intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu cấp máu cho vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu

Chia sẻ: ViNasa2711 ViNasa2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

27
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu ngày càng được sử dụng phổ biến trong tái tạo vú với ưu điểm làm hạn chế tối thiểu tổn thương nơi cho vạt. Việc bộc lộ các nhánh xuyên vẫn còn là thách thức đối với các phẫu thuật viên. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm giải phẫu của các nhánh xuyên cấp máu cho vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu cấp máu cho vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu

Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 1 * 2018<br /> <br /> <br /> NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU CẤP MÁU CHO VẠT NHÁNH<br /> XUYÊN ĐỘNG MẠCH THƯỢNG VỊ DƯỚI SÂU<br /> Nguyễn Văn Phùng*, Vũ Quang Vinh**, Trần Vân Anh**<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mở đầu: Vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu ngày càng được sử dụng phổ biến trong tái tạo<br /> vú với ưu điểm làm hạn chế tối thiểu tổn thương nơi cho vạt. Việc bộc lộ các nhánh xuyên vẫn còn là thách thức<br /> đối với các phẫu thuật viên.<br /> Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm giải phẫu của các nhánh xuyên cấp máu cho vạt da nhánh xuyên động mạch<br /> thượng vị dưới sâu.<br /> Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Tiến hành nghiên cứu ở 40 vạt trên 20 xác tươi, bộc lộ động mạch<br /> thương vị dưới sâu, bơm thuốc màu trộn lẫn xanh methylen và barisulphate. Sau 24 giờ tiến hành bóc vạt, khảo<br /> sát các đặc điểm của bó mạch thượng vị dưới sâu và các nhánh xuyên.<br /> Kết quả: Có 177 nhánh xuyên trên 40 vạt, trung bình 4,4 nhánh xuyên / 1 vạt. Ở hàng trong có 106<br /> (59,9%) nhánh xuyên, trong đó có 84 (79,3%) nhánh xuyên chéo. Ở hàng ngoài có 71 (40,1%) nhánh xuyên,<br /> trong đó có 51 (71,8%) nhánh xuyên thẳng. Có 111 (63,7%) nhánh xuyên nằm trong khoãng 10 – 40 mm tính từ<br /> rốn. Các nhánh xuyên trội có chiều dài trung bình là 44,3 ± 13,8 mm và đường kính trung bình là 1 ± 0,1 mm.<br /> Kết luận: Việc hiểu rõ các đặc điểm giải phẫu của các nhánh xuyên có thể giúp cho phẫu thuật viên nâng vạt<br /> nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu một cách an toàn hơn. Các nhánh xuyên xếp thành 2 hàng phía<br /> trước cân cơ thẳng bụng: hàng trong và hàng ngoài. Các nhánh xuyên có hướng xuyên thẳng thường là ở hàng<br /> ngoài và dễ phẫu tích bộc lộ hơn so với các nhánh xuyên có hướng xuyên chéo. Nhánh xuyên có kích thước lớn<br /> nhất của mỗi động mạch thượng vị dưới sâu thường cách rốn từ 15 – 40 mm.<br /> Từ khóa: Nhánh xuyên, động mạch thượng vị dưới sâu, tái tạo vú<br /> ABSTRACT<br /> DEEP INFERIOR EPIGASTRIC PERFORATOR FLAP: AN ANATOMICAL STUDY OF<br /> THE PERFORATORS<br /> Nguyen Van Phung, Vu Quang Vinh, Tran Van Anh<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Supplement Vol. 22 - No 1- 2018: 118 - 123<br /> <br /> Background – Objectives: Deep inferior epigastric artery perforator flaps have become popular worldwide<br /> in breast reconstruction to reduce done site morbidity. Isolating perforator vessels challenges most surgeons. The<br /> purpose of study was to investigate anatomical vascular of the deep inferior epigastric perforator flap.<br /> Method: 40 flaps were harvested from 20 fresh adult cadavers. The deep inferior epigastric artery and its<br /> perforators were dissected and canularization. Barium sulfate 30% v/w diluted and mixed with blue methylen was<br /> injected. Determine details such as perforator size, location and measurements in relation to the umbilicus.<br /> Results: 177 perforator vessels dissected from 40 flaps, average 4.4/1 flap. 106 (59.9%) perforators in a<br /> medial row with 84 (79.3%) perforators was oblique course. 71 (40.1%) perforators in a lateral row with 51<br /> (71,8%) was rectilinear course. 111 (63,7%) perforators located in a distance of 10 – 40 mm from the umbilicus.<br /> The average length and diameter of the dominant perforators was 44.3 ± 13.8 mm and 1 ± 0.1 mm.<br /> <br /> *<br /> Bộ môn TH – TM ĐHYD TP. HCM, ** Khoa Phẫu thuật Tạo hình - Thẩm mỹ, Viện Bỏng Quốc gia<br /> Tác giả liên lạc: ThS. BS Nguyễn Văn Phùng ĐT: 0902.727.138 Email: ngvaph@gmail.com<br /> <br /> 118 Chuyên Đề Ngoại Khoa<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 1 * 2018 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Conclusion: Understanding the morphological characteristics of the perforator can aid the surgeon in more<br /> harvesting safety the deep inferior epigastric artery perforator flap. Two vertical rows of perforator vessels were<br /> observed along the anterior rectus abdominal sheath: medial row and lateral row. The perforator presents a<br /> rectilinear course usually was in lateral row and easy dissection than the perforator presents an oblique course.<br /> The dominant perforators usually located in a distance of 15 – 40 mm from the umbilicus.<br /> Key words: DIEP flap, breast reconstruction.<br /> MỞ ĐẦU thượng vị dưới sâu. Thuốc cản quang barium<br /> sulfate 30% v/w và thuốc màu được trộn lẫn và<br /> Vạt da vùng bụng (VDVB) là nguồn cung bơm vào động mạch thượng vị dưới sâu, xác<br /> cấp vật liệu thay thế dồi dào trong phẫu thuật được bảo quản lạnh. Sau 24 giờ tiến hành bóc<br /> tạo hình với đặc tính là mẫu mô có chất lượng, tách nâng vạt da hình trám ở thành bụng từ giới<br /> khối lượng mô lớn và mật độ mô khá mềm mại.<br /> hạn trên của rốn đến phía trên 2 gai chậu trước<br /> Đặc biệt đối với các bệnh nhân ung thư vú<br /> trên, vạt được bóc tách đến lớp cân nông, từ<br /> thường ở độ tuổi có sự dư thừa da và mỡ vùng ngoài vào trong. Phẫu tích bộc lộ các nhánh<br /> thành bụng nên các vạt da vùng bụng trở thành xuyên dưới kính lúp phóng đại 3,5 lần, mở bao<br /> nguồn cung cấp vật liệu lý tưởng trong tái tạo trước cân cơ thẳng bụng, tách dọc các thớ cơ bộc<br /> vú. Việc sử dụng các vạt da vùng bụng dựa trên lộ bó mạch thượng vị dưới sâu.<br /> nguồn cấp máu là các nhánh xuyên thay vì sử<br /> Ghi nhận các thông số: Nguyên uỷ, sự phân<br /> dụng vạt da – cơ như vạt da – cơ thẳng bụng đã<br /> nhánh, đường kính tại gốc, chiều dài từ nguyên<br /> trở thành xu hướng phổ biến trong vài thập niên<br /> ủy đến nơi phân nhánh và đến nhánh xuyên trội<br /> trở lại đây với ưu điểm nổi bật là giảm tổn<br /> nhất của động mạch thượng vị dưới sâu. Số<br /> thương tối thiểu nơi cho vạt. Tuy vậy việc xác<br /> lượng nhánh xuyên, đường kính tại gốc, chiều<br /> định và phẫu tích bộc lộ các nhánh xuyên vẫn<br /> dài, vị trí của các nhánh xuyên so với rốn (trục X,<br /> còn là thách thức đối với các phẫu thuật viên, do<br /> trục Y). Hướng đi, hành trình của nhánh xuyên<br /> còn có những bất thường và những khác nhau<br /> trong cơ và dưới cân.<br /> trong giải phẫu ở người này và người khác, thậm<br /> chí giữa bên này và bên kia trên cùng cơ thể. Chụp ảnh, chụp X quang hình ảnh các vạt.<br /> Nghiên cứu của chúng tôi nhằm mục tiêu khảo Các số liệu được xử lý theo phương pháp<br /> sát đặc điểm giải phẫu của các nhánh xuyên cấp thống kê Y học.<br /> máu cho vạt da nhánh xuyên động mạch thượng KẾT QUẢ<br /> vị dưới sâu ở người Việt Nam trưởng thành, từ<br /> đó có thể giúp ích cho các phẫu thuật viên trong Động mạch thượng vị dưới sâu<br /> quá trình nâng vạt trên lâm sàng. Trên tất cả 20 thi thể được phẫu tích, mỗi bên<br /> đều có một động mạch thượng vị dưới sâu<br /> ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU<br /> (ĐMTVDS) và tất cả đều xuất phát từ động mạch<br /> Đối tượng nghiên cứu chậu ngoài. Từ đây động mạch đi hơi chếch<br /> Nghiên cứu tiến hành trên 20 thi thể tươi xuống dưới rồi quặt lên trên vào trong phía sau<br /> người Việt Nam trưởng thành tại Bộ môn Giải mạc ngang sau đó chui qua mạc ngang đi vào<br /> phẫu, Trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh bao cơ thẳng bụng. Sau khi chui qua bao cơ<br /> từ tháng 11/2011 đến 1/2016. thẳng bụng, phần lớn động mạch tiếp tục chạy<br /> Phương pháp nghiên cứu thẳng lên trên ở phía sau cơ (31/40, 77,5%), phần<br /> còn lại động mạch chạy vào trong cơ (9/40,<br /> Rạch da phía trên cung đùi dài 4 cm, phẫu<br /> 22,5%). Trong 40 trường hợp, có 21 (52,5%) động<br /> tích bộc lộ bó mạch thượng vị dưới sâu<br /> mạch thượng vị dưới sâu là một thân chính chạy<br /> (ĐMTVDS), luồn catheter số 18 vào động mạch<br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Ngoại Khoa 119<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 1 * 2018<br /> <br /> lên trên và phân thành các nhánh nhỏ, có 17 (40,1%) nhánh xuyên ở hàng ngoài, trong đó số<br /> (42,5%) trường hợp động mạch chia thành 2 lượng nhánh xuyên trội ở mỗi hàng lần lượt là 24<br /> ngành chính, 2 (5%) trường hợp động mạch chia (60%) và 16 (40%).<br /> thành 3 ngành chính.<br /> Đường kính trung bình của động mạch<br /> thượng vị dưới sâu tại nơi xuất phát là 2,2 ±<br /> 0,2cm và ở vị trí bờ ngoài của cơ thẳng bụng là<br /> 1,9 ± 0,2cm.<br /> Chiều dài trung bình của đoạn từ động mạch<br /> thượng vị dưới sâu tính từ nơi xuất phát và từ vị<br /> trí của động mạch ngang mức bờ ngoài cơ thẳng<br /> bụng đến nhánh xuyên trội nhất lần lượt là 14,9<br /> ± 3,5cm và 10,9 ± 1,1 cm.<br /> Trong 40 động mạch thượng vị dưới sâu,<br /> có 39/40 (97,5%) trường hợp có 2 tĩnh mạch đi Hình1: Hình ảnh các nhánh xuyên của DEIA – MS<br /> kèm, chỉ có 1 trường hợp (2,5%) là một tĩnh xác 476.<br /> mạch đi kèm và các tĩnh mạch đều đổ về tĩnh<br /> Nếu lấy rốn là điểm gốc O của hệ trục XY<br /> mạch chậu ngoài.<br /> thì khoãng cách trung bình từ nhánh xuyên tới<br /> Các nhánh xuyên trục X là 23,8 ± 15,8 mm, trục Y là 22,5 ± 12<br /> Trong nghiên cứu, chúng tôi tiến hành mm. Khoãng cách trung bình từ nhánh xuyên<br /> khảo sát các nhánh xuyên có đường kính ≥ 0,5 trội nhất đến trục X là 16,2 ± 7,1mm, trục Y là<br /> mm trong phạm vi của vạt da hình trám từ 23,4 ± 13,1mm.<br /> giới hạn trên của rốn đến nến lằn bụng phía Trong phạm vi vòng tròn có tâm là rốn, thì<br /> trên xương mu. sự phân bố của các nhánh xuyên và nhánh<br /> Số lượng xuyên trội như ở bảng 1:<br /> Trên 40 ĐMTVDS có tổng số 177 nhánh Bảng 1: Sự phân bố của các nhánh xuyên trong phạm<br /> xuyên, trung bình 4,4 nhánh xuyên /1 ĐMTVDS vi nữa dưới đường tròn có tâm là rốn.<br /> trong vùng vạt khảo sát. Đối với các ĐMTVDS 0 – 2 cm < 2 – 4 cm < 4 – 6 cm < 6 – 8<br /> chỉ có 1 thân chính có trung bình 4,33 nhánh cm<br /> Số lượng nhánh 55 (31,1) 56 (31,6%) 52 (29,4%) 14 (7,9%)<br /> xuyên /1 ĐMTVDS, ở các ĐMTVDS chia 2 ngành xuyên<br /> chính thì trung bình có 4,18 nhánh xuyên/ 1 Số lượng nhánh 16 (40%) 13 (32,5%) 11 (27,5%) 0 (0%)<br /> ĐMTVDS, 2 nhánh xuyên/ ngành ngoài và 2,12 xuyên trội nhất<br /> nhánh xuyên/ ngành trong, trong đó nhánh Khoãng cách trung bình từ nhánh xuyên<br /> xuyên trội nhất thường ở ngành trong. Chỉ 2 đến rốn là 34,4 ± 17,2. Trong đó phần lớn<br /> trường hợp ĐMTVDS chia 3 ngành có 3 và 4 nhánh xuyên nằm trong khoãng từ 10 - 40 mm<br /> nhánh xuyên. tính từ rốn.<br /> Vị trí, sự phân bố Chiều dài và đường kính<br /> Ở mặt trước cân cơ thẳng bụng, các nhánh Trong nghiên cứu chúng tôi tiến hành đo<br /> xuyên phân bố thành 2 hàng chính là trong và đường kính của các nhánh xuyên tại nơi xuất<br /> ngoài: hàng ngoài ở 1/3 ngoài của cơ thẳng bụng, phát và chiều dài của các nhánh xuyên tính từ<br /> hàng trong ở 1/3 trong của cơ thẳng bụng. Có nơi xuất đến điểm đi vào lớp cân nông.<br /> 106 (59,9%) nhánh xuyên ở hàng trong và 71 Bảng 2: Kích thước của các nhánh xuyên.<br /> <br /> <br /> 120 Chuyên Đề Ngoại Khoa<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 1 * 2018 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Nhánh xuyên có Nhánh xuyên trội<br /> đường kính ≥ 0,5 mm nhất<br /> Đường kính 0,7 ± 0,2 1 ± 0,1<br /> trung bình<br /> Chiều dài trung 45,8 ± 11,8 44,3 ± 13,8<br /> bình<br /> Phần lớn các nhánh xuyên có chiều dài<br /> tương đối ngắn, kể cả các nhánh xuyên trội. Và<br /> đường kính của nhánh xuyên cũng khá nhỏ,<br /> chiếm đa số là các nhánh xuyên có đường kính<br /> dưới 1 mm. Vì vậy khó có thể dùng trực tiếp Hình 2: Hình ảnh các nhánh xuyên trên phim<br /> nhánh xuyên làm cuống mạch của vạt theo kiểu Xquang chụp vạt DIEP – MS xác 482.<br /> siêu vi phẫu, mà phải sử dụng thêm phần bó BÀN LUẬN<br /> mạch thượng vị dưới sâu.<br /> Tái tạo vú sau phẫu thuật điều trị ung thư vú<br /> Hành trình của các nhánh xuyên là nhu cầu cần thiết giúp cho bệnh nhân có chất<br /> Về hành trình của các nhánh xuyên trước lượng cuộc sống tốt hơn. Việc tìm kiếm chất liệu<br /> khi đi vào lớp cân nông, có hai dạng khác tái tạo vú phù hợp luôn là vấn đề cần đặt ra<br /> nhau được ghi nhận. Dạng đầu tiên, nhánh trong thực tế lâm sàng, nhằm tìm được chất liệu<br /> xuyên có hướng đi vuông góc từ vị trí xuất đáp ứng đủ thể tích tái tạo, mô tái tạo có tính<br /> phát đến nơi vào vạt da. Đối với dạng này khi chất gần tương đồng với vú đối bên và nơi cung<br /> phẫu tích cô lập nhánh xuyên chỉ cần tách dọc cấp mô bị tổn thương tối thiểu nhất. Vạt da<br /> mà không phải cắt các thớ cơ và khoảng cách nhánh xuyên động mạch thượng vi dưới sâu<br /> từ vạt đến ĐMTVDS ngắn hơn. Dạng thứ hai (vạt da ngang bụng) chính là vạt da đáp ứng<br /> từ nơi xuất phát nhánh xuyên có hướng đi được các tiêu chí trên. Từ khi được áp dụng trên<br /> xuyên chéo qua các khoãng gian cơ khác nhau lâm sàng bởi Koshima và Seoda năm 1989, sau<br /> để đến nơi vào vạt da, có thể là hướng ra đó lần đầu tiên được sử dụng trong tái tạo vú bởi<br /> ngoài, vào trong, xuống dưới, lên trên. Đối với Allen năm 1994, vạt da nhánh xuyên động mạch<br /> dạng nhánh xuyên đi chéo góc thì khoảng thượng vị dưới sâu đã được sử dụng ngày càng<br /> cách từ vạt đến ĐMTVDS dài hơn và khi phẫu phổ biến trong tái tạo vú(1,2,7).<br /> tích có thể cần cắt các thớ cơ. Các nhánh xuyên<br /> Mặc dù cho nhiều ưu điểm trong việc tái<br /> ở hàng trong có 21 (19,8%) các trường hợp là<br /> tạo vú, nhưng việc áp dụng vạt da nhánh<br /> xuyên thẳng và 84 (79,3%) trường hợp là<br /> xuyên động mạch thượng vị dưới sâu trên lâm<br /> xuyên chéo. Ngược lại các nhánh xuyên ở<br /> sàng vẫn còn gặp nhiều khó khăn cho phẫu<br /> hàng ngoài có 51 (71,8%) các trường hợp là<br /> thuật viên do những bất thường và sự khác<br /> xuyên thẳng và 20 (28,2%) trường hợp là<br /> nhau trong giải phẫu về hành trình của động<br /> xuyên chéo. Đối với các nhánh xuyên trội thì<br /> mạch thượng vị dưới sâu và các nhánh xuyên,<br /> 23 (57,5%) trường hợp là xuyên thẳng và 17<br /> gây ra những trở ngại để nâng vạt một cách an<br /> (42,5%) trường hợp là xuyên chéo.<br /> toàn. Chính vì vậy những nghiên cứu về hình<br /> Quan sát hình ảnh nhánh xuyên trên X quang thái của động mạch thượng vị dưới sâu và các<br /> Các vạt da được chụp X quang và kết quả nhánh xuyên của nó đã luôn được các tác giả<br /> cho thấy sự cấp máu cho vạt rất phong phú, có quan tâm(5,8,9). Đã có một số công trình nghiên<br /> sự nối thông giữa các nhánh xuyên. Khu vực cứu về vấn đề này, tuy nhiên kết quả vẫn chưa<br /> cấp máu của mỗi nhánh xuyên phụ thuộc vào thống nhất. Theo các tác giả như Itoh, Boyd,<br /> đường kính của nó tại nơi xuyên qua bao cân. Tansatit, El-Mrakby … ĐMTVDS chia thành 2<br /> ngành lớn chính trong phần lớn các trường<br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Ngoại Khoa 121<br /> Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 1 * 2018<br /> <br /> hơp(3,4,6,11). Trong khi đó theo một số tác giả đi vào vạt da được xem như là chiều thứ 4 của<br /> khác như Nguyễn Trần Quýnh, ĐMTVDS vạt da nhánh xuyên, tùy theo hướng đi vào<br /> không chia thành 2 ngành lớn mà chạy thẳng của nhánh xuyên mà phạm vi cấp máu và<br /> lên trên theo dạng 1 thân chính trong phần lớn vùng cấp máu trội có thể khác nhau, vì vậy<br /> các trường hợp. Trong nghiên cứu của chúng trên lâm sàng cũng cần lưu ý đến hướng đi<br /> tôi, 52,5% các trường hợp ĐMTVDS là dạng 1 vào vạt da của nhánh xuyên để quyết định<br /> thân chính chạy lên phía trên, 47,5% các phạm vi vạt sử dụng.<br /> trường hợp còn lại ĐMTVDS chia làm 2 - 3 Khi khảo sát vị trí xuyên qua cân của các<br /> ngành(5,8,9,10). nhánh xuyên so với rốn, chúng tôi nhận thấy<br /> Số lượng các nhánh xuyên trên mỗi phần lớn các nhánh xuyên (62,7%) tập trung<br /> ĐMTVDS cũng đã được một số tác giả thông<br /> trong vòng bán kính 0 – 40 mm với tâm là rốn,<br /> báo với số lượng khác nhau tùy theo cách xác<br /> điều này cùng phù hợp với ghi nhận của một số<br /> định nhánh xuyên lớn hay nhỏ theo đường<br /> kính của các nhánh xuyên bao gồm trong tác giả khác. Và nếu mỗi ĐMTVDS chọn ra một<br /> nghiên cứu, số lượng nhánh xuyên của nhánh xuyên trội nhất, thì nhánh xuyên trội này<br /> ĐMTVDS cho mỗi nữa bên bụng từ 0,8 – 6,8. cũng tập trung chủ yếu trong vòng bán kính từ 0<br /> Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ khảo sát – 40 mm với tâm là rốn (72,5%). Các nhánh<br /> các nhánh xuyên có đường kính ≥ 0,5 mm với xuyên trội nhất trong nghiên cứu của chúng tôi<br /> kết quả trung bình có 4,4 nhánh xuyên / 1<br /> có đường kính trung bình là 1 ± 0,1 mm (từ 0,8 –<br /> ĐMTVDS cấp máu cho vạt da hình trám từ<br /> 1,2 mm), chiều dài trung bình là 44,3 ± 13,8 mm.<br /> rốn đến phía trên xương mu. Các tác giả Itoh,<br /> Boyd cũng khảo sát các nhánh xuyên có Chiều dài từ vị trí xuất phát của nhánh xuyên<br /> đường kính ≥ 0,5 mm của ĐMTVDS nhưng trội nhất đến ĐMTVDS ở ngang mức bờ ngoài<br /> trong phạm vi cả phía trên rốn với kết quả cơ thẳng bụng trung bình là 10,9 ± 1,1. Như vậy<br /> trung bình có 6,5 và 6,8 nhánh xuyên/ 1 trong trường hợp cuống mạch của vạt là<br /> ĐMTVDS. Cũng như các tác giả khác, chúng ĐMTVSD thì việc bộc lộ đến ngang mức bờ<br /> tôi nhận thấy rằng các nhánh xuyên phân bố<br /> ngoài cơ thẳng bụng là đủ dài để sử dụng vạt<br /> thành 2 hàng ở nơi chui qua bao cân thẳng<br /> một cách linh hoạt, nếu sử dụng cuống mạch là<br /> bụng: hàng trong và hàng ngoài với số lượng<br /> lần lượt là 106 (59,9%) và 71 (40,1%). Khi khảo nhánh xuyên đơn thuần (siêu vi phẫu) thì bên<br /> sát hướng đi của các nhánh xuyên, chúng tôi cạnh khó khăn vì đường kính cuống mạch nhỏ<br /> nhận thấy ở hàng trong các nhánh xuyên thì chiều dài của cuống mạch khá ngắn cũng là<br /> thường có hướng xuyên chéo trong cơ (79,3%) trở ngại đáng kể để có thể thực hiện các thao tác<br /> trong khi ở hàng ngoài các nhánh xuyên cũng như thiết lập vị trí vạt phù hợp.<br /> thường có hướng xuyên thẳng (71,8%), điều<br /> này cũng phù hợp với ghi nhận của các tác giả<br /> KẾT LUẬN<br /> khác. Đây là đặc điểm cần lưu ý để lựa chọn Việc hiểu rõ các đặc điểm hình thái của các<br /> các nhánh xuyên khi nâng vạt, đối với các nhánh xuyên có thể giúp cho phẫu thuật viên<br /> nhánh xuyên mà hướng xuyên thẳng thì quá nâng vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị<br /> trình phẫu tích bộc lộ nhánh xuyên dễ hơn mà dưới sâu một cách an toàn hơn. Các nhánh<br /> không cần phải cắt cơ, trong khi đối với các xuyên xếp thành 2 hàng phía trước cân cơ thẳng<br /> nhánh xuyên chéo hành trình trong cơ dài bụng: hàng trong và hàng ngoài. Các nhánh<br /> hơn, khó bộ lộ hơn và thường phải cắt một số xuyên có hướng xuyên thẳng thường là ở hàng<br /> thớ cơ. Ngoài ra hướng của nhánh xuyên khi ngoài và dễ phẫu tích bộc lộ hơn so với các<br /> <br /> <br /> 122 Chuyên Đề Ngoại Khoa<br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 22 * Số 1 * 2018 Nghiên cứu Y học<br /> <br /> nhánh xuyên có hướng xuyên chéo. Nhánh 7. Koshima I, Soeda S (1989). Inferior epigastric artery skin flaps<br /> without rectus abdominis muscle. Br J Plast Surg, 42:645-648.<br /> xuyên có kích thước lớn nhất của mỗi động 8. Moon HK, Taylor GI (1988). The vascular anatomy of rectus<br /> mạch thượng vị dưới sâu thường cách rốn từ 15 abdominis musculocutaneous flaps based on the deep<br /> superior epigastric system. Plast Reconstr Surg, 82:815-832.<br /> – 40 mm.<br /> 9. Munhoz AM, Ishida LH, Sturtz GP, Cunha MS, Montag E,<br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO Saito FL, Gemperli R, Ferreira MC (2004). Importance of<br /> lateral row perforator vessels in deep inferior epigastric<br /> 1. Allen RJ, Treece P (1994). Deep inferior epigastric perforator<br /> perforator flap harvesting. Plast Reconstr Surg, 113:517-524.<br /> flap for breast reconstruction. Ann Plast Surg, 32: 32-38.<br /> 10. Nguyễn Trần Quýnh (2006). Nghiên cứu giải phẫu vạt cơ thẳng<br /> 2. Blondeel PN (1999). One hundred free DIEP flap breast<br /> bụng trên người Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Y học, Trường Đại<br /> reconstructions: A personal experience. Br J Plast Surg, 52:104-<br /> học Y Hà Nội, tr.50 - 77.<br /> 111.<br /> 11. Tansatit T, Chokrungvaranont P, Sanguansit P,<br /> 3. Boyd JB, Taylor GI, Corlett RJ (1984). The vascular territories<br /> Wanidchaphloi S (2006). Neurovascular anatomy of the deep<br /> of the superior epigastric and deep inferior epigastric systems.<br /> inferior epigastric perforator flap for breast reconstruction. J<br /> Plast Reconstr Surg, 73:1-16.<br /> Med Assoc Thai, 89: 1630-1640.<br /> 4. El-Mrakby HH, Milner RH (2002). The vascular anatomy of<br /> the lower anterior abdominal wall: a microdissection study on<br /> the deep inferior epigastric vessels and the perforator Ngày nhận bài báo: 08/10/2017<br /> branches. Plast Reconstr Surg, 109:539-543.<br /> 5. Heitmann C, Felmerer G, Durmus C, Matejic B (2000). Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/10/2017<br /> Anatomical features of perforator blood vessels in the deep Ngày bài báo được đăng:<br /> inferior epigastric perforator flap. Br J Plast Surg, 53:205-208.<br /> 6. Itoh Y, Arai K (1993). The deep inferior epigastric artery free<br /> skin flap: Anatomic study and clinical application. Plast<br /> Reconstr Surg, 91:853-863.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Chuyên Đề Ngoại Khoa 123<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2