình hóa học THPT. - Thực nghiệm sư phạm để đánh giá chất lượng câu hỏi trắc nghiệm khách quan ở trường phổ thông. 4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học, tâm lý học, giáo dục học, các tài liệu khoa học cơ bản, sách giáo khoa, sách bài tập hóa học nâng cao lớp 12, các tài liệu liên quan đến bài tập nhận biết và tách các chất vô cơ. - Nghiên cứu cơ sở kỹ thuật trắc nghiệm khách quan, cách soạn thảo các câu hỏi để từ đó xây dựng hệ thống câu hỏi. - Sử dụng các tài liệu thống kê và xử lý số liệu để đánh giá kết quả học tập của học sinh và đưa ra kết quả định lượng và hiệu quả. - Sử dụng một số câu hỏi đã soạn thảo để kiểm tra kiến thức hóa học phần nhận biết và tách các chất vô cơ trong chương trình hóa học phổ thông. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 9
  10. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa - Thực nghiệm sư phạm. - Thăm dò ý kiến của giáo viên và học sinh về phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra – đánh giá chất lượng dạy và học. 5. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU Hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan về nhận biết và tách một số chất vô cơ trong chương trình hóa học THPT. Dùng để kiểm tra kết quả học tập của học sinh THPT. 6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC - Nếu xây dựng được hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan có chất lượng tốt để kiểm tra – đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo hóa học của học sinh THPT và tích cực sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan, phối hợp với phương pháp kiểm tra truyền thống sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường phổ thông. - Việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để đánh giá kết quả học tập của học sinh sẽ có tác dụng đối với công tác tuyển sinh nếu như ngay từ phổ thông, học sinh đã được làm quen với phương pháp kiểm tra này. 7. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 7.1. Về mặt lý luận - Góp phần làm sáng tỏ nội dung, đổi mới phương pháp học tập, nâng cao chất lượng giảng dạy phần nhận biết và tách một số chất vô cơ trong chương trình hóa học THPT. - Làm sáng tỏ tác dụng bài tập trắc nghiệm khách quan. - Góp phần làm phong phú phương pháp kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh THPT. 7.2. Về mặt thực tiễn TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 10
  11. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa - Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm về nhận biết và tách một số chất vô cơ trong chương trình hóa học THPT. Để kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh. - Áp dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan vào việc kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh sẽ góp phần tích cực trong quá trình dạy và học. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 11
  12. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1. Phân loại bài tập trắc nghiệm khách quan môn hoá học Bài tập trắc nghiệm khách quan gọi tắt là bài tập trắc nghiệm (BTTN ) trong đó mỗi câu hỏi có kèm theo những câu trả lời sẵn. Loại câu hỏi này cung cấp cho học sinh một phần hay tất cả thông tin cần thiết và đòi hỏi học sinh phải chọn một câu để trả lời hoặc chỉ cần điền thêm một vài từ. Loại này còn gọi là câu hỏi đóng, được xem là trắc nghiệm khách quan vì cách đánh giá và cho điểm hoàn toàn khách quan, không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan như: Giáo viên chấm bài, học sinh làm bài, tình cảm của giáo viên đối với học sinh, cách trình bày bài, … Trắc nghiệm khách quan phải được xây dựng sao cho mỗi câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng hoặc một câu trả lời “tốt nhất “. Trắc nghiệm khách quan được chia thành các loại sau: 1.1.1 Trắc nghiệm khách quan loại “đúng – sai “ a. Cấu tạo câu Gồm hai phần: Phần yêu cầu và phần thông tin - Phần yêu cầu: Thông thường là chọn nội dung đúng (Đ ) hoặc sai (S ) hoặc có (C ) hoặc không (K ). - Phần thông tin: Gồm 4 – 5 câu hoặc mệnh lệnh (khái niệm, tính chất các chất, hiện tượng hóa học, công thức hóa học, … ). Mỗi câu có nội dung đúng hoặc sai, có hoặc không. b. Yêu cầu trả lời Học sinh chỉ rõ câu nào đúng, câu nào sai trong số các câu được đưa ra. Tùy theo yêu cầu của đề mà có cách trả lời cho phù hợp. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 12
  13. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa c. Phương pháp thiết kế Bước 1: Xác định mục tiêu và nội dung cụ thể cần đánh giá. Bước 2: Thiết kế nội dung đúng hoặc sai - Việc thiết kế nội dung căn cứ vào những lỗi mà học sinh thường mắc phải vì chưa hiểu khái niệm, chưa nắm được tính chất của chất một cách rõ ràng, hiện tượng của phản ứng hóa học, … - Câu đúng chỉ diễn đạt đúng bản chất mà không dùng nguyên bản trong sách giáo khoa. Câu sai thường thêm hoặc bớt một từ hay một cụm từ để câu không còn chính xác. - Số lượng câu đúng sai nên chênh lệch nhau để tránh trường hợp học sinh đoán mò mà vẫn được điểm. - Có mức độ, hiểu và vận dụng để vẫn có thể đạt được yêu cầu đánh giá học sinh. d. Ưu – Nhược điểm - Ưu điểm: + Có thể đặt được nhiều câu hỏi trong một bài trắc nghiệm với thời gian được ấn định, như vậy có thể làm tăng tính tin cậy của bài trắc nghiệm đó nếu các câu trắc nghiệm được soạn kĩ càng, không tối nghĩa và tránh được sự đoán mò. + Viết câu trắc nghiệm này giáo viên sẽ tốn ít thời gian hơn so với các loại trắc nghiệm khác. Thật ra viết được một câu hỏi loại này không phải là một việc làm đơn giản. Người giáo viên phải lựa chọn những mệnh đề, những phát biểu quan trọng để làm cơ bản cho các câu trắc nghiệm, phải sử dụng từ ngữ độc đáo để câu phát biểu trở nên khó khăn hơn đối với những học sinh chỉ học vẹt. - Nhược điểm: + Loại câu hỏi này gây cho học sinh dễ đoán mò với xác suất đúng 50%, vì vậy độ tin cậy thấp. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 13
  14. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa + Những câu hỏi trắc nghiệm “Đúng – Sai “ được trích từ sách giáo khoa sẽ khuyến khích cho học sinh học thuộc lòng mà chưa hiểu thấu đáo, hay chỉ nhận ra được một số chữ quen thuộc trong sách giáo khoa là có thể biết câu nào đúng, câu nào sai. + Có những câu phát biểu thoạt đầu có vẻ như là đúng hoặc sai nhưng khi đưa ra sử dụng thì lại gặp những thắc mắc nhiều khi rất chính đáng của học sinh về đáp án của câu phát biểu ấy. Nguyên nhân là do lời văn, cách dùng từ không chính xác hay thiếu một số thông tin cơ bản. + Loại câu hỏi này rất khó xác định điểm yếu của học sinh. + Việc sử dụng những câu phát biểu sai mà lại được trình bày như là đúng có thể gây hiệu quả tiêu cực đối với học sinh, khiến cho học sinh có khuynh hướng tin và nhớ những câu phát biểu sai, điều đó dẫn đến bất lợi cho việc học tập của học sinh. e. Mục đích sử dụng - Câu đúng, sai thường dùng để kiểm tra củng cố kiến thức ngay trong giờ học, kiểm tra đầu giờ. - Tùy theo nội dung cụ thể, cũng có thể sử dụng trong đề 15 phút, 45 phút về hóa học. 1.1.2. Trắc nghiệm khách quan loại ghép đôi a. Cấu tạo câu thông thường gồm hai cột (nhóm ) tương ứng Mỗi cột biểu diễn một số nội dung chưa đầy đủ, có liên quan với nhau. Nội dung ở cột I cần ghép với nội dung ở cột II thì tạo nên một nội dung đầy đủ. Số lượng nội dung ở cột I và cột II nên lệch nhau để học sinh không thể dùng phép loại trừ. b. Yêu cầu trả lời Để trả lời câu hỏi này học sinh cần thấy rõ mối liên hệ giữa các nội dung ở 2 cột tương ứng để ghép lại cho phù hợp. c. Phương pháp thiết kế TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 14
  15. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa Bước 1: Xác định nội dung và mục tiêu cụ thể cần kiểm tra đánh giá. Bước 2: Thiết kế câu hỏi cụ thể. Nội dung chưa đầy đủ ở mỗi cột có thể là: - Chỉ gồm các chất tham gia hay chỉ gồm các sản phẩm. - Chỉ gồm loại chất và các công thức hóa học, tên chất cụ thể. - Chỉ gồm khái niệm chung và các thí dụ cụ thể, … d. Ưu – Nhược điểm - Ưu điểm: + Dễ soạn câu hỏi, dễ sử dụng. + Trắc nghiệm khách quan loại ghép đôi sẽ làm tăng độ tin cậy và làm giảm yếu tố đoán mò, may rủi. + Có thể dùng để kiểm tra việc tiếp thu ở mức độ cao thấp khác nhau. - Nhược điểm: + Dùng loại câu hỏi này để trắc nghiệm lượng kiến thức về công thức, phân loại… không phù hợp cho việc kiểm tra khả năng xếp đặt và áp dụng kiến thức, nguyên lý, đặc biệt khi dùng để đo mức độ kiến thức. + Khi danh sách câu, vế câu… trong một cột quá dài khiến mất nhiều thời gian đọc và tìm câu hỏi tương ứng để ghép đôi. Điều này làm ảnh hưởng đến việc ấn định số lượng câu hỏi trong một bài kiểm tra của giáo viên. e. Phương pháp sử dụng - Dùng để kiểm tra, củng cố kiến thức ngay trong giờ học, kiểm tra đầu giờ và kiểm tra ngắn. - Tùy theo nội dung cụ thể cũng có thể sử dụng trong các đề kiểm tra 15 phút, 45 phút về hóa học. 1.1.3. Trắc nghiệm khách quan loại điền khuyết a. Cấu tạo của câu gồm 3 phần: Phần yêu cầu, phần nội dung và phần cung cấp thông tin - Phần yêu cầu: Là phần bắt buộc phải có, thường viết dưới dạng mệnh lệnh thức. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 15
  16. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa - Phần nội dung: Là phần bắt buộc phải có, thường là định nghĩa, mô tả trong số cụm từ (từ ), công thức, số… cho nhiều hơn số chỗ trống cần điền. - Phần cung cấp thông tin: Đó là nội dung (cụm từ, CTHH… ) cho trước, trong đó số cụm từ (từ ), công thức, số… cho nhiều hơn số chỗ trống cần điền. Trong câu điều kiện đôi khi không có phần cung cấp thông tin mà học sinh tự lựa chọn trong nội dung đã học. b. Yêu cầu trả lời Học sinh cần chọn nội dung thích hợp đã cho hoặc trong bài học điền vào chỗ trống (ô trống, khoảng trống… ) hoặc ghép một chữ số ở chỗ trống với từ cần điền vào. c. Phương pháp thiết kế Bước 1: Xác định nội dung cần đánh giá: Khái niệm, tính chất hóa học, phương pháp điều chế, ứng dụng. Bước 2: Chọn nội dung cần điền: Từ, cụm từ, hoặc công thức hóa học của chất cụ thể. Bước 3: Viết câu hỏi theo thứ tự: Yêu cầu, nội dung, cung cấp thông tin (nếu có). Chú ý: - Nội dung cần điền phải đơn nhất và xác định, không nhất thiết lấy nguyên trong sách giáo khoa. - Diễn đạt rõ ràng chính xác. d. Ưu – Nhược điểm - Ưu điểm: + Học sinh có cơ hội được trình bày những câu trả lời khác nhau, phát huy khả năng sáng tạo của học sinh. + Chấm điểm nhanh và đáng tin cậy hơn so với câu hỏi trắc nghiệm tự luận, mặt dầu việc cho điểm có phần rắc rối hơn so với các câu hỏi trắc nghiệm khách quan khác. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 16
  17. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa + Học sinh không có cơ hội đoán mò câu trả lời như trong các loại trắc nghiệm khách quan khác. Học sinh phải viết ra câu trả lời thay vì lựa chọn câu trả lời đúng trong số các câu trả lời cho sẵn. + Dễ soạn hơn so với các loại trắc nghiệm khách quan khác. + Giúp học sinh rèn luyện trí nhớ. - Nhược điểm: + Cách tính điểm không dễ dàng và điểm số không đạt được tính khách quan tối đa. Mặt khác, câu trắc nghiệm khách quan loại này khi chấm sẽ mất thời gian so với các loại trắc nghiệm khách quan khác. + Câu hỏi loại này thường ngắn hơn so với các loại trắc nghiệm khách quan khác, phạm vi khảo sát thường chỉ giới hạn các chi tiết, các sự kiện vụn vặt. + Nếu như trong một câu có nhiều chỗ trống cần điền sẽ làm cho học sinh trở nên khó hiểu hoặc có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau gây cho học sinh sự rối trí. e. Mục đích sử dụng Loại câu hỏi này thường dùng để kiểm tra nhanh: Củng cố ngay sau bài học, kiểm tra đầu giờ hay 15 phút. 1.1.4 Trắc nghiệm khách quan loại nhiều lựa chọn (MCQ) a. Cấu tạo của câu gồm 3 phần chính Phần yêu cầu, phần dẫn và phần lựa chọn. - Phần yêu cầu: Nêu yêu cầu ngắn gọn đề ra (có hoặc không có ). - Phần dẫn: Thường là một câu hỏi hoặc một câu chưa hoàn chỉnh. - Phần lựa chọn: Thường gồm 4 – 5 phương án, trong đó thường có một phương án đúng, các phương án còn lại được gọi là nhiễu. b. Yêu cầu trả lời Chọn phương án phù hợp để có câu đầy đủ hoặc phương án đáp ứng với yêu cầu (đúng hoặc sai ) trong số 4 – 5 phương án. c. Phương án thiết kế câu MCQ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 17
  18. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa Bước 1: Xác định mục tiêu và nội dung cụ thể cần đánh giá. Bước 2: Thiết kế câu hỏi cụ thể. - Phần lệnh: Viết rõ ràng, ngắn gọn, có thể sẽ dùng chung cho nhiều câu. - Phần dẫn: Viết ngắn gọn, rõ ràng, không nên đưa nhiều ý để học sinh hiểu lầm. Hạn chế dùng câu phủ định. Nếu cần in đậm hoặc gạch chân từ không. Phần dẫn và phần chọn được ghép với nhau phải tạo thành cấu trúc đúng ngữ pháp và chính tả. - Các phương án chọn được trình bày theo nội dung khác nhau nhưng nên cùng hình thức diễn đạt. Không nên dùng phương án chọn: Tất cả đều đúng hoặc tất cả đều sai, kết quả khác nhau. d. Ưu – Nhược điểm - Ưu điểm: + Độ tin cậy cao với số phương án lựa chọn tăng lên thì yếu tố đoán mò (may rủi ) của người làm bài giảm xuống. + Độ giá trị cao hơn vì với nhiều câu hỏi có thể đánh giá các khả năng như: Nhớ, hiểu, vận dụng, suy diễn, tổng hợp,… + Có thể phân tích được các câu hỏi khó, câu dễ hay không có giá trị với mục tiêu trắc nghiệm. Phương pháp phân tích này khó có thể thực hiện được đối với các loại câu hỏi khác, đặc biệt là câu trắc nghiệm. + Khách quan khi chấm điểm, điểm số không bị ảnh hưởng đến các yếu tố chủ quan bởi người chấm, chữ viết, trình bày, người làm bài, … - Nhược điểm: Trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn tuy có nhiều ưu điểm nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số nhược điểm như: khó soạn thảo câu hỏi vì phải tìm ra phương án trả lời duy nhất, đúng; các câu nhiễu cũng phải hợp lý (không thỏa mãn nếu học sinh tìm ra phương án hay hơn trong các phương án có sẵn ). e. Mục đích sử dụng TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 18
  19. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa Loại câu MCQ có thể dùng trong tất cả các loại bài kiểm tra, đánh giá: Củng cố vận dụng trong bài học, kiểm tra miệng, kiểm tra 15ph, 45ph, học kỳ, trong các bài kiểm tra đầu vào, kỳ thi tốt nghiệp hoặc tuyển sinh. f. Các yêu cầu cơ bản khi soạn bài tập trắc nghiệm khách quan loại nhiều lựa chọn - Cần soạn 4 đến 5 phương án lựa chọn, trong đó có 1 phương án đúng (hay đúng nhất ), các phương án còn lại gọi là câu “nhiễu “ hay câu “mồi “. Không nên soạn các phương án lựa chọn quá ít hay quá nhiều. - Hình thức trình bày cần được thống nhất, không thay đổi để học sinh không bối rối và có thể ảnh hưởng đến kết quả. Ví dụ: Nên dùng số 1, 2, 3, … để chỉ thứ tự câu hỏi và dùng chữ cái A, B, C, … để chỉ thứ tự câu trả lời. - Phần chính của câu hỏi phải được diễn đạt và cô đọng trong một dạng câu hoàn chỉnh. Diễn đạt trong sáng là yếu tố cần thiết, cần tránh những cách dùng từ phức tạp làm cho câu hỏi trở nên khó khăn vì những lý do không liên quan đến kiến thức hóa học. - Trong phần câu trả lời, chỉ cần nêu những dự kiện liên quan đến câu hỏi, các dự kiện khác có thể khác có thể gây khó khăn cho câu trắc nghiệm mà không giúp gì cho sự hiểu biết của học sinh thì không nên đưa vào. - Mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quan loại nhiều lựa chọn phải độc lập với các câu khác trong bài kiểm tra, tránh trường hợp thông tin cung cấp cho câu hỏi này thường lại là gợi ý để trả lời đúng cho một câu hỏi khác. Đặc biệt là việc xây dựng nhiều câu hỏi loại này trên một số dự kiện chung. - Phương án đúng phải duy nhất, và phải sắp xếp chúng một cách ngẫu nhiên (không theo một thói quen nào ). - Trong việc soạn các phương án lựa chọn, thì soạn câu “nhiễu “ là công đoạn khó khăn nhất. Câu “nhiễu “ phải có vẻ hợp lý và phải có sức thu hút học sinh kém và làm khó khăn “học sinh “ khá. Một câu “nhiễu “ mà không học sinh nào chọn thì chẳng có tác dụng gì. Kinh nghiệm cho thấy, nên xây TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 19
  20. Khóa luận tốt nghiệp Đại học    Nguyễn Thị Sen – Lớp 48A Hóa dựng câu “nhiễu” xuất phát từ những sai lầm của học sinh hay mắc phải hay những khái niệm mà học sinh còn mơ hồ, chưa phân biệt được đúng, sai. 1.2. Tác dụng của bài tập trắc nghiệm về nhận biết và tách một số chất vô cơ trong dạy học hoá học - Hệ thống bài tập trắc nghiệm về nhận biết và tách các chất giúp HS ôn tập những kiến thức đã học một cách có hệ thống, dễ nhớ. - Nội dung kiến thức trong loại bài tập này giúp học sinh hiểu được phương pháp phân tích định tính như cách nhận biết một số ion vô cơ (cation kim loại và anion) trong dung dịch và cách nhận biết một số chất khí. Đồng thời còn trang bị cho học sinh những kiến thức đại cương về phương pháp phân tích định lượng hóa học như bản chất và đặc điểm của các phương pháp định lượng hóa học (phân tích khối lượng và phân tích thể tích) và các ứng dụng phổ biến của các phương pháp đó. - Rèn luyện khả năng tư duy, tính nhạy bén, khả năng nhớ và vận dụng kiến thức của học sinh. - Giúp học sinh vận dụng những kiến thức của mình về tính chất vật lí cũng như về tính chất hóa học của các chất trong nhận biết. - Tạo mối gắn kết giữa lí thuyết và thực hành, giúp cho học sinh không bị lúng túng khi giải quyết vấn đề nào đó trong cuộc sống liên quan đến việc nhận biết các chất nói riêng và công việc liên quan nói chung. 1.3. Thực trạng việc sử dụng bài tập trắc nghiệm về nhận biết và tách một số chất vô cơ trong dạy học hoá học ở trƣờng THPT Quá trình giảng dạy môn Hóa học THPT cho thấy khi gặp các bài tập dạng nhận biết và tách các chất, đa số học sinh thường bỡ ngỡ trong vận dụng kiến thức đã học vào từng yêu cầu cụ thể, trong đó có một số không biết cách TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH – KHOA HÓA HỌC 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản