intTypePromotion=1

Một vài kinh nghiệm sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học môn Hình học lớp 9

Chia sẻ: Quang Huy | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:20

0
71
lượt xem
4
download

Một vài kinh nghiệm sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học môn Hình học lớp 9

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài "Một vài kinh nghiệm sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học môn Hình học lớp 9" nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh dưới sự hướng dẫn đúng mức của giáo viên, hình thành nhu cầu tự học, tạo hứng thú và niềm tin trong học tập của học sinh qua môn hình học lớp 9.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một vài kinh nghiệm sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học môn Hình học lớp 9

  1. MỘT VÀI KINH NGHIỆM SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TRONG  DẠY HỌC  MÔN HÌNH HỌC LỚP 9 hỗ trợ học sinh  học toán hình thông qua một số ứng dụng công nghệ  thông tin PHẦN I :  ĐẶT VẤN ĐỀ   I. CƠ SỞ LÝ LUẬN :                   Hiện nay một trong những tr ọng tâm của việc đổi mới chương   trình và thay sách giáo khoa là đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường   ứng dụng công nghệ  thông tin vào việc dạy học. Thực hiện dạy học phát  huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh dưới sự hướng dẫn đúng  mức của của giáo viên nhằm hình thành nhu cầu  tự học, tạo hứng thú và   niềm tin trong học tập của học sinh đang là sự  quan tâm hàng đầu của các  nhà giáo dục. Năm học 2010 ­ 2011 là năm học với chủ đề : “tiếp tục đổi mới quản   lý, nâng cao chất lượng giáo dục". tiếp tục thực hiện phong trào “Xây dựng   trường   học   thân   thiện,   học   sinh   tích   cực”.  Thực   hiện  Chỉ   thị   số  55/2008/CT­BGDĐT   ngày   30/9/2008   của   Bộ   trưởng   Bộ   GDĐT  về   tăng  cường giảng dạy, đào tạo và  ứng dụng công nghệ  thông tin trong ngành  giáo dục giai đoạn 2008­2012.  Trên tinh thần nội dung đó Sở GD­ĐT Gia Lai đã chỉ đạo và tổ chức  hướng dẫn cho giáo viên các môn học triển khai việc tích hợp, lồng ghép,  ứng dụng công nghệ  thông tin (CNTT) vào quá trình dạy các môn học của  mình. Cụ  thể  là : Giáo viên (Gv)  bộ  môn cần tự  khai thác, trực tiếp thiết  kế  giáo án, sử  dụng các phần mềm dạy học phù hợp với nội dung và   phương pháp bộ của môn .  Đổi mới phương pháp giáo dục nhằm tích cực hoá quá trình học tập  của học sinh; để thực hiện được điều này, ngoài sự nghiên cứu về phương   pháp truyền giảng, phương pháp tổ  chức lớp học thì giáo viên còn phải   nghiên cứu sử dụng các thiết bị công nghệ, các phần mềm hỗ trợ dạy học   để   ứng dụng. CNTT trong trường học  được đẩy mạnh  ứng dụng trong   nhiều năm qua đã từng bước nâng cao chất lượng dạy học, tích cực thực   hiện đổi mới phương pháp giáo dục.  Xu hướng chung của sự đổi mới phương pháp giảng dạy ở bậc trung  học cơ sở là làm sao để  giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức  mà còn là người tổ  chức định hướng cho học sinh hoạt động để  học sinh   1
  2. huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân vào sự chiếm lĩnh tri   thức mới. Vì thế việc cải tiến phương pháp giảng dạy bằng cách tạo ra nhiều  hình thức học tập là cần thiết nhằm cuốn hút học sinh say mê hào hứng, tự  giác lĩnh hội tri thức, từ đó phát huy năng lực, trí sáng tạo của mỗi học sinh. Xuất phát từ yêu cầu đó mà vấn đề sử dụng bài giảng điện tử trong các giờ  học phục vụ  đổi mới phương pháp dạy học được các cấp lãnh đạo và   nhiều giáo viên quan tâm. Bởi học sinh bậc trung học cơ  sở mới từ trung   học cơ sở chuyển lên, nên việc thu nhận kiến thức thông qua việc phát huy  tính tự  học còn có nhiều hạn chế. Mặt khác xuất phát từ  nhận thức của  học sinh bậc trung học cơ sở là :” Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu   tượng – từ  tư  duy trừu đến thực tiễn khách quan” cho nên việc  ứng dụng  CNTT vào dạy học là hết sức cần thiết . Vậy làm thế nào để việc ứng dụng CNTT trong dạy học có hiệu quả  nhất trong các giờ  lên lớp phục vụ  đổi mới phương pháp dạy học? Đó là   câu hỏi mà tôi luôn trăn trở  và thực sự  lưu tâm chú trọng.Trong khi  ở  một   số trường từ lâu  đã sử dụng bài giảng điện tử vào giảng dạy có hiệu quả  thì ở một số trường vẫn chưa thực hiện được vì tâm lý ngại khó khi soạn   giảng bằng bài giảng điện tử. Chính vì những lí do trên tôi đã mạnh dạn   chọn  đề tài  “Sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học môn hình học lớp   9” nhằm đẩy mạnh  ứng dụng CNTT vào dạy học  phát huy tính tích cực,  chủ  động sáng tạo của học sinh dưới sự  hướng dẫn đúng mức của giáo  viên, hình thành nhu cầu tự học, tạo hứng thú và niềm tin trong học tập của   học sinh qua môn hình học lớp 9.  II.CƠ SỞ THỰC TIỄN :    1.Kết quả khảo sát học sinh khi chưa áp dụng CNTT:          Thời   gian   trước   đây   mặc   dù   đã   sử   dụng   nhiều   phương   pháp   và  phương tiện trong dạy học bộ môn toán nhưng kết quả  cho thấy học sinh   muốn học bộ  môn toán không nhiều vì đây là bộ  môn “khô khan”, đòi hỏi  học sinh phải tư duy nhiều, qua khảo sát 350 học sinh lớp 9 của trường …,   kết quả như sau: ­ 55% 193/350 học sinh thích học toán hình. ­ 25% 85/350 học sinh thích môn toán nhưng không muốn học.  ­ 20% 72/350 học sinh không chú ý trong bài dạy môn toán hình.  2. Sự cần thiết của ứng dụng CNTT trong dạy học, thực hiện đổi mới  phương pháp giáo dục:  a.CNTT trong dạy học : Học là một quá trình thu nhận thông tin; dạy là phát thông tin và giúp  người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả, nếu nội dung bài  chỉ truyền tới người học bằng văn bản thì người học có thể  sẽ  kém hứng   2
  3. thú. Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, quá trình dạy học có thể  sử  dụng các phương tiện dạy học sau:  ­ Đèn chiếu Overhead,Video, projector.  ­ Phần mềm dạy học, sử dụng Internet.  Ở đây tôi đã ứng dụng projector trong bài giảng, dạy học với phương  tiện tôi thấy có các ưu thế sau:  ­ Giáo viên chuẩn bị một lần mà được sử dụng để giảng dạy nhiều lần.  ­ Các projector dạy học thay thế giáo viên thực hành, tăng tính năng động  cho người học.  ­ Giáo viên trình bày bài giảng sinh động, dễ  dàng cập nhật thích nghi với   sự thay đổi nhanh chóng của khoa học hiện đại.  ­ Phương tiện hỗ trợ làm tăng thêm hiệu quả đối với những bài giảng khó,  phức tạp.  ­ Học sinh không bị thụ động khi các hoạt động của giáo viên  đã chuẩn bị  ở bài giảng.  b. Vai trò của CNTT  trong dạy học :  Trong những năm trở  lại đây,  ứng dụng CNTT trong dạy học được  đẩy mạnh và đạt hiệu quả tích cực. Một trong những yếu tố dễ nhận thấy   là một giờ  học có  ứng dụng CNTT thì việc truyền đạt kiến thức ­ luyện   tập kĩ năng của giáo viên  được cải thiện, học sinh dễ tiếp thu bài học và  giờ  học sinh động, lôi cuốn các em vào bài học, chất lượng giờ học được  nâng cao. Tất cả  các môn học đều có đặc thù khác nhau, vì vậy việc vận  dụng các thiết bị  công nghệ  và phần mềm tin học cũng khác nhau nhưng   nhìn chung  ứng dụng CNTT trong dạy học là một việc làm hết sức cần  thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy học và từng bước đổi mới phương  pháp dạy học theo hướng hiện đại hoá, không những đáp ứng nhu cầu bộ  môn mà còn dần dần tạo cho Hs làm quen với phương pháp học tập hiện  đại, giáo viên cũng từng bước nâng cao kỹ  năng, nghiệp vụ  của mình để  đáp ứng với yêu cầu công tác trong thời đại mới. Trong giảng dạy bộ  môn toán, việc sử  dụng đồ  dùng dạy học trực   quan là một trong những việc làm không thể thiếu được đối với giáo viên.   Nó dùng làm điểm xuất phát cho quá trình nhận thức của học sinh để  giúp   các em lĩnh hội kiến thức mới một cách chắc chắn và có lôgíc. Vì vậy việc   sử  dụng phương tiện dạy học trực quan (qua cổng CNTT) trong các tiết  dạy là điều cần thiết. 3. Tính hiệu quả  của việc  ứng dụng CNTT vào giảng dạy bộ  môn   Toán  Trong những năm chưa có điều kiện ứng dụng CNTT trong dạy học,   thiết bị  dạy học đối với bộ  môn toán chỉ  có một số  ít tranh  ảnh phục vụ  cho việc giảng dạy bộ môn, ngoài ra đều là trang thiết bị giáo viên tự làm,   3
  4. dẫn đến  giáo viên  gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình dạy học, thực tế  do điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu thốn ; vì vậy việc phát   huy tính tích cực chủ động sáng tạo cho các em còn nhiều hạn chế. Từ khi   nhà trường đẩy mạnh  ứng dụng CNTT trong dạy học với tất cả các môn   học, dần dần chất lượng giờ  dạy được nâng cao, học sinh hứng thú hơn  với môn học và bước dầu đã đạt được những kết quả nhất định.   Với môn toán, khi được học và thực hành bằng những thiết bị  công   nghệ  và các phần mềm được ứng dụng, đa số  các em đều rất thích thú và  chất lượng thực hành cũng cao hơn hẳn. Giờ  học   được tiến hành nhẹ  nhàng hơn, lôi cuốn hơn. Các em có năng khiếu thì việc tiếp thu kiến thức  mới tốt hơn, bài học trở  nên đơn giản và chất lượng, các em chưa phát   triển được năng khiếu cũng tích cực hơn trong học tập. Đa số học sinh dần  dần yêu thích môn học hơn, việc  ứng dụng CNTT vào giảng dạy đã lôi  cuốn các em, phương pháp dạy học hiện đại đã được chứng minh qua kết   quả cụ thể.  PHẦN II : THỰC TRẠNG  VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT I.THỰC TRẠNG :  1.    Thực trạng chung:  Trước tiên chúng ta phải nhìn nhận một thực tế là học sinh ngày càng   lười môn toán, tư duy toán học ngày càng kém cỏi, đặc biệt học sinh rất sợ  học hình học. Vì vậy số  học sinh khá giỏi toán càng giảm đi để  làm tăng   thêm số  lượng lớn học sinh yếu toán. Điều này đã, đang và sẽ  còn xảy ra   mặc dù Đảng và Nhà Nước đã đầu tư  rất lớn cho giáo dục trong những   năm qua. Theo tôi, thực trạng trên xuất phát từ những nguyên nhân sau đây: ­ Một bộ phận cha mẹ học sinh bị cuốn vào vòng xoáy của cơ chế thị  trường, không quan tâm, quản lý đến việc học của con em mình. Bản thân   học sinh chưa ý thức được sự  quan trọng của việc học, còn ham chơi hơn   ham học hoặc bị cám dỗ bởi nhiều trò chơi điện tử ngoài xã hội. ­ Nội dung chương trình còn nặng so với thực tế  học sinh vùng xã,   vùng khó khăn.  ­ Phương pháp giảng dạy chậm được đổi mới, chưa phù hợp với yêu   cầu thực tế cuộc sống hiện nay là đào tạo nên những học sinh năng động,  có ý thức làm việc độc lập, những người “vừa hồng vừa chuyên”. Theo tôi trong những nguyên nhân kể  trên thì nguyên nhân thứ  ba là  một nguyên nhân đã góp phần làm cho số học sinh yếu toán ngày càng tăng   lên rất nhiều. Bởi vì với phương pháp dạy học  "thầy giảng đọc, cho trò   ghi" thì học sinh đến lớp tiếp thu một cách thụ động. Các định lí, tính chất  thầy ghi lên bảng sau đó chứng minh (có khi không chứng minh) và cho ví  4
  5. dụ áp dụng kiến thức đó, xong việc này, thầy trò vui vẻ sang việc khác. Sự  việc cứ tiếp diễn như vậy và điều đó làm cho tư duy học sinh ngày càng bị  thui chột dần, học sinh học bài sau thì quên bài trước, không nắm được dây  chuyền kết nối các kiến thức với nhau. Để khắc phục tình trạng trên, ý kiến của tôi là: đối với các học sinh  yếu, tôi tập dần cho các em biết suy nghĩ  tìm cách giải quyết một vấn đề  nào đó bằng một hệ thống câu hỏi đầy đủ, từ dễ đến khó trong giáo án của  mình trước khi lên lớp. Đây không phải là một sáng kiến gì mới mà là một   kinh nghiệm mà bản thân tôi thấy rằng: với phương pháp "hệ  thống câu  hỏi" vừa sức thì học sinh yếu từ  từ  lấy lại niềm tin khi học toán, có thể  độc lập giải quyết được những vấn đề  nhỏ, một bộ  phận lớn học sinh từ  yếu toán có thể vươn lên trung bình. 2. Thực trạng về sử dụng bài giảng điện tử của giáo viên: Hiện nay trên tất cả  các trường học tại thành phố  Pleiku, đã tiến  hành ứng dụng CNTT trong giảng dạy với tất cả các bộ môn như ở trường   Phạm Hồng Thái, Trưng Vương, Trần Phú, Nguyễn Du, Lê Văn Tám….,  qua tham khảo và học hỏi  ở một số trường bạn và qua các đợt thao giảng   liên trường, chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết giáo viên đều  ứng dụng  CNTT vào bài giảng một cách có hiệu quả.  Tuy nhiên vẫn còn có một số vấn đề bất cập trong việc sử dụng bài  giảng điện tử của giáo viên như: ­ Giáo viên chưa chú ý đến lựa chọn bài nào để sử dụng giáo án điện   tử để đạt kết quả học tập cao nhất, không phải là bài dạy nào cũng có thể  sử dụng giáo án điện tử. ­ Trong một số tiết dạy, giáo viên chọn bài để dạy bài giảng điện tử  chưa phù hợp, hoặc còn quá lạm dụng dẫn đến bài dạy chỉ mang tính trình  chiếu, không phát huy được tính tích cực của học sinh và không rèn được  kỹ năng giải toán cho học sinh. ­ Trong một số  bài vì quá lạm dụng trong việc soạn giảng bằng bài   giảng điện tử nên việc phân bố thời gian không hợp lý giữa phần lý thuyết  và phần luyện tập (có nhiều trường hợp giáo viên đi quá nhanh phần nội   dung trọng tâm của bài mà dành nhiều thời gian cho các trò chơi sau tiết  học), cụ thể là phụ thuộc quá mức vào máy tính xách tay và máy chiếu.  ­ Trình độ vi tính của một số ít giáo viên còn hạn chế, chưa tự mình  thiết kế  được các bài giảng điện tử  một cách khoa học và sáng tạo, chỉ  coppy hoặc lấy từ trên mạng Internet về để dạy, thiếu sự sáng tạo của giáo  viên và đôi khi không phù hợp với đối tượng học sinh của mình.  ­ Các phương tiện kỹ  thuật hỗ  trợ  còn thiếu nên khi soạn giáo án  điện tử  chỉ  ở mức độ  đơn giản, hình ảnh âm thanh đôi khi chưa bảo đảm  về chất lượng, làm giảm tác dụng minh hoạ. 5
  6. Bởi vậy trước đây, dư  luận đã có nhiều ý kiến phê phán tình trạng   thầy đọc, trò chép là kiểu dạy máy móc, thụ  động thì hiện nay lại xuất  hiện tình trạng mới là nhìn – chép (giáo viên ít khi nhìn vào học trò mà chủ  yếu quay mặt vào màn hình máy tính còn học sinh thì dán mắt vào màn   chiếu để chép).  Nói tóm lại, cần tránh nhầm lẫn khái niệm giáo án điện tử là các bài  trình chiếu powerpoint hoặc các phần mềm khác. Cần xác định công nghệ  thông tin là phương tiện hỗ  trợ, nhằm nâng cao chất lượng dạy học nên  hiệu quả của nó phụ  thuộc chủ yếu vào cách thức sử  dụng của giáo viên.  Từ đó giáo viên cần tránh lạm dụng công nghệ thông tin, gây phản tác dụng   như  không lựa chọn kỹ  nội dung trình chiếu, thời gian trình chiếu quá  nhiều, trình chiếu với âm thanh ồn ào và với chữ viết có mầu sắc loè loẹt,   với chữ  chạy nhảy mang tính biểu diễn kĩ thuật không cần thiết và kích  thước chữ quá nhỏ. II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH NGHIỆM : Việc  ứng dụng CNTT trong dạy học toán rất phong phú và đa dạng  tuy nhiên trong bài viết này, tôi xin minh họa bằng giáo án cho một tiết dạy  áp dụng CNTT qua bài giảng điện tử  "Diện tích hình tròn, hình quạt tròn"  tiết 54 môn hình học lớp 9. Bài dạy này tôi thiết kế  theo hướng phát huy  tính tích cực, chủ  động sáng tạo của học sinh dưới sự  hướng dẫn đúng   mức của của giáo viên nhằm hình thành nhu cầu  tự học, tạo hứng thú và   niềm tin trong học tập của học sinh qua môn hình học lớp 9. Trước đây, khi chuẩn bị bài này tôi thường làm như sau: sau khi dạy  xong bài "Độ dài đường tròn, cung tròn" tôi dặn học sinh về nhà làm bài tập  trong sách giáo khoa, dĩ nhiên là nhấn mạnh học sinh học kỹ quan hệ giữa   “Độ  dài đường tròn, cung tròn”. Đến tiết sau, tôi gọi một học sinh lên  kiểm tra miệng, tất nhiên là hỏi câu hỏi có liên quan đến việc xây dựng bài   học hôm nay, cho học sinh làm một bài tập nào đó trong sách giáo khoa và   cho các em khác bổ  sung góp ý, cuối cùng giáo viên tổng kết cho điểm và   thế là Gv và Hs  cùng sang bài mới. Khi dạy bài  "Diện tích hình tròn, hình quạt tròn"  thì   ghi sẵn các  kiến thức liên quan đến bài học lên sile trình chiếu vậy là học sinh ở dưới   lớp cứ theo những gì giáo viên hiện lên màn hình mà ghi vào vở. Sau đó, tôi   cho một bài tập áp dụng các kiến thức trên (cũng ở trên màn hình), học sinh  chỉ cần nhìn lên đó, nêu cách làm. Ưu điểm của phương pháp này là tốn rất ít thời gian xây dựng lý   thuyết. Bởi vì thầy đóng vai trò chủ động, không phụ thuộc vào học sinh. 6
  7. Nhược điểm của phương pháp này là học sinh không thấy được một   dây chuyền liên hệ giữa kiến thức cũ và mới, học sinh không chủ động tìm  tòi. Giống như  tình trạng thầy đọc trò chép trước đây, học sinh thấy kiến  thức dàn trải, không cô đọng và sau khi học xong tìm hiểu thì các em nói  cứ thuộc lòng các công thức trên một cách máy móc mà không biết gắn kết   chân lý đã biết để xác lập  chân lý mới. Dĩ nhiên là sau một thời gian ngắn,   các em sẽ quên hết các kiến thức này và chỉ nhớ những hình ảnh “bay lượn  trên màn hình” của bài học hôm đó. III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT  1.  Công tác chuẩn bị :  * Đối với giáo viên : ­ Biết soạn giảng bằng bài giảng điện tử. ­ Công tác chuẩn bị cho việc soạn bài giảng điện tử: Sưu tầm hình ảnh  minh hoạ, kiến thức bổ trợ. ­ Thiết kế  và lồng ghép các hình  ảnh vào bài giảng cho phù hợp; kiến   thức   bổ trợ phù hợp với đối tượng học sinh. * Đối với học sinh : ­ Hs tham gia tích cực cùng với giáo viên trong việc chuẩn bị bài . ­ Cùng với giáo viên sưu tầm hình ảnh minh học cho bài học. Nếu trước kia “Sử  dụng bài giảng điện tử” trong tiết dạy giáo viên  tiết kiệm được thời gian, chỉ  việc đưa những kiến thức liên quan đến bài  giảng rồi cho Hs nhìn chép, thì chẳng khác gì phương pháp dạy học giáo   viên đọc, học sinh chép sẽ không phát huy tính tích cực của các em sau mỗi  giờ  học. Vì vậy phải đòi hỏi giáo viên khi chuẩn bị  “ bài giảng điện tử  ”  phải đầu tư công phu, kỹ lưỡng hơn.  Để  phát huy tích cực của công nghệ  thông tin vào dạy học đối với   bài    “Diện tích hình tròn, hình quạt tròn ”giáo viên có thể áp dụng CNTT   dưới nhiều hình thức, ở đây tôi đưa ra hình thức sử dụng CNTT ở mức độ  minh hoạ khi cần thiết. * Thiết kế các Slides để  sử  dụng bài giảng điện tử  ở  mức độ  minh   hoạ khi cần thiết, giáo viên có thể áp dụng ở các phần sau: ­  Phần khởi động  : Giới thiệu bài mới, đây là phần rất quan trọng  nhằm gây hứng thú cho học sinh trước khi vào bài học. Vì vậy giáo viên có  thể  kết hợp kiểm tra kiến thức cũ hoặc kiến thức có liên quan để  đưa ra  câu hỏi, bài tập trắc nghiệm chọn đúng sai cho học sinh trả lời hoặc có thể  dùng những hình ảnh để giới thiệu bài một cách trực quan sinh động. ­ Phần nội dung bài dạy: Đây là phần cung cấp nội dung kiến thức  trọng tâm của bài, yêu cầu giáo viên phải thiết kế  giáo án, sử  dụng hình  7
  8. ảnh hoặc kiến thức bổ trợ sao cho phù hợp với đối tượng học sinh. Tránh  hiện tượng lạm dụng việc trình chiếu để đưa quá nhiều kiến thức lên màn  hình, hoặc quá nhiều hình ảnh không cần thiết, làm cho kiến thức dàn trải,   không xác định được trọng tâm của bài. ­ Phần củng cố kiến thức: đây là phần giúp giáo viên và học sinh hệ  thống lại kiến thức trọng tâm đã học trong bài. Giáo viên có thể  sử  dụng  giáo án điện tử để hệ thống hoá kiến thức, nhấn mạnh nội dung cần học.   Giáo viên có thể thiết kế một số câu hỏi nhỏ để học sinh lựa chọn đáp án  đúng ­ sai, hoặc có thể  tổ  chức củng cố  kiến thức bằng những trò chơi ô   chữ, hái hoa dân chủ… qua đó giúp học sinh nắm chắc kiến thức bài. Trong việc dạy học bằng bài giảng điện tử, kiến thức được truyền  đến   học   sinh   dưới   dạng   hình   ảnh,   âm   thanh…tuy   nhiên   việc   sử   dụng  phương tiện truyền thống “ Phấn trắng bảng đen” thật ra vẫn cần thiết. Vậy làm thế nào để chuẩn bị bài dạy cho tốt đó là điều trăn trở của   mỗi giáo viên. Dạy tốt mỗi nội dung kiến thức chính là góp phần vào việc   hình thành tư duy, năng lực sáng tạo nhất định cho học sinh theo như mục   tiêu môn học đề ra.  Tóm lại, phương tiện dạy học bộ  môn toán rất phong phú và đa  dạng, có cả những phương tiện dạy học truyền thống và phương tiện dạy   học hiện đại. Xu hướng hiện nay, người dạy học sử dụng nhiều phương   tiện dạy học hiện đại hơn như  máy chiếu, đầu video, băng hình...Việc sử  dụng các phương tiện dạy học hiện đại kết hợp với phương tiện dạy học   truyền thống đem lại nhiều thuận lợi trong quá trình giảng dạy cho cả giáo  viên và học sinh, đặc biệt là đối với bộ môn hình học lớp 9.       2) Bài soạn minh họa  Bài “ Diện tích hình tròn, hình quạt tròn” Bước 1 : Cho học sinh chuẩn bị ở nhà các yêu cầu sau đây : 1: Nắm chắc các công thức tính độ dài đường tròn, cung tròn. 2: Ôn lại công thức tính diện tích hình tròn đã học ở lớp dưới. 3: Tìm hiểu một số vật dụng trong thực tế có dạng hình quạt tròn. Bước 2 : Giáo viên và học sinh thực hiện tại lớp. Phần 1 . Kiểm tra bài cũ Gọi Hs lên bảng thực hiện các yêu cầu sau : Câu 1:Hãy nêu công thức tính độ  dài đường tròn và công thức tính độ  dài  cung tròn ?  Câu 2 :Cho hình vẽ hãy tính độ dài cung AmB với bán kính 6 cm ? m Giải:   Ta có ta có  sđ ᄐAmB  =  ᄐAOB ( Đ/ n góc ở tâm ) A B 0 0 0  do đó sđ ᄐAmB  =120    nên n  = 120     120 π Rn 3,14.6.120 O  Độ dài cung AmB  là:   l ᄐAmB = 12,56 (cm) 180 180 8
  9. Sau khi Hs thực hiện xong, giáo viên gọi Hs khác nhận xét, sửa sai,   Gv đặt vấn đề vào bài : Trong tiết học trước các em đã được học cách tính độ  dài đường   tròn và độ dài cung tròn . Vậy hình mà bạn vừa làm trong phần KTBC, các   em xem hình này giống vật gì trong thực tế  ?( Gv chỉ  vào hình vẽ  trên   bảng). Trong  tiết học hôm nay trên cơ sở diện tích hình tròn ta đi  tìm hiểu   cách tính diện tích của hình quạt tròn. 2.Bài mới  Hoạt động 1: Tìm hiểu công thức tính diện tích   1­  Công   thức   tính  hình tròn. diện tích hình tròn:  Cho hình tròn tâm O bán kính R (Gv trình  chiếu)                H : Em hãy nêu công thức tính diện tích hình tròn  R O mà em đã biết ?   công thức tính diện tích hình tròn là   S =  R 2 S =  π . R2  Hình 58 H :  Vậy theo công thức để  tính được diện tích  S = π R2 hình tròn ta cần biết đại lượng nào ? (   S:   diện   tích   hình  H :  Vận dụng công thức hãy tính diện tích hình  tròn bán kính R) tròn biết bán kính đường tròn bằng 3 cm ?(S= π R2=  π 32   9.3,14= 28,36 (cm2))  Hs lên bảng thực hiện .  Gv :   Cho Hs quan sát lại bài sửa trên đèn chiếu.  Gv :    Như vậy từ công thức S = π R2   để tính diện   tích hình tròn ta cần biết bán kính của  đường   tròn đó – Vậy nếu biết diện tích hình tròn ta có   thể   tính   được   bán   kính   của   hình   tròn   đó   hay   S không ? *) Lưu ý :  Từ  S = π R2      R =  π Trên cơ  sở  các em đã nắm được công thức tính  diện tích hình tròn bây giờ chúng ta cùng tìm hiểu  2 ­Cách tính diện tích  hình quạt tròn là hình như  thế  nào và cách tính  hình quạt tròn diện tích của nó ra sao ta cùng sang mục 2  Hoạt   động   2:  Cách   tính   diện   tích   hình   quạt   Hình quạt tròn : Sgk tròn A R ­ Giáo viên chỉ  vào hình vẽ  từ  phần kiểm tra bài  n0 O cũ ( trên đèn chiếu ) B Như  các em đã biết    hình này là hình quạt tròn   Hình 59 vậy các em nghiên cứu Sgk và cho biết hình quạt   tròn là hình như thế nào  Gv  : Hình quạt tròn là một phần hình tròn giới  9
  10. hạn bởi một cung tròn và hai bán kính đi qua hai  mút của cung đó . Bây giờ các em cùng cô quan sát một số vật dụng   trong thực tế có dạng hình quạt tròn. Gv : Đưa lên màn hình một số vật dụng trong  thực tế có dạng hình quạt tròn.  ?.Sgk  Kết   quả   lần  lượt   là:   π R2;   π R 2  π R 2 n ; Gv: Để thiết lập được 360 360  công thức tính diện tích  hình quạt tròn  ta cùng  thực hiện ? *)Giáo viên cho đề  ? . Sgk (trình chiếu ) Công thức: ­  HS đọc đề bài ? Sgk. Sau đó gọi học sinh điền  kết quả trên phiếu học tập. Ta   có   công   thức   tính   diện   tích   quạt   tròn   là  πR 2 n S =  (1)  π R 2 n 360 S =     khi biết số  đo độ  cung và   bán kính  lR 360 hay S =  (2) 2 quạt. Vậy nếu chỉ  biết độ  dài cung và bán kính  (l   là   độ   dài   cung   n0  quạt tròn thì liệu ta có tính được diện tích của  của hình quạt tròn) quạt tròn không ?  π R 2 n π R.n R R l.R Ta biến đổi S  =   =   =  l   =    360 180 2 2 2 H : Vậy diện tích quạt tròn còn được tính thông  qua độ dài cung như thế nào ? Gv : Vậy để tính diện tích quạt tròn khi biết bán  kính quạt tròn và số đo độ của cung ta dùng công   π R 2 n thức S =  , còn nếu biết bán kính quạt tròn  360 l.R và độ dài cung ta dùng công thức  S =  2 Vận dụng kiến thức vừa học cả  lớp hãy :  Tính   diện tích hình quạt tròn trong phần kiểm tra bài   cũ với bán kính 6cm. HS đọc đề  bài. Gọi 1 học sinh tóm tắt đề  bài –   Gv ghi bảng. Gv : Gọi 1 học sinh  lên bảng trình bày bài giải. Tóm tắt : R = 6 cm                  ᄐAOB  =120 0                    S = ? 10
  11. Giải  : ta có  sđ ᄐAmB  =  ᄐAOB ( Đ/ n góc ở tâm )  do đó sđ ᄐAmB  =120 0  nên n0 = 120 0   Diện  tích hình quạt tròn là: π R 2 n π .62.120 3,14.36.120 S= = 37, 68(cm 2 ) 360 360 360 Ngoài cách tính này, chúng ta còn có cách làm  nào khác ?  l.R ( dùng công thức S =   ) 2 Gv : Như vậy để  tính diện tích hình quạt tròn ta   cần biết những yếu tố nào ? ( bán kính và số  đo   độ cung hoặc độ dài cung và bán kính quạt tròn)  Vì vậy khi thực hiện tính toán các em cần biết  vận dụng linh hoạt các công thức đã học.   π R 2 n S .360 Từ  S  =      R =     . Mà R > 0 nên  360 π .n S .360 R =  π .n  π R 2 n H :Tương tự  từ  công thức S  =   ta suy ra n  360 = ?  π R 2 n S .360 l.R S  =     n =   2   Ngoài   ra   từ     S   =     360 π .R 2 2S 2S �l =  và  R = R l 3 . Luyện tập củng cố : Gv : Cho Hs quan sát đống đá dăm trên màn hình.  Gv :   Giới thiệu Chân đống đá dăm đổ trên một  nền nằm ngang là một hình tròn. Nêu một vài cách  để xác định diện tích của phần mặt bằng bị đống đá  chiếm chỗ ? Gv gợi ý : Ta có cần dời đống đá đi để đo bán kính không ? Hs hoạt động theo nhóm tìm cách để xác định diện tích của phần mặt bằng   bị đống đá chiếm chỗ . Gv : Gọi Hs đại diện nhóm trình bày cách thực hiện. Gv Hd :Để tính diện tích hình tròn ta cần biết đại lượng nào ? Vậy để tìm  bán kính R ta làm thế nào ?   C       1 ­ Đo chu vi đáy C suy ra bán kính đáy R , rồi từ  C = 2 π R      R =    2π      2 ­ Tính S từ công thức S = π R2     Hs áp dụng kiến thức vừa học làm bài 78.Sgk 11
  12. Tóm tắt :  C = 12 m                                              S = ?                    C 12 6 Giải :  Từ C = 2 .  π .R    R =   =   =  2π 2π π Diện tích chân đống cát là : 6 36 36 36            Vậy  S =  π .R2 =  π .( )2 =  π .  2  =      11,5 ( m2 )  π π π 3,14 Vậy chân đống cát chiếm diện tích gần bằng 11,5   m2  Bài 82 trang 99 Sgk : Phần thi “đi tìm tài liệu bí hiểm”  Dưới đây là một mẩu giấy duy nhất còn sót lại của một tài liệu, em hãy  khôi phục chúng bằng cách tính và điền vào ô trống trong bảng sau (Làm  tròn kết quả đến chữ số thập phân thứ nhất).  Bán kính Độ dài Diện tích Số đo của Diện tích  đường tròn  đường tròn  hình  cung tròn  hình quạt  o (R) (C) tròn(S) (n ) tròn (Sq) o a) 13,2 cm 47,5 b) 2,5 cm 12,50 cm2 c) 37,8 cm2 10,60 cm2  Chia lớp thành 2 nhóm ­ Hs hoạt động theo nhóm làm bài tập trên  Gv: Yêu cầu đại diện nhóm nêu cách tính ?  Gv: Hd sửa sai ­ Sau đó yêu cầu Hs nhắc lại công thức tính diện tích hình   tròn và công thức tính diện tích quạt tròn ?                    4 .Hướng dẫn về nhà ­Học bài và làm bài tập:  78, 80, 83 /98, 99 Sgk . ­Hd bài 80.Sgk ( trên màn hình trình chiếu­ xem hình bên dưới) H : Các con dê di chuyển khi căng hết độ dài dây sẽ tạo nên hình gì?  Gv minh hoạ qua hình v A 30m ẽ : 10m B A 20m 20m B 10m 30m 20m 20m 12 D C D C
  13. H:  Hãy nhận xét về diện tích cỏ của mỗi con dê có thể ăn được trong cách  buộc thứ  nhất? Diện tích cỏ  có thể  ăn được của con dê buộc  ở  A? Diện   tích cỏ có thể ăn được của con dê buộc ở B? H:Từ  đó suy ra diện tích cỏ  của cả  hai con dê có thể  ăn được trong cách  buộc thứ nhất  ?  Tương tự  tính diện tích cỏ  có thể  ăn được của cả  hai con dê trong cách  buộc thứ hai? H : Vậy cách buộc nào diện tích cỏ có thể ăn được của hai con dê lớn hơn? *) Chuyển biến của sự việc :          ­ Không khí lớp học rất sinh động, hoạt động của giáo viên và học  sinh trên lớp, diễn ra sôi nổi, liên tục. Hầu hết các em chú ý vào việc trả lời   hệ  thống câu hỏi của giáo viên đặt ra. Có một số  ít học sinh lơ  là, không  suy nghĩ  khi giáo viên đặt câu hỏi, nguyên nhân là không chuẩn bị trước ở  nhà những yêu cầu đã dặn dò ở tiết trước, bộ phận này nhỏ và giáo viên có  thể khắc phục dần.         ­ Học sinh nắm được nguồn gốc của vấn đề, hiểu được tại sao có  được công thức và tính chất đó. Từ  đó khi xem và học bài lại  ở  nhà rất  nhanh thuộc và khó quên.         ­ Học sinh nắm được liên hệ  dây chuyền trong hệ  thống kiến thức   của bài, hiểu được một vấn đề có được là do những nguyên nhân nào. Dần   dần các học sinh yếu, trung bình khắc phục được thói quen thụ  động và  không thấy chán học môn hình nữa. ­ Kiến thức đưa ra cô đọng, nội dung bài học được trình bày khoa  học bên phần bảng đen giúp học sinh xâu chuỗi được kiến thức, nắm được  nội dung bài học. 13
  14. PHẦN III :  KẾT QUẢ VÀ VIỆC PHỔ BIẾN  ỨNG DỤNG NỘI DUNG VÀO THỰC TIỄN  I.KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC : Bằng phương pháp nêu vấn đề  và dựa trên cơ  sở  lấy học sinh làm  trung tâm , mục đích của tôi là để học sinh tự suy nghĩ, tìm ra phương pháp  giải toán có liên quan đến việc vận dụng các kiến thức đã học. Tôi không  còn chú ý đến việc học sinh được giải nhiều hay giải ít bài tập mà tôi đã   lựa chọn, đưa nội dung kiến thức phù hợp, sắp xếp các dạng bài tập theo   một thứ tự có liên quan logic các nội dung, kiến thức cần giải quyết. Trong quá trình dạy học tôi đóng vai trò là trọng tài tổ  chức cho học  sinh tìm kiến thức cơ  bản nhất, tìm phương pháp giải toán tối  ưu nhất  thông qua hệ  thống câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu. Tôi  giúp học sinh đặt câu  hỏi khi gặp khó khăn như  quên kiến thức, không xác định được phương  pháp giải toán nhằm bộc lộ quá trình tư duy của học sinh. Đặc biệt hơn tôi  luôn thay đổi hình thức tổ chức giữa các hoạt động để tránh sự nhàm chán  và gây hứng thú cho học sinh trong suốt tiết học...              Phương pháp mới này đã tạo một môi trường học tập sôi nổi, các  em là người suy nghĩ  giải quyết vấn đề  dưới những câu hỏi có hệ  thống   của giáo viên cho dù có thể mất nhiều thời gian. Việc sử  dụng bài giảng điện tử  phù hợp loại bài, nội dung trình  chiếu hợp lý cùng với kỹ  năng sử  dụng vi tính nhuần nhuyễn qua việc áp  dụng đề tài trong những năm học qua tôi đã thu được một số kết quả như  sau : ­Học sinh hứng thú với môn học, không còn cảm thấy “sợ ” học hình  như trước nữa. ­ Khắc sâu được nội dung trọng tâm của bài nhưng vẫn đảm bảo  được chuẩn kiến thức, kỹ  năng của bài học, có nhiều điều kiện rèn kỹ  năng cho học sinh nhờ ứng dụng CNTT. Thống kê kết quả khảo sát sau bài học. Lớ TS Điểm Điểm Điểm Điểm Điểm Trên TB p Từ   0  Từ   3.25  Từ   5,0  Từ   6,25  Từ   8,0  TS % đến 3,25 đến 4,75 đến 6,25 đến 7, 75  đến 10 9/1 42 5 11 16 10 37 88.1 9/2 43 4 11 18 9 39 90.1 Qua bảng thống kê ta thấy việc tiếp thu và vận dụng kiến thức đã  học của học sinh tương đối tốt.         14
  15. II.BÀI HỌC KINH NGHIỆM : *)Đối với bản thân : Sau quá trình tìm tòi, lựa chọn phương pháp để  áp dụng vào giảng  dạy  ứng dụng CNTT tôi đã rút ra được bài học kinh nghiệm cho bản thân   như sau: ­ Trước khi tiến hành với phương pháp này, giáo viên tự  đặt mình  vào vị trí của học sinh, từ đó đầu tư  tìm tòi hệ  thống câu hỏi vừa sức cho   các em, kết hợp phương pháp dạy học truyền thống và dạy học bằng bài  giảng bài giảng  điện tử. Hệ thống câu hỏi này kích thích được tư duy của  học sinh.  ­ Thiết kế  bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lý hoạt động của giáo  viên và học sinh, thiết kế hệ thống câu hỏi hợp lý, tập trung vào trọng tâm,   vừa sức tiếp thu của học sinh (nhất là đối với bài dài, bài khó, nhiều kiến   thức mới); bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến   thức đã học, tránh thiên về  ghi nhớ  máy móc không nắm vững bản chất  kiến thức. ­ Sử  dụng ngôn ngữ  chuẩn xác, sinh động, dễ  hiểu, tác phong thân  thiện, coi trọng việc khuyến khích, động viên học sinh học tập, tổ  chức  hợp lý cho học sinh làm việc cá nhân và theo nhóm. ­ Dạy học sát đối tượng, coi trọng việc bồi dưỡng học sinh khá giỏi  và giúp đỡ học sinh học lực yếu kém. ­ Phải nhìn rõ được các nét điển hình trong dạy học toán. Bởi vì dạy  học toán là dạy hoạt động toán học, do đó giáo viên cần phải hiểu rõ: Dạy   học toán  ứng dụng CNTT không phải là đưa hết tất cả  các kiến thức, rót   kiến thức vào học sinh mà chủ yếu là quá trình giáo viên thiết kế, tổ chức,  điều khiển các hoạt động của học sinh theo chuẩn kiến thức kỹ năng của  bài học, đặc biệt phải biết kết hợp phương pháp dạy học hiện đại (qua   việc  ứng dụng CNTT) và phương pháp truyền thống “phấn trắng bảng   đen” không phải đưa tất cả nội dung bài học lên màn hình trình chiếu. ­ Cần chuẩn bị kỹ hệ thống bài tập và câu hỏi nhằm gieo tình huống,   hướng dẫn từng bước cách giải quyết vấn đề phù hợp từng loại đối tượng   học sinh. ­ Nội dung bài dạy, kiến thức được đưa ra cần lựa chọn để  ưu tiên  cho học sinh đại trà tương  ứng với yêu cầu tối thiểu của bài học, bởi vì  học sinh đại trà thường chiếm đa số  trong lớp học. Tuy nhiên vẫn phải có   những bài tập có yêu cầu cao hơn cho học sinh khá, giỏi giúp học sinh biết   quá trình sáng tạo trong việc vận dụng công thức hay định lí, định nghĩa, ...  vào việc giải toán. Từ đó học sinh có niềm tin vào khả  năng toán học của   mình.  Ở  sau mỗi kiến thức đưa ra ngoài những kiến thức kĩ năng mà học  sinh đạt được giáo viên cần phải chú ý nhiều đến việc hình thành kĩ năng  15
  16. vận dụng kiến thức đã học vào giải toán. Giáo viên phải biết khai thác để  học sinh tự phát hiện và giải quyết một cách chủ động sáng tạo các vấn đề  có liên quan đến mỗi dạng bài tập. ­ Đối với tiết dạy bằng “bài giảng điện tử”, mỗi bài dạy, mỗi tiết   dạy đều có những nét chung, nét riêng cần chú ý, không tiết nào giống tiết  nào nên giáo viên không được vận dụng một phương pháp nào đó một cách  máy móc. Nội dung của tiết dạy bằng “bài giảng điện tử” cần được giáo  viên lựa chọn kĩ, không tham lam đưa ra giải nhiều bài tập để  có đủ  thời  gian cho học sinh thực hiện các hoạt động học tập như: Tìm hiểu, phân tích   bài toán, tìm chuẩn kiến thức liên quan để định hướng giải toán, rèn kĩ năng  vẽ  hình, cách vẽ  đường phụ, trình bày lời giải ... Giáo viên cần biết định  dạng, chọn lọc kiến thức để  hướng dẫn học sinh cách học, cách giải toán  tránh thông báo kết quả đúng, sai sau khi học sinh lên bảng giải bài tập.  ­ Việc thực hành đổi mới phương pháp không chỉ  là áp dụng một   phương pháp, một cách tổ  chức hoạt động học tập của học sinh để  phát  huy tính tích cực của học sinh mà đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải biết lựa  chọn một số  phương pháp nhất định để  truyền thụ    lượng kiến thức có  chọn lọc, mang tính chất trọng tâm của bài học cho học sinh. Giúp cho các  em hiểu và nắm chắc kiến thức, nhằm vận dụng tốt vào việc thực hành.   Đặc biệt trong quá trình dạy học theo hướng tích cực và tích hợp, giáo viên  chúng ta cần vận dụng khéo léo hình thức tổ  chức học sinh học tập theo  nhóm để  rèn cho các em thói quen học và chuẩn bị  bài kĩ  ở  nhà tr ước khi  đến lớp. Tạo điều kiện cho các em tư duy tích cực, sáng tạo, hăng hái phát  biểu ý kiến, tham gia tranh luận sôi nổi có kết quả tạo được niềm hứng thú  say mê cho các em trong giờ học.            ­ Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong dạy học. Đối với tổ, nhóm   chuyên môn nên chọn chuyên đề, bài giảng, giáo án điện tử  phù hợp với   đối tượng học sinh . ­  Ứng dụng CNTT, giảng dạy với “ bài giảng điện tử” có thể  áp   dụng trong tất cả  các bộ  môn,  ở  các khối lớp với các dạng bài dạy khác  nhau tuy nhiên phông phải bài dạy nào cũng có thể dùng bài giảng điện tử.   Vì vậy việc  ứng dụng CNTT trong bài dạy đòi hỏi mỗi giáo viên cần vận  dụng và phát huy hết tác dụng thật sự  của nó, để  sau mỗi tiết học “bài  giảng điện tử” như  là nguồn để  học sinh khai thác, tìm kiếm và phát hiện  những kiến thức, kỹ năng thực sự bổ ích. * Đối với học sinh :           Hình thành một phương pháp học tập mới, thay thế dần lối học thụ  động, máy móc nhìn chép.           Học sinh lấy lại được niềm tin khi chính bản thân mình giải quyết  được một vấn đề dù là vấn đề nhỏ. 16
  17.           Nâng dần khả năng suy luận lôgic của học sinh. Biết giải thích một  vấn đề nhỏ từ những chân lý đã biết. III. KẾT LUẬN :   Hiện nay sự nghiệp giáo dục – đào tạo của đất nước đang có những  cơ hội để phát triển. Chưa bao giờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với  giáo dục lớn như bây giờ. Phó Thủ tướng, nguyên bộ trưởng Bộ GD & ĐT   Nguyễn Thiện Nhân cũng tha thiết căn dặn :“ Mỗi thầy cô giáo phải là một   tấm gương sáng về đạo đức, tấm gương sáng về  tự  học và sáng tạo”. Đó  là những luận điểm vô cùng quan trọng để  mỗi thầy cô giáo vận dụng,  phấn đấu, nhằm mục đích cuối cùng là đào tạo cho đất nước những thế hệ  công dân tốt nhất vai trò của đôi ngũ nhà giáo được đề cao hơn bao giờ hết.   Dạy học là một nghề  vinh quang, và vinh quang chỉ  đến khi mỗi nhà giáo  thực sự là tấm gương sáng về đạo đức, bậc thầy thực sự về kiến thức đối   với người đi học. Ngành giáo dục thành phố  Pleiku, trong những năm vừa qua, đã và   đang khởi sắc, hoà nhịp chung cùng sự đổi mới của giáo dục cả nước. Đầu   tư về  cơ sở  vật chất, trang thiết bị dạy học, quan tâm sâu sát đến đội ngũ  giáo viên, khơi dạy ý thức trách nhiệm, lòng nhiệt tình và nâng cao năng lực  hành động của đội ngũ các nhà giáo. Với quyết tâm đổi mới trong giáo dục,   nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ  giáo viên chúng ta cần  phải đầu tư hơn nữa đến công tác dạy học của mình. Làm thế nào để nâng   cao chất lượng giáo dục của đơn vị  mình nói riêng, ngành giáo dục Pleiku   nói chung. Rất mong sự góp ý, giúp đỡ của quý thầy cô giáo, bạn đọc để đề tài  này thực sự hấp dẫn và có hiệu quả khi đến với các em học sinh. Xin chân thành cảm ơn ! 17
  18. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phan Đức Chính , Sách giáo khoa toán 9, NXB Giáo Dục, 2004. 2. Phan Đức Chính , Sách giáo viên toán 9, NXB Giáo Dục, 2005. 3. Tạp chí toán tuổi thơ. 4. Tập san báo giáo dục thời đại. 5.  500 bài toán cơ bản và nâng cao THCS toán 9.(Nhà xuất bản Đại Học  Sư Phạm) 6. Tài liệu tập huấn “Phương pháp dạy học toán học phổ  thông"của bộ  Giáo dục và đào tạo. 7. Bộ  giáo dục đào tạo, Tài liệu tập huấn giáo viên “dạy học, kiểm tra   đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ  năng trong chương trình giáo dục   phổ thông”, tháng 7 năm 2010. 8. Phạm Đức Tài, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ  năng môn  toán trung học cơ sở, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam. 9. Trang   điện   tử  http://www.violet.vn  ;  http://www.bachkim.vn  ;  http://www.edu.vn ; 18
  19. MỤC LỤC                                                                                                                     Tran g  PHẦN I: Đặt vấn đề ……………………………………………..…….. ……………..1 I. Cơ sở lý luận............................................................................................….1 II. Cơ sở thực tiễn............................................................................................2 1. Kết quả của học sinh khi chưa áp dụng CNTT .........................................2 2. Sự cần thiết của việc ứng dụng CNTT .....................................................3 3. Tính hiệu quả của ứng dụng CNTT............................................................3 PHẦN II.  Thực trạng và một số biện pháp giải quyết...........................3 I. Thực trạng  ...................................................................................................4 1. Thực trạng chung.........................................................................................4 2. Thực trạng về sử dụng bài giảng điện tử của giáo viên  ........................ 4 II. Quá trình phát triển kinh nghiệm................................................................5 III. Một số biện pháp giải quyết.................................................................... 6 1. Công tác chuẩn bị........................................................................................ 6 2. Bài soạn minh hoạ...................................................................................... 7 19
  20. PHẦN III: Kết quả và việc phổ biến ứng dụng nội dung vào thực  tiễn …13 I. Kết quả đạt được ..................................................................................…13 II.Bài học kinh nghiệm………………….…………..………………………  13 III. Kết luận ………………………………………………………….……..  15 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2