intTypePromotion=1

Nghiên cứu khoa học " Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 40 năm xây dựng và trưởng thành (19612001) "

Chia sẻ: Nguye Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:24

0
62
lượt xem
10
download

Nghiên cứu khoa học " Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 40 năm xây dựng và trưởng thành (19612001) "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Namvới 35 năm xây dựng và trưởng thành (1961-1996) Ngày 29/9/1961Viện Lâm nghiệp được thành lập theo Quyết định của Chính phủ. Trong những ngày mới thành lập Viện đã tập hợp được một số cán bộ chủ chốt nguyên là những cán bộ lâm nghiệp được đào tạo trong thời kỳ trước cách mạng đi tham gia kháng chiến chống Pháp trở về cùng với lớp kỹ sư trẻ mới ra trường được đào tạo dưới chế độ mới . Ra đời chưa được bao lâu, cùng với cả nước cán...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu khoa học " Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 40 năm xây dựng và trưởng thành (19612001) "

  1. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 40 năm xây dựng và trưởng thành (1961- 2001) Đỗ Đình Sâm PhầnI.40 năm xây dựng và trưởng thành Viện KHLN Việt Nam 1. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Namvới 35 năm xây dựng và trưởng thành (1961-1996) Ngày 29/9/1961Viện Lâm nghiệp được thành lập theo Quyết định của Chính phủ. Trong những ngày mới thành lập Viện đã tập hợp được một số cán bộ chủ chốt nguyên là những cán bộ lâm nghiệp được đào tạo trong thời kỳ trước cách mạng đi tham gia kháng chiến chống Pháp trở về cùng với lớp kỹ sư trẻ mới ra trường được đào tạo dưới chế độ mới . Ra đời chưa được bao lâu, cùng với cả nước cán bộ công nhân viên của Viện phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Toàn Viện phải đi sơ tán, cách xa thủ đô hàng trăm km dựng lán làm nhà tiếp tục công tác nghiên cứu khoa học. Góp phần chi viện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhiều cán bộ của Viện đã vào Nam chiến đấu có đồng chí đã vĩnh viễn yên nghỉ tại núi rừng phía Nam. Chiến tranh ngày càng trở nên ác liệt (1967-1971) nhưng hoạt động nghiên cứu vẫn sôi nổi, đều đặn nhằm phục vụ trước mắt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Năm 1971, khối nghiên cứu công nghiệp rừng được tách ra để thành lập Công ty thiết kế công trình công nghiệp nhằm tăng cường cán bộ nghiên cứu trực tiếp phục vụ sản xuất chi viện tiền tuyến và tới năm 1974 thành lập Viện Công nghiệp rừng. Đến năm 1982, Viện kinh tế lâm nghiệp cũng được ra đời để nghiên cứu phục vụ
  2. cho quản lý kinh tế của ngành. Từ đó hệ thống nghiên cứu của ngành bao gồm 3 Viện: Viện Lâm nghiệp, Viện Công nghiệp rừng, Viện Kinh tế lâm nghiệp c ùng với 2 Phân viện Đặc sản rừng và Công cụ cơ giới trồng rừng. Thực hiện việc đổi mới tháng 8/1988 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã quyết định hợp nhất 3 Viện thành Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Mặc dù trong hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hoà bình, một Viện hay ba Viện thì các cán bộ nghiên cứu của chúng ta cũng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Theo quyết định của Chính phủ chức năng nhiệm vụ chủ yếu của Viện l à: - Nghiên cứu khoa học kỹ thuật về các lĩnh vực lâm sinh, công nghiệp rừng và kinh tế lâm nghiệp phục vụ cho công tác quản lý của ngành. - Tham gia tiến hành các chương trình khoa học kỹ thuật, kinh tế xã hội của ngành, đề xuất các cơ chế quản lý kinh tế, các chế độ chính sách về kinh tế kỹ thuật. - Đào tạo cán bộ trên đại học cũng như góp phần nâng cao kiến thức cho cán bộ khoa học kỹ thuật của ngành. - Thực thi các chương trình hợp tác đã được ký kết, ngoài ra Viện còn tham gia các hoạt động sản xuất, dịch vụ, tư vấn cho sản xuất thông qua các hợp đồng chuyển giao công nghệ. Trong những năm 1991-1995 nhiệm vụ trọng tâm của ngành được xác định là: Phải bảo vệ được diện tích rừng tự nhiên hiện có, nâng cao độ che phủ bằng biện pháp khoanh nuôi và từng bước phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Để thực hiện được nhiệm vụ trên Ngành Lâm nghiệp đã chuyển hoạt động từ lâm nghiệp Nhà nước (lấy quốc doanh làm chủ đạo) sang lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng khuyến khích người dân tham gia sản xuất lâm nghiệp và bảo vệ rừng. Nhằm
  3. phục vụ thiết thực yêu cầu của ngành và kế hoạch Nhà nước, công tác nghiên cứu của Viện thực hiện theo các chương trình trọng tâm cấp Nhà nước, cấp Ngành cũng như các vấn đề bức xúc của sản xuất đặt ra. Trong giai đoạn 1986-1990, Viện đã thực hiện 41 đề tài trong 4 chương trình cấp Nhà nước (04A, 16B, 02C và bảo tồn gen) và 4 chương trình cấp Ngành (Đổi mới quản lý kinh tế lâm nghiệp, điều chế rừng, sử dụng tài nguyên rừng và đặc sản rừng) cũng như đã tham gia vào chương trình Tây Nguyên II. Giai đoạn 1991-1995, các chương trình cấp Nhà nước đòi hỏi đồng bộ hơn, việc tổ chức thực hiện đòi hỏi phải tập hợp liên ngành. Viện được giao chủ trì Chương trình KN03 “Khôi phục rừng và phát triển Lâm nghiệp” là một trong số 30 chương trình tiến bộ khoa học công nghệ có trọng điểm do Nhà nước quản lý. Viện đã thực hiện 10 đề tài trong số 14 đề tài của chương trình, 4 đề tài còn lại do các Viện khác phối hợp thực hiện. Ngoài ra Viện còn tham gia các đề tài thuộc chương trình KC07, KT12, bảo tồn gen, 15 đề tài cấp Ngành và đặc biệt là việc chuyển giao kỹ thuật thông qua thực hiện các dự án phát triển miền núi do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường chủ trì các dự án khuyến lâm và các dự án sản xuất thử. Đội ngũ cán bộ và công tác đào tạo là một nhân tố có tính quyết định những thành tựu đạt được trong 35 năm qua. Trải qua nhiều thế hệ được đào tạo trong những điều kiện khác nhau, các lớp đàn anh đào tạo từ trước cách mạng đi tham gia kháng chiến trở thành cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt trong nghiên cứu khoa học như đ/c Trần Ngũ Phương, GS.TSKH.Đồng Sỹ Hiền, GS.TSKH. Thái Văn Trừng, GS.TSKH. Nguyễn Văn Trương, PGS. Lâm Công Định, KS.Vương Tấn Nhị, KS. Nguyễn Văn Viễn, KS. Phạm An, KS. Nguyễn Văn Cứ, KS. Lê Văn Chung, KS. Nguyễn Sỹ Nguyên. Nhiều đ/c đã có các công trình có giá trị tầm cỡ quốc tế được công bố.
  4. Lớp sau cách mạng được đào tạo ở trong nước và ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ cũng đã trưởng thành với các công trình khoa học và hướng dẫn nghiên cứu sinh bảo vệ thành công Luận án phó tiến sỹ (nay là tiến sỹ). Có một số đ/c đã trở thành cán bộ lãnh đạo của Ngành, nhiều đ/c đạt học vị tiến sỹ khoa học, có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp khoa học của Ngành. Song song với công tác nghiên cứu khoa học, từ năm 1982 Viện là cơ quan đầu tiên trong ngành Lâm nghiệp được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nay là Thủ tướng Chính phủ, ký Quyết định số 333/CT giao cho Viện nhiệm vụ đ ào tạo nghiên cứu sinh theo 8 chuyên ngành chuyên sâu trong lâm nghiệp. Đối tượng đào tạo là các cán bộ khoa học kỹ thuật trong và ngoài ngành lâm nghiệp từ trung ương đến địa phương trên phạm vi toàn quốc. Kết quả mở 9 khoá tuyển được 84 NCS, trong đó 44 NCS đã bảo vệ thành công luận án để nhận bằng phó tiến sỹ, tính đến năm 1996 Viện đ ã có 15 cán bộ khoa học đầu đàn được phong hàm giáo sư, phó giáo sư. Cùng với đào tạo trong nước chúng ta đã gửi hàng trăm lượt cán bộ khoa học đi tham quan đào tạo ở nước ngoài. Nhiều đồng chí đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ-tiến sỹ khoa học ở Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Hungary... trong phe xã hội chủ nghĩa trước đây. Công tác đào tạo với nhiều hình thức phong phú đã góp phần quan trọng, thiết thực nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ nghiên cứu và quản lý của Viện cũng như các cơ quan khác trong ngành, nâng cao uy tín của Viện, nâng cao trình độ cán bộ ngang tầm với nhiều nước trong khu vực, phát huy vai trò vị trí một Viện đầu ngành trong lâm nghiệp trước đây cũng như hiện nay. Nghiên cứu về rừng không chỉ đòi hỏi về thời gian mà cả không gian bởi lẽ đất nước chúng ta trải dài trên nhiều vĩ độ, nhiều vùng sinh thái khác nhau, vì vậy ngoài đội ngũ nghiên cứu cần phải có mạng lưới các Trung tâm tại một số vùng
  5. điển hình trong nước. Sau khi thống nhất 3 Viện có 3 Trung tâm nghiên cứu chuyên đề (cải thiện giống, sinh thái môi trường và lâm đặc sản), 12 Trung tâm vùng và Phân viện, 2 Trung tâm chuyển giao kỹ thuật lâm sinh và công nghiệp rừng, một Xí nghiệp chế biến hạt điều. Các đơn vị này phân bố từ Cầu Hai (Phú Thọ), Tây Bắc (Sơn La), Tây Nguyên (Gia Lai), Lâm Đồng, Đông Nam Bộ, Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh với tổng số diện tích 5000 ha rừng thực nghiệm được xây dựng thành các mô hình trình diễn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và là hiện trường thí nghiệm. Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng không nhỏ đến các kết quả của Viện là công tác hợp tác quốc tế. Những năm mới thành lập Viện chúng ta nhận được sự giúp đỡ đào tạo cán bộ của một số nước xã hội chủ nghĩa. Từ những năm cuối thập kỷ 70 quan hệ quốc tế được mở ra, các dự án tăng cường năng lực nghiên cứu cho Viện không những thay đổi được thiết bị, phương tiện đi lại mà còn tạo điều kiện cho hàng trăm lượt cán bộ đi nước ngoài như các dự án VIE/015-016, VIE/05, VIE/027 do FAO và UNDP tài trợ và một số dây chuyền khai thác vận chuyển của Liên Xô cũ được khảo nghiệm tại Tây Nguyên. Cùng với chính sách mở cửa, mối quan hệ song phương với các tổ chức SAREC (Thuỵ Điển), IDRC (Canada), ACCT (Pháp), CSIRO (Australia), JICA (Nhật) và một số công ty như NIC, OJI (Nhật), tổ chức phi chính phủ OSB (Australia) đã được thiết lập. Chặng đường 35 năm hoạt động của Viện nghi ên cứu khoa học kỹ thuật về rừng không phải là dài, nhưng thế hệ sau kế thừa và phát huy thế hệ trước Viện đã thu được những kết quả từ các đề tài, dự án trở thành các tiến bộ kỹ thuật, các qui trình qui phạm triển khai áp dụng vào sản xuất. Sự nỗ lực đó thể hiện qua 449 công trình khoa học bao gồm các đề tài nghiên cứu, các dự án trong nước và quốc tế chưa kể đến các công trình luận án của các nhà
  6. khoa học đã bảo vệ thành công luận án của mình theo các trình độ phó tiến sỹ, tiến sỹ trước đây ở các Hội đồng khoa học trong và ngoài nước. Chính vì sự nỗ lực đó mà Đảng và Chính phủ đã tặng cho cán bộ công nhân viên của Viện: - 458 Huân, Huy chương các loại. - 372 Huy chương vì sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng. - 32 Huy chương vì sự nghiệp khoa học và công nghệ và hàng chục bằng lao động sáng tạo. 2. Bước phát triển của Viện trong 5 năm qua(1996-2001) Trong 5 năm qua (1996-2001) kể từ khi kỷ niệm 35 năm thành lập Viện chúng ta đã thừa kế những kết quả nghiên cứu trước kia và tiếp tục hoàn thiện bổ sung những kết quả nghiên cứu mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất và của Ngành, đồng thời tăng cường xây dựng tiềm lực nghiên cứu của Viện. Kỷ niệm 40 năm thành lập Viện chúng ta hãy điểm lại những thành tựu chủ yếu đã đạt được trong thời gian qua. 2.1. Những thành tựu chủ yếu trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cũn g như các Viện nghiên cứu khác trong Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham gia thực hiện các đề tài trong chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước, các đề tài độc lập cấp Nhà nước, các đề tài nghiên cứu cấp Bộ, các dự án sản xuất thử cấp ngành, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất theo yêu cầu của Bộ. Trong giai đoạn 1996-2001 Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã và đang thực hiện 4 đề tài và 1 nhiệm vụ khoa học cấp Nhà nước.
  7. - Đề tài về cải thiện giống cây rừng trong chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KC-08 (1996-2000). - Đề tài độc lập cấp Nhà nước về phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt và thâm canh rừng trồng công nghiệp phục vụ dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (1997 -2000). - Đề tài độc lập cấp Nhà nước về phục hồi rừng ngập mặn Mangrove và rừng Tràm Melaleuca (2000-2002). - Xác định nhanh các loài gỗ chủ yếu ở Việt Namtrong chương trình khoa học cơ bản cấp Nhà nước. - Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước về bảo tồn nguồn Gen cây rừng. Ngoài ra, Viện còn tham gia thực hiện trên 30 đề tài trọng điểm cấp Bộ và nhiệm vụ nghiên cứu trong các lĩnh vực lâm sinh, chế biến lâm sản, kinh tế lâm nghiệp. Gắn với chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng Viện cũng được giao thực hiện các đề tài 661: Xác định các loài cây trồng cho rừng phòng hộ và đặc dụng trong toàn quốc, xác định suất đầu tư phù hợp cho việc gây trồng rừng phòng hộ và đặc dụng, xây dựng biểu thể tích cho một số loài cây trồng rừng; các dự án 661 dựa trên các kết quả nghiên cứu đã có và hoàn thiện bổ sung thêm; gây trồng sở, hồi, rừng thông nhựa có sản lượng nhựa cao, rừng keo và bạch đàn cao sản với năng suất 30-40 m3/ ha/ năm, rừng trồng keo lá tràm (A. auriculiformis), keo lưỡi liềm (A. crassicarpa), thử nghiệm trên diện rộng trong toàn quốc các dòng keo lai đã tuyển chọn, khoanh nuôi tái sinh và làm giầu rừng lá rộng thường xanh. Các dự án điều tra cơ bản đã được thực hiện: Đánh giá kinh tế xã hội vùng đệm, đánh giá nhu cầu về giống cho trồng rừng và xác định các rừng giống tự nhiên và gây trồng, đánh giá thực trạng nương rãy ở Tây Nguyên và kiến nghị giải pháp, điều tra đánh giá thực trạng các vườn ươm và năng lực cung cấp cây giống phục
  8. vụ chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng. Ngoài ra, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Namcũng thực hiện dự án giống cây trồng và dự án bảo tồn nguồn gen. 2.1.1. Kết quả nghiên cứu về mặt lâm sinh Những kết quả nổi bật là: - Tiếp tục bổ sung và khẳng định những biện pháp phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt thông qua hàng loạt các biện pháp kỹ thuật lâm sinh; xúc tiến tái sinh tự nhiên, từng bước cải thiện tổ thành rừng hướng rừng phát triển theo các mục tiêu kinh tế đa dạng với nhóm các loài cây có giá trị kinh tế với tốc độ sinh trưởng nhanh, làm giàu rừng bằng các biện pháp khác nhau đặc biệt bổ sung các loài kinh tế theo các đám trống. Các biện pháp lâm sinh được hình thành trên cơ sở thực nghiệm và nghiên cứu, có kiến thức và hiểu biết về sinh thái quần thể và sinh thái cá thể loài. Mỗi biện pháp lâm sinh thực hiện còn dựa trên cơ sở phân loại các trạng thái rừng nghèo, rừng kiệt sau khai thác. - Xác định mối quan hệ giữa phân bố rừng ngập mặn và đặc điểm đất đai ở miền Bắc, các mô hình lâm ngư kết hợp trên thực tiễn làm cơ sở phục hồi phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn ở ngoài Bắc. - Kết quả trồng rừng cây bản địa đặc biệt họ Sao, Dầu ở miền Nam, các đề tài thử nghiệm trồng rừng cây họ Dầu như vên vên, dầu rái trong thời gian qua của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam có thể khẳng định rằng: Bằng các biện pháp lâm sinh phù hợp tạo lớp áo phủ ban đầu trên đất đồi trọc đã thoái hoá (ví dụ sử dụng keo lá tràm, đậu tràm...), các rừng trồng cây bản địa họ Dầu có thể thành công đã mở ra triển vọng về khả năng phục hồi dần hệ sinh thái rừng lá rộng tr ên đất đồi trọc bị thoái hoá. - Các kết quả nghiên cứu về cải thiện giống đặc biệt lựa chọn các dòng ưu việt keo lai, bạch đàn và bạch đàn lai cùng các biện pháp thâm canh, làm đất, bón phân có
  9. thể tạo rừng trồng có năng suất cao, đạt tới 25-30m3/ ha/ năm hoặc hơn. Yếu tố quyết định năng suất rừng trồng đó là việc chọn giống và cải thiện giống. Tuy nhiên, rừng trồng với các nguồn giống được cải thiện chỉ đạt được năng suất cao trong quá trình thâm canh khi lựa chọn những lập địa gây trồng thích hợp, thoả mãn những điều kiện tối thiểu cho sự phát triển của rừng. - Các nghiên cứu về khảo nghiệm loài, xuất xứ, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật lâm sinh gây trồng rừng, điều tra, đánh giá các mô hình thực tiễn trong thời gian qua đã cho phép thiết lập danh mục hàng trăm loài cây có khả năng gây trồng ở nước ta trong các vùng sinh thái khác nhau với các mục tiêu khác nhau: phòng hộ, đặc dụng, sản xuất... Song song đó là các nghiên cứu về cải thiện giống, thâm canh rừng trồng đã làm cơ sở cho ngành lựa chọn những loài cây chủ lực trồng rừng kinh tế với mục tiêu năng suất cao (tối thiểu 18-20m3/ ha/ năm), chu kỳ kinh doanh ngắn 6-10 năm và tạo nên các sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh tế, có thị trường tiêu thụ. Đó là các nhóm loài cây bạch đàn, keo, thông, tre trúc, tràm, xà cừ, tếch... có thể trồng rừng tập trung và nhiều loài cây trồng phân tán khác. - Nghiên cứu về sâu bệnh rừng trồng (đặc biệt là đối với bạch đàn) và đang tiếp tục nghiên cứu đối với rừng keo mangium, thông ba lá... đã chỉ ra tính không bền vững của rừng thuần loài, tập trung; xuất hiện sâu bệnh nghiêm trọng sau 10-15 năm gây trồng. Đó là điều cần quan tâm trong công tác trồng rừng hướng tới tính đa dạng sinh học với nhiều loài, nhiều dòng và xuất xứ, xen kẽ nhau theo khối, đồng thời cần hướng tới chọn lọc các cá thể kháng bệnh tốt để phát triển, nhân giống. - Các nghiên cứu tiếp tục về bảo tồn nguồn gen cây rừng đã phát hiện được nhiều loài quí hiếm và đặc điểm phân bố của chúng, đặc biệt đánh giá mức độ đe doạ theo các tiêu chuẩn quốc tế và thực hiện các biện pháp bảo tồn insitu và exsitu, nhân giống một số loài quí, hiếm.
  10. Đó có thể coi là những thành tựu nổi bật có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong lĩnh vực lâm sinh và định hướng cho các nghiên cứu tiếp tục, lâu dài sau này. Về những thành tích cụ thể trong lĩnh vực này có thể nêu lên những kết quả chủ yếu sau: - Công nhận giống quốc gia: 3 dòng keo lai ở miền Bắc; các giống tiến bộ kỹ thuật: 4 dòng keo lai miền Nam, 12 xuất xứ bạch đàn, 10 xuất xứ keo vùng thấp, 4 xuất xứ keo vùng cao, 3 xuất xứ keo chịu hạn, 5 xuất xứ thông caribeae, 6 xuất xứ tràm. Các kết quả nghiên cứu khảo nghiệm các xuất xứ tràm trước kia và thực hiện dự án do JICA tài trợ đã có tác dụng lớn trong chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng tràm cho nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Hồ Chí Minh và là một trong những cây trồng chủ lực quan trọng của vùng. - Đề nghị Bộ công nhận giống tiến bộ kỹ thuật cho 12 tổ hợp lai bạch đ àn. - Mở các lớp tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về giâm hom keo lai, phổ biến các xuất xứ keo lai, tràm úccó năng suất cao, chuyển giao kỹ thuật trồng ba kích, bếp lâm nghiệp cải tiến, kỹ thuật trồng dó trầm, kỹ thuật nhân giống tre t àu lấy măng, kỹ thuật trồng luồng, tập huấn về nhân giống vô tính, bảo tồn đa dạng sinh học... - Xây dựng các tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật, qui trình qui phạm về trồng luồng, nhiều loài cây bản địa khác cho trồng rừng phòng hộ và rừng sản xuất, đặc sản rừng như giổi xanh, phi lao, trám trắng, quế, trầm hương đặc biệt kỹ thuật tạo trầm nhân tạo đã đạt được kết quả bước đầu khả quan. - Xác định các khu rừng giống đủ tiêu chuẩn phục vụ cung cấp giốn g cho chương trình 5 triệu ha (cùng phối hợp với Công ty giống cây trồng lâm nghiệp).
  11. - Qui trình xác định các lập địa cho trồng rừng và khả năng thích hợp các loài cây trồng chủ yếu. 2.1.2. Kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực công nghiệp rừng Trong những năm 1996-2001 đáng chú ý là các nghiên cứu, hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực chế biến, bảo quản và cơ khí lâm nghiệp có nhiều tiến triển do những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn sản xuất. Viện đã chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật chủ yếu sau: - Chế tạo máy băm dăm gỗ cỡ nhỏ, lưu động, máy ép, lò sấy phục vụ các cơ sở chế biến qui mô nhỏ. - Các kỹ thuật chích nhựa thông 2 lá, cải tiến thiết bị chưng cất nhựa thông, thiết bị nhỏ phục vụ chế biến tinh dầu quế. - Xây dựng các vườn ươm công nghiệp phục vụ chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng. - Kỹ thuật chống mối cho các công trình xây dựng, chuyển giao các thuốc bảo quản cho sản xuất và Bộ đã công nhận 11 loại thuốc bảo quản gỗ. 2.1.3 Kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế lâm nghiệp - Đã xây dựng một số định mức cho trồng rừng phòng hộ và đặc dụng các loài cây trồng chủ yếu. - Cung cấp các tài liệu điều tra cơ bản về đặc điểm các vùng đệm các vườn quốc gia chủ yếu làm cơ sở xác định qui mô vùng đệm và đề xuất các chính sách, giải pháp kinh tế -kỹ thuật- xã hội phát triển vùng đệm.
  12. - Cung cấp các tài liệu điều tra cơ bản về thực trạng nương rãy ở Tây Nguyên và đề xuất các giải pháp thực hiện. - Bước đầu đánh giá kết quả chính sách giao đất giao rừng cho các hộ nông dân miền núi. Các kết quả nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất trong những năm qua của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam là cả quá trình thừa kế liên tục và phát triển các nghiên cứu đi trước đã đóng góp một phần nhỏ cho sự nghiệp phát triển Ngành Lâm nghiệp nhưng so với yêu cầu của thực tiễn sản xuất vẫn còn một khoảng cách đáng kể đòi hỏi Viện phải có định hướng tốt cho nghiên cứu trong tương lai, đi tắt, đón đầu và kịp thời phục vụ sản xuất. Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng hệ thống Trung tâm vùng, Trung tâm chuyên đề, Trung tâm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đã là cầu nối quan trọng giữa nghiên cứu và sản xuất của Viện, nâng cao vị thế và vai trò của Viện trong nhiều vùng. Các hoạt động khoa học của các Phòng nghiên cứu, các Trung tâm với nhiều dự án quốc tế cũng góp phần rất lớn nâng cao vai trò của Viện trong chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất. 2.2. Xây dựng tiềm lực nghiên cứu 2.2.1. Công tác đào tạo cán bộ: Tổ chức và nguồn nhân lực của Viện được thay đổi phù hợp theo từng thời kỳ do yêu cầu của Ngành. Sau khi sáp nhập 3 Viện thành Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam lúc đầu số Phòng nghiên cứu khá nhiều (hơn 10 Phòng) và số biên chế trong toàn Viện cũng khá lớn (hơn 700 người). Quá trình sắp xếp lại tổ chức và một số cán bộ về hưu theo chế độ đến nay nguồn nhân lực của Viện giảm còn 480 người chưa kể số biên chế 2B mà Viện và các đơn vị tự trang trải, chia ra:
  13. · Phân theo trình độ đào tạo: - Trên đại học: 42 người - Đại học: 230 người - Trung cấp: 63 người · Phân theo ngạch bâc: - Nghiên cứu viên cao cấp: 01 người - Nghiên cứu viên chính: 39 người - Nghiên cứu viên: 160 người Trong những năm 1996-1998 Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam có 30 tiến sỹ, 5 giáo sư, 4 phó giáo sư. Hiện số các nhà khoa học có học hàm giáo sư, phó giáo sư và học vị tiến sỹ đã giảm đi do đến tuổi về hưu. Hiện nay, số tiến sỹ là 25 và giáo sư là 1. Trong thời gian qua việc đào tạo thạc sỹ đươc tăng cường mạnh. Số thạc sỹ hiện nay có 17 người và đang theo học thạc sỹ là 21 người và tiến sỹ là 11 người . Nhà nước đã có chủ trương xét phong học hàm từ năm 2001 là điều kiện thuận lợi bổ sung các phó giáo sư, giáo sư kế cận cho Viện. Trong năm tới thực hiện kế hoạch tinh giảm bi ên chế những vẫn phải tăng cường công tác đào tạo sau đại học để đến 2005 sẽ có ít nhất 80 người có trình độ trên đại học. Giai đoạn 1996-2001 là thời kỳ đào tạo theo Luật giáo dục mới đào tạo tiến sỹ chính thức bắt đầu từ tháng 7/1997, tính đến nay mở 4 khoá, tuyển th êm 17 NCS
  14. tốt nghiệp từ 1997 đến nay là 13 người, bao gồm 5 PTS và 8 TS, nâng tổng số NCS tốt nghiệp lên 57 TS. Số nghiên cứu sinh đang học tập nghiên cứu là 32. Công tác đào tạo sau đại học sau gần 20 năm đã lập được nhiều thành tựu to lớn có tác động ảnh hưởng quan trọng góp phần nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật lâm nghiệp trên bình diện toàn quốc gia. Đảm bảo chất lượng đào tạo được coi là phương châm quán triệt hàng đầu cho mọi hoạt động đào tạo sau đại học của Viện. Nhờ đó các cán bộ có trình độ TS do Viện đào tạo ra hầu hết đều là những cán bộ chủ chốt, cán bộ đầu đàn trên mọi vị trí công tác. Nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ nghiên cứu đã được Viện quan tâm kết hợp với Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT 1 mở nhiều lớp Anh văn nâng cao trình độ ngoại ngữ về chuyên môn. 2.2.2. Tăng cường cơ sở hạ tầng và trang thiết bị Nhiều Phòng nghiên cứu, Trung tâm trước đây của Viện được trang bị thiết bị của các dự án do UNDP và FAO tài trợ đã xuống cấp, lạc hậu, cơ sở vật chất như trụ sở, phương tiện đi lại, các hiện trường thí nghiệm đều thiếu thốn hoặc bố trí chưa hợp lý. Để khắc phục tình trạng trên,Viện đã xây dựng các dự án xây dựng nhỏ, sửa chữa lớn, các dự án nâng cấp các phòng thí nghiệm đến các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, dự án 327 mà sau này là dự án 5 triệu ha rừng tiến tới các dự án hợp tác quốc tế. Tổng kết 10 năm (từ 1991-2000) thì giai đoạn từ 1996-2000 đầu tư chung chiếm tỷ lệ như sau:
  15. - Dự án sửa chữa xây dựng nhỏ gồm 13 dự án với tổng số vốn là 5.131 triệu đồng (giai đoạn 1996-2000 là 3.721 triệu đồng, tỷ lệ 73%). - Dự án đầu tư xây dựng cơ bản gồm 12 dự án với tổng số vốn 15.410 triệu đồng (giai đoạn 1996-2000 là 11.620 triệu, chiếm 75%). - Dự án 327 và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng có 12 dự án với tổng số vốn l à 14.178 triệu (giai đoạn 1996-2000 là 10.879 triệu, chiếm 77%). - Dự án nâng cấp các phòng thí nghiệm: Đang thực hiện cho 6 phòng thí nghiệm với tổng số vốn 10.060 triệu đồng (giai đoạn 1996-2001 là 9.460 triệu, chiếm 94 %). - Dự án tăng cường trang thiết bị nghiên cứu thực nghiệm cho Viện trong giai đoạn 2000-2003 là 19.286 triệu. Năm 2000-2001 đã thực hiện 6.600 triệu. Kế hoạch khoa học công nghệ năm 2001 được Bộ giao là 16.430 triệu so với năm 2000 là 13.262 triệu . Cho đến nay Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã có những Phòng nghiên cứu có trang thiết bị có khả năng ứng dụng những công nghệ hiện đại trong nghi ên cứu mang lại kết quả cao như phòng thí nghiệm về giống cây rừng đã đưa kỹ thuật nuôi cấy mô, lai giống nhân tạo và bước đầu sử dụng phương pháp phân tích izozyme, phòng thí nghiệm sinh thái môi trường rừng sử dụng kỹ thuật GIS vào đánh giá môi trường, quy hoạch sử dụng đất và phân chia lập địa. Phòng thí nghiệm bảo vệ thực vật rừng. Các Trung tâm, Phân viện đã xây dựng được nhiều mô hình nghiên cứu thực nghiệm có giá trị về trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và phục hồi rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng và làm giàu rừng tự nhiên. Xây dựng được các vườn sưu tập thực vật, khu bảo tồn gen.
  16. Những hiện trường thí nghiệm này là những mô hình trình diễn quan trọng để các đơn vị khác có thể tham quan học tập kinh nghiệm cũng như để sinh viên thực tập như ở Ba Vì, Cầu Hai, Đông Nam Bộ, Kon Hà Nừng,... Những mô hình phục hồi rừng tự nhiên cây lá rộng đã có ở Cầu Hai và Kon Hà Nừng nay đã được nhân rộng ở các Trung tâm như Lâm Đồng, Tây Bắc, Minh Hải và thậm chí ở Đại Lải- nơi đất bị thoái hoá nghiêm trọng. Những mô hình về rừng trồng công nghiệp đã được phát triển mạnh ở Trung tâm Đông Nam Bộ, Trung tâm Bắc Trung Bộ và bước đầu triển khai thử nghiệm ở Trung tâm Lâm nghiệp Nhiệt Đới, Đông Bắc Bộ. Mô hình gây trồng cây đặc sản đã được Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản xây dựng ở nhiều nơi như mô hình trồng và tạo trầm ở Lâm trường Chúc A. Bên cạnh những khu rừng thí nghiệm đó, các Trung tâm có hệ thống vườn ươm, nhà giâm hom, cấy mô một mặt phục vụ nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật nhân giống, mặt khác có thể kinh doanh giống cây trồng, tạo thêm nguồn phúc lợi cho Trung tâm và nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên. Cơ sở hạ tầng và bộ mặt chung của Viện, Phân viện và các Trung tâm đã thay đổi rõ nét khang trang hơn nhiều. 2.3. Hợp tác quốc tế Trong giai đoạn 1996-2001 đã và đang thực hiện 12 dự án, đề tài hợp tác quốc tế với nhiều lĩnh vực được phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Những dự án hợp tác có kết quả từ giai đoạn trước như dự án “Nghiên cứu cải thiện giống cây rừng” với Thuỵ Điển và dự án “Phát triển kỹ thuật trồng rừng trên đất phèn vùng đồng bằng sông Cửu Long” với Nhật được tiếp tục đầu tư giai đoạn 2 hoặc 3 trong các năm gần đây.
  17. Các dự án mới với nội dung bao hàm nhiều lĩnh vực như: - Dự án lâm sản ngoài gỗ ( IUCN) - Quản lý tài nguyên trong cộng đồng, phục hồi rừng đầu nguồn sau khai thác (các tổ chức phi chính phủ Nhật bản: JVC, JOFCA, NGF, FORSPA) - Phòng trừ sâu bệnh (ACIAR, Nhật Bản...) - Bảo tồn gen (Hà Lan) Hiện nay Viện đang xây dựng các dự án nghiên cứu với Australia, Đài Loan, Hàn Quốc... Bước đầu đang xây dựng các dự án hợp tác quốc tế về phần công nghiệp chế biến. Các dự án hợp tác quốc tế trong giai đoạn 1996-2001 đã hỗ trợ cho các Phòng nghiên cứu và các Trung tâm tiếp cận với các phương pháp, thiết bị nghiên cứu hiện đại như: · Phân tích enzim để đánh giá tính đa dạng di truyền và theo dõi vật hậu của lát hoa (dự án FST/96/05) · Tăng thu nhận các bon của rừng trồng bằng giống được cải thiện và mô hình hoá sự thu nhận các bon của rừng trồng Việt Nam(dự án IGP). · Các thiết bị trồng và các loại giống tràm có năng suất cao (dự án JICA). · Tăng cường khả năng tổ chức trong sản xuất các nguồn gen giống cây rừng được cải thiện ở Việt Namthông qua áp dụng kỹ thuật di truyền phân tử . Đặc biệt các dự án hợp tác quốc tế đã tạo điều kiện đưa hàng trăm lượt cán bộ đi khảo sát và thực tập ở nhiều nước cũng như đã tiếp và làm việc với nhiều đoàn nước ngoài đến Viện.
  18. 2.4. Công tác thông tin Nhận thức được tầm quan trọng của công tác thông tin trong nghiên cứu khoa học và phổ biến các kết quả nghiên cứu, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, nên mặc dù trong những năm gần đây Viện không đ ược cấp kinh phí về công tác thông tin, Viện đã vận dụng kinh phí hoạt động bộ máy và hợp tác quốc tế để hỗ trợ: Xây dựng các nguồn lực thông tin: Kho sách của Viện đã được bổ sung 244 bản, 6 loại tạp chí ngoại văn, 12 loại tiếng Việt đưa tổng số sách của Viện lên trên 20.000 cuốn. Cơ sở dữ liệu về nghiên cứu của Ngành Lâm nghiệp đã được xây dựng 1700 bản ghi và xây dựng thành đĩa CD Room, đã lắp đặt mạng Lan với 30 điểm nối để phục vụ cho công tác điều hành chung của Viện cũng như trao đổi thông tin gửi các đơn vị được nhanh chóng. Tạp chí Lâm nghiệp của Ngành được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao cho Viện quản lý giúp đã được phát hành với nội dung và số lượng đúng hạn, ngoài ra Viện còn xuất bản Thông tin khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp 6 số /năm để đăng tải các kết quả nghiên cứu của Viện và bản tin điện tử chọn lọc trung bình 2 số/tháng. Đã xuất bản và phát hành được 12 đầu sách về các kết quả nghiên cứu của Viện, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp hoạt động KHCN của Ngành. Để nâng cao trình độ cán bộ thông tin được tham gia nhiều lớp đào tạo trong và ngoài nước do FORSPA và TREELINK tài trợ. Tuy nhiên, công tác thông tin của Viện còn nhiều hạn chế chủ yếu do kinh phí và chưa xây dựng được mạng lưới thông tin về khoa học và sản xuất, dịch vụ các Trung tâm với các địa phương để nắm bắt được yêu cầu của sản xuất trên cơ sở đó tiếp cận và đề xuất các dự án, đề tài thực sự phục vụ sản xuất.
  19. 2.5. Sự lãnh đạo của Đảng uỷ và các tổ chức công đoàn, thanh niên, nữ công, tự vệ và các phong trào thi đua của Viện Quán triệt các Nghị quyết của các đại hội Đảng, của Bộ Chính trị về đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Đảng uỷ Viện đã có những Nghị quyết trong từng kỳ Đại hội Đảng, cùng với lãnh đạo Viện đề ra phương hướng chiến lược để cán bộ Đảng viên và quần chúng thực hiện các chương trình, dự án, đề tài và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Các tổ chức công đoàn, thanh niên, nữ công, tự vệ là các tổ chức chính trị đã động viên toàn thể cán bộ công nhân viên tham gia vào công tác bảo vệ trật tự trị an, hoạt động văn thể... gây được khí thế sôi nổi trong toàn Viện. Thành tích đã đạt được là: - Được Đảng bộ cấp trên liên tục công nhận là Đảng uỷ vững mạnh và trong sạch. - Tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên CSHCM, nữ công được Bộ khen thưởng nhiều năm. - Đại đội tự vệ của Viện với quân số 60-80 người nhiều năm đạt cờ quyết thắng, năm 2000 đạt danh hiệu đơn vị xuất sắc và đạt thành tích cao trong hội thao quân sự. - Nhiều giải thưởng trong các hội thao, hội diễn tổ chức ở huyện và khu vực. · Phong trào thi đua khen thưởng: Từ những thành tích đạt được trong hoạt động KHCN và các phong trào của Viện đã được Đảng, Nhà nước, Tổng công đoàn, Bộ và các cơ quan tặng nhiều Huân,
  20. Huy chương, giải thưởng quốc gia, Bằng khen các cấp và nhiều danh hiệu thi đua cụ thể từ năm 1995 đến nay đạt được: - Những nhà khoa học đầu đàn của Viện đã được Nhà nước tặng thưởng nhiều giải thưởng cao quí: * Giải thưởng Hồ Chí Minh (năm 2000) cho GS.TSKH. Thái Văn Trừng nguy ên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu lâm nghiệp nhiều năm về công trình nghiên cứu Thảm thực vật rừng Việt Nam * 2 giải thưởng quốc gia về khoa học công nghệ (năm 2000) cho PGS. Lâm Công Định về công trình nghiên cứu Trồng rừng chống cát bay và cho Trung tâm NC giống cây rừng do GS.TS. Lê Đình Khả chủ trì về công trình nghiên cứu giống keo lai tự nhiên. - 1 Huân chương lao động hạng nhất cho Viện nhân dịp kỷ niệm 40 năm thành lập Viện. - 3 Huân chương lao động hạng hai và 6 Huân chương lao động hạng ba cho tập thể và cá nhân. - 15 Bằng khen Chính phủ cho tập thể và cá nhân và nhiều Bằng khen của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Những bông hoa trong phong trào thi đua đã động viên khích lệ tất cả cán bộ công nhân viên sôi nổi tham gia vào các hoạt động chính trị và phong trào chung của cả Viện tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa Viện từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chúng ta nhiệt liệt chúc mừng thành tích và sự đóng góp của tập thể Viện và các đồng chí hoạt động khoa học trong thời gian qua. Phần II. Thời cơ và thách thức trong giai đoạn phát triển mới
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2