intTypePromotion=3

Nghiên cứu khoa học " XÉN TÓC TRIRACHYS BILOBULARTUS GRSSITT & RONDON ĐỤC THÂN HẠI CÂY ĐƯỚC RHIZOPHORA APICULATA BLUME RÙNG PHÒNG HỘ CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH "

Chia sẻ: Nguye Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
58
lượt xem
13
download

Nghiên cứu khoa học " XÉN TÓC TRIRACHYS BILOBULARTUS GRSSITT & RONDON ĐỤC THÂN HẠI CÂY ĐƯỚC RHIZOPHORA APICULATA BLUME RÙNG PHÒNG HỘ CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sự thay đổi điều kiện sinh thái đã kéo theo sự xuất hiện của côn trùng gây hại là những lý do chính làm diện tích rừng ngập mặn Cần Giờ có thể bị thu hẹp. Sâu đục thân thuộc họ Cossidae được xác định là loài Zeuzera conferta và một loài sâu khác gây u bướu thân, cành cũng thuộc họ Cossidae gây hại rừng Đước ở các lập địa có điều kiện sinh thái thay đổi này. Những nghiên cứu mới đây cho thấy rừng Đước trồng trên 20 năm tuổi bị xén tóc gây hại....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu khoa học " XÉN TÓC TRIRACHYS BILOBULARTUS GRSSITT & RONDON ĐỤC THÂN HẠI CÂY ĐƯỚC RHIZOPHORA APICULATA BLUME RÙNG PHÒNG HỘ CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH "

  1. XÉN TÓC TRIRACHYS BILOBULARTUS GRSSITT & RONDON ĐỤC THÂN HẠI CÂY ĐƯỚC RHIZOPHORA APICULATA BLUME RÙNG PHÒNG HỘ CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Phạm Quang Thu1, Lê Văn Bình1 và Lê Văn Sinh2 (1 )Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2) Trưởng Ban Quản lý rừng ngập mặn Cần Giờ TÓM T ẮT Sự thay đổi điều kiện sinh thái đã kéo theo sự xuất hiện của côn trùng gây hại là những lý do chính làm diện tích rừng ngập mặn Cần Giờ có thể bị thu hẹp. Sâu đục thân thuộc họ Cossidae được xác định là loài Zeuzera conferta v à một loài sâu khác gây u bướu thân, cành cũng thuộc họ Cossidae gây hại rừng Đước ở các lập địa có điều kiện sinh thái thay đổi này. Những nghiên cứu mới đây cho thấy rừng Đước trồng trên 20 năm tuổi bị xén tóc gây hại. Loài xén tóc đục thân cây Đước được xác định là loài Trirachys bilobulartus Gressitt & Rondon (Cerambycidae, Coleoptera). Loài xén tóc này lần đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam, loài cây chủ được ghi nhận là cây Đước Rhizophora apiculata. Xén tóc trưởng thành có màu đen, cánh trước v à râu đầu có những mảng màu nâu đen bất định làm toàn thân có hình loang lổ. Chân của xén tóc trưởng thành có màu nâu hơi đỏ. Toàn thân được phủ một lớp lông tơ mịn màu vàng da bò có ánh bạc. Những mảng màu trang trí trên cánh có thể bị thay đổi màu sắc khi ở các góc nhìn khác nhau. Râu đầu của con đực dài gấp 2 lần chiều dài cơ thể. Sâu non mới nở gặm vỏ, sâu tuổi 2 đục thẳng v ào trong thân, sâu non ngừng ăn để hóa nhộng v ào cuối tháng 2. Xén tóc trưởng thành vũ hóa cuối tháng 3 đến giữa tháng 4. Xén tóc trưởng thành cái đục máng đẻ trứng chiều dài 10-12 mm, sâu 4-6mm, mỗi máng 1 trứng. T ừ khóa: Cây Đước, rừng trồng, sinh thái, xén tóc MỞ ĐẦU 1
  2. Tổng diện tích Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ là 75.740 ha, trong đó: vùng lõi 4.721 ha, vùng đệm 41.139 ha, và vùng chuyển tiếp 29.880 ha. Diện tích có rừng 30.079 ha, trong đó có 19.096 ha rừng trồng, chủ yếu là rừng đước Rhizophora apiculata, chiếm 63,5% v à rừng tự nhiên là 10.982 ha, chiếm 36,5%. Khu dự trữ sinh quyển này được xem là rừng phòng hộ đặc biệt quan trọng về mặt môi trường sinh thái cho thành phố Hồ Chí Minh và khu vực. Trong nhiều năm qua, các Sở, Ban, Ngành của Thành phố Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến khu rừng phòng hộ này, mang lại những điều kiện tốt nhất cho cây rừng sinh trưởng và phát triển tốt nhằm phát huy tối đa khả năng phòng hộ của rừng. Việc điều tra tình hình sâu, bệnh và tìm giải pháp để bảo vệ, chống suy thoái để rừng ngập mặn và rừng Đước phát triển bền vững đã được quan tâm. Kết quả điều tra về sâu, bệnh hại rừng Đước tại các tiểu khu thuộc rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh trong các năm 2006 và 2007 thu được một số kết quả như sau: Tình hình sâu hại đối với cây Đước trên khía cạnh thành phần loài sâu, bệnh v à tỷ lệ, mức độ bị hại phụ thuộc v à có quan hệ chặt chẽ với điều kiện sinh thái và tuổi của lâm phần. Rừng Đước dù ở tuổi nhỏ hay tuổi lớn bị đắp đập, nước biển vào và ra theo thủy triều không được thường xuyên, bị cản trở, dẫn đến đất bị khô hoặc bị ngập nước biển hoặc nước mưa lâu ngày. Cây Đước ở những lâm phần này sinh trưởng kém, sâu hại đã xuất hiện v à gây hại khá nghiêm trọng cho các khu rừng này. Kết quả điều tra và giám định sâu hại cho thấy trên các tiểu khu này các loài sâu hại chủ yếu là sâu v àng Zeuzera conferta đục thân, ngọn cây cây Đước, sâu trắng Xyleutes sp. gây u bướu thân, cành và trang Đước (Phạm Quang Thu et al, 2006). Tỷ lệ bị hại và mức độ bị hại là khá cao, một số nơi cây đã bị chết như ở tiểu khu 20, tiểu khu 5a, 5b. Các tiểu khu 4, tiểu khu 9 và tiểu khu 15 không bị đắp đập, thủy triều vào, ra rất đều đặn, điều kiện lập địa hoàn toàn phù hợp với sự sinh trưởng của cây Đước. Vì vậy, cây Đước tái sinh tự nhiên trên những lâm phần của các tiểu khu này rất tốt, nhiều cây vươn lên tầng trên của tán rừng, tạo nên khu rừng nhiều tầng, độ tàn che lớn 0,7 - 0,8. Chính do độ tàn che lớn đã ảnh hưởng trực tiếp đến độ chiếu sáng cho các cây con tái sinh ở tầng dưới hoặc các cây gần tham gia v ào tầng chính của rừng. Các cây này sinh trưởng kém, cũng xuất hiện sâu đục thân các loài Zeuzera conferta và Xyleutes sp. gây hại. Một số khu rừng Đước trồng năm 1986, 1988 không bị ảnh hưởng của việc đắp đập, làm đường hay làm muối, thủy triều v ào, ra thường xuyên, nhưng cây Đước bị một loại sâu đục thân khác gây hại. Đoạn thân từ rễ trên cùng đến độ cao 3-4m có nhiều mùm gỗ do sâu non đùn ra. Kết quả điều tra trong hai năm 2006, 2007 và kết quả nuôi sâu trong phòng thí nghiệm đã thu được xén tóc trưởng thành. Xén tóc đã gây hại cho các rừng Đước có tuổi lớn, mật độ dầy và gây hại tương đối khá nghiêm trọng cho tiểu khu 9 v à tiểu khu 15. Trên các ô tiêu chuẩn của hai tiểu khu này tỷ lệ cây bị xén tóc gây hại trung bình là 53%. Những cây bị xén tóc gây hại sinh trưởng kém, tán lá nhỏ, một số cây đã chết và đổ gẫy. Đây là một loài sâu hại nguy hiểm đối với rừng Đước Cần Giờ. Trên cơ sở điều tra, thu mẫu và nuôi sâu trong phòng thí nghiệm, bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, kết quả giám định v à một số đặc điểm sinh học và tập tính của loài xén tóc đục thân cây Đước thu được tại Cần Giờ. Đây là những thông tin ban đầu nhằm định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo tiến tới giảm thiểu ảnh hưởng của xén tóc gây hại đối với rừng Đước tại huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Nội dung nghiên cứu: - Đặc điểm điểm nhận biết các pha phát triển của xén tóc đục thân cây Đước, - Kết quả giám định loài xén tóc đục thân cây đước ở Cần Giờ - Đặc điểm sinh học và một số tập tính của loài xén tóc. Phương pháp nghiên cứu: - Điều tra thu mẫu được thực hiện trên các tuyến điều tra. Chọn những cây bị sâu đục thân có mùn gỗ đùn ra ngoài còn mới, chặt hạ, cắt khúc có chiều dài 70-100 cm, vận chuyển về phòng thí nghiệm đặt trong các lồng lưới đẻ thu xén tóc trưởng thành v ũ hóa. Thu thập số liệu về đặc điểm sinh học thông qua điều tra tại hiện trường v à kết quả gây nuôi xén tóc trong phòng thí nghiệm. Tỷ lệ bị hại được xác định thông qua số liệu điều tra trên ô tiêu chuẩn. 2
  3. - Mô tả đặc điểm hình thái mẫu thu được, đối chiếu với khóa phân loại và đặc điểm của giống Trirachys Hope được Gressitt và Rondon mô tả năm 1970. Kết hợp với việc so sánh v à đối chiếu mẫu với bảo tàng côn trùng của Viện Khoa học Lâm nghiệp v à lâm sản Nhật Bản, do Tiến sỹ Hiroshi Nakashima thực hiện tháng 5 năm 2008. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Mô tả đặc điểm hình thái và đặc điểm nhận biết loài xén tóc đục thân cây Đước T riệu chứng và đặc điểm nhận biết cây bị xén tóc gây hại: Xén tóc trưởng thành cái đẻ trứng vào khe nứt của vỏ cây, thường ở đoạn thân từ rễ trên cùng đến độ cao 3-4 m. Ngay sau khi nở từ trứng, sâu non đục vào thân tạo thành hang ở trong thân. Đây cũng là lỗ để sâu non thải phân, mùn gỗ v à xác lột ra ngoài (Hình 1). Vì v ậy những cây bị xén tóc đục thân là có thể nhận thấy có phân đùn ra ngoài và rơi xuống đất rất nhiều, xén tóc thường tấn công vào những cây to, có tán lá bị chèn ép, những cây này bị xén tóc hại có nhiều đường hang trong thân cây làm cây suy yếu, đổ gẫy và chết (Hình 2). Hình 1: Sâu non xén tóc đục lỗ nhỏ vào thân cây Hình 2: Rừng bị xén tóc đục thân làm gẫy cây Xén tóc trưởng thành: Chiều dài cơ thể trung bình 37 mm, chiều rộng trung bình 6 mm. Toàn thân xén tóc trưởng thành có màu đen, cánh trước v à râu đầu có những mảng màu nâu đen bất định làm toàn thân có hình loang lổ. Toàn thân được phủ một lớp lông tơ mịn màu vàng da bò có ánh bạc. Những mảng màu trang trí trên cánh có thể bị thay đổi màu sắc khi ở các góc nhìn khác nhau. Bề mặt bụng của xén tóc cũng có m àu bạc v à đậm màu hơn so với chân v à râu đầu. Đầu nhỏ hơn ngực trước, có các mấu nhỏ ngay sau mắt. Hai bên má có một hố hơi lõm ở giữa sát với vành mắt. Con cái có râu đầu ngắn hơn 10% chiều dài cơ thể (Hình 3). Râu đầu của con đực dài gấp 2 lần chiều dài cơ thể; đốt thứ nhất hơi nhăn, dày hơn các đốt khác; đốt thứ 3 dài hơn nhiều so với đốt thứ nhất v à phồng lên ở phía đầu trên đến 2/5 chiều dài của đốt; đốt thứ 4 hơi ngắn hơn đốt thứ 3, nhẵn, dài hơn đốt thứ nhất, phồng lên ở phía đỉnh đến ½ chiều dài của đốt; đốt thứ 5 dài bằng đốt thứ 3 nhưng ít phồng lên ở phía đầu, đốt 6 dài bằng đốt 4 v à đốt 5; từ đốt thứ 5 đến đốt thứ 7, mỗi đốt có 1 gai nhỏ ở phía đỉnh, và hướng v ào trong. Ngực trước phía cuối rộng hơn phía sát đầu. Cánh có chiều dài gấp 4,5 lần chiều rộng, cánh cứng phía đầu hẹp hơn phía sau; cuối cánh cứng mỗi cánh có một mấu răng nhỏ. Bề mặt bụng nhẵn, rất khó thấy các lỗ. Chân của xén tóc trưởng thành có màu nâu hơi đỏ, đặc điểm đặc trưng nhất đốt chày sau không thẳng; đốt 1 xương cổ chân sau dài nhất v à dài hơn đốt thứ 2 + đốt thứ 3. 3
  4. Sâu non: Sâu mới nở có màu trắng sữa, có 12 đốt, đầu có mảnh sừng, 2 bên thân sâu non có lông cứng màu xám (Hình 4), sau khoảng 3-6 giờ đục vào thân cây, sâu non lớn dần và tạo thành đường hang lớn dần, đường hang xén tóc chứa đầy mùn gỗ. Nhộng: Sau khi sâu non thành thục đục 1 buồng ở cuối đường hang sâu non để hóa nhộng. Nhộng nằm trong thân cây, là nhộng trần có màu trắng sữa, thời kỳ cuối nhộng thường chuyển sang màu trắng ngà sau đó màu nâu. Hình 3: Trirachys bilobulartus (con cái) Hình 4: Sâu non Trirachys bilobulartus Kết quả giám định và vị trí phân loại: Đối chiếu với khóa phân loại của Gressitt v à Rondon (1970) loài xén tóc đục thân cây Đước, mẫu thu ở rừng Đước Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là Trirachys bilobulartus Gressitt & Rondon. Loài xén tóc này thuộc bộ cánh cứng Coleoptera, họ Cerambycidae, phân họ Cerambycinae, tộc Cerambycini, giống T rirachys Hope. Hiện nay, giống Trirachys Hope được mô tả có 4 loài đó là: Trirachys orientalis Hope, Trirachys bilobulartus Gressitt & Rondon, loài Tryrachis sphaericothorax Gressitt & Rondon và loài Trirachys gloriosus Aur. Loài xén tóc này lần đầu tiên được mô tả và phát hiện có phân bố tại Việt Nam với đối tượng gây hại là cây Đước Rhizophora apiculata. Tại Bảo tàng côn trùng của Viện nghiên cứu Lâm nghiệp và Lâm sản Nhật Bản cũng có lưu trữ 2 cá thể loài Trirachys orientale, một cá thể đề thu mẫu tại Việt Nam và một cá thể khác đề thu mẫu ở Indonesia. Sự khác biệt cơ bản giữa loài Trirachys orientalis (Hình 5) v à loài Trirachys bilobulartus (Hình 6) dựa trên 3 đặc điểm cơ bản sau: râu đầu của loài T. orientalis dài hơn rất nhiều so v ới loài T. bilobulartus. Gai trên râu đầu loài T. orientalis dài và có từ đốt râu thứ 3, gai trên râu đầu loài T. bilobulartus ngắn v à có từ đốt thứ 5. Hai bên ngực trước của loài T. orientalis phình ra, còn loài T. bilobulartus phẳng. 4
  5. Hình 6: Loài Trirachys bilobulartus (con đực) Hình 5: Loài Trirachys orientalis (con cái) (Mẫu lưu trữ tại bảo tàng côn trùng Viện Nghiên (Mẫu lưu trữ tại Phòng NC bảo vệ thực vật rừng, cứu rừng và lâm sản Nhật Bản) Viện KH lâm nghiệp Việt Nam) Đặc điểm sinh học và tập tính: Sâu non sau khi nở từ trứng ăn các phần mền từ vỏ cây v à lớp tượng tầng, sau khi lột xác, sâu tuổi hai đục đường hang v ào thẳng phần gỗ sát với tâm gỗ, đẩy mùn gỗ ra phía ngoài thành những đống lớn ở sát gốc cây. Khi sâu non đục thẳng v ào phần gỗ lõi của thân cây, khi vào sâu trong thân cây, sâu non đục đường hang dọc theo thân cây, trên mặt cắt ngang thân cây có 4-5 đường hang của sâu non xén tóc (Hình 7). Sâu non đục các đường hang trong thân cây có bề ngang của đường hang rộng 2-4 lần bề ngang của sâu non nhưng chiều cao chỉ tương đương với bề dày của sâu non. Sâu non sử dụng gỗ làm thức ăn cho đến khi hóa nhộng và thành thục. Sâu non tuổi 3 ngoài việc gặm gỗ làm thức ăn, sâu còn đục một hang sâu để làm nơi trú ẩn, cuối tuổi 6 sâu non đào thêm 1 hang theo hướng xiên gần ra đến vỏ cây, khoét rộng đáy, lót mùn gỗ, bịt kín cửa hang và hóa nhộng. Do tập tính như v ậy nên phần gỗ của thân cây có rất nhiều các đường hang (Hình 8). Sâu non ngừng ăn để hóa nhộng v ào cuối tháng 2. Thời gian giai đoạn nhộng khá dài trung bình 30 ngày, từ cuối tháng 2 đến cuối tháng 3. Thời kỳ xén tóc trưởng thành v ũ hóa từ cuối tháng 3 đến giữa tháng 4, rộ nhất từ 25 tháng 3 đến 5 tháng 4. Xén tóc trưởng thành mới vũ hóa còn yếu v à thường ẩn nấp ở tán lá, ban đêm bay ăn bổ sung các chồi non của cây, sau 15 ngày bắt đầu cặp đôi v à đẻ trứng. Thời gian hoàn thành vòng đời của loài xén tóc này trung bình là 12 tháng. Sau khi xén tóc vũ hóa, nước mưa chảy dọc theo thân cây, theo các lỗ xén tóc vũ hóa kéo theo các loại nấm gây mục gỗ và đã xảy ra hiện tượng đổ gẫy ở những cây bị xén tóc gây hại. 5
  6. Hình 7: Mặt cắt dọc đường hang của xén tóc Hình 8: Mặt cắt ngang đường hang của xén tóc KẾT LUẬN: Các lô rừng trồng năm 1986-1988, thuộc tiểu khu 9 và 15, cây Đước bị xén tóc đục thân gây nên hiện tượng đổ gẫy, tỷ lệ bị hại ở những khu rừng này là 53%. Loài xén tóc gây hại rừng Đước Rhizophora apiculata trồng tại Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh được xác định là loài Trirachys bilobulartus Gressitt & Rondon. Kết quả nghiên cứu này góp phần bổ sung về thành phần loài cho khu hệ xén tóc ở Việt Nam. Sâu non nở từ trứng, cắn vỏ trứng chui ra ngoài và bắt đầu gặm vỏ để chui vào thân cây. Sâu non đục đường hang dọc theo thân cây, bề ngang của đường hang rộng 2-4 lần bề ngang của sâu non nhưng chiều cao chỉ tương đương với bề dày của sâu non. Sâu non cuối tuổi 6 đào thêm 1 hang theo hướng xiên gần ra đến vỏ cây, khoét rộng đáy, lót mùn gỗ, bịt kín cửa hang v à hóa nhộng. Sâu non ngừng ăn để hóa nhộng từ 20 đến cuối tháng 2. Thời gian giai đoạn nhộng khá dài trung bình 30 ngày, từ cuối tháng 2 đến cuối tháng 3. Xén tóc trưởng thành v ũ hóa v ào cuối tháng 3 đến giữa tháng 4, rộ nhất từ 25 tháng 3 đến 5 tháng 4, một năm có một thế hệ. Sau khi xén tóc vũ hóa, nước mưa chảy vào trong thân cây qua các lỗ vũ hóa, kéo theo các sinh vật gây mục gỗ, dẫn đến hiện tượng cây bị đổ gẫy nhiều trong các khu rừng bị sâu hại. T ÀI LIỆU THAM KHẢO Gressitt J.L. Rondon J.A. and Von Breuning, 1970. Pacific Insects Monograph 24 - Cerambycid-beetles of Laos. Entomology Department, Bernice P. Bishop Museum, Honolulu, Hawaii, U.S.A. Phạm Quang Thu, Nguyễn Văn Độ, Lê Văn Bình, Nguyễn Quang Dũng, 2006. Sâu đục thân rừng Đước Cần Giờ - Thành phố Hồ Chí Minh và những giải pháp bước đầu để quản lý sâu hại. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Số 4/2006, trang 197-200. Tổng đội I Thanh niên xung phong, Đồn biên phòng 652, hạt Kiểm lâm Cần Giờ v à Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ, 2006 Biên bản Kiểm tra tình hình đước chết tại rừng phòng hộ Cần giờ, Báo cáo nội bộ. LONGHORNED BEETLE DAMAGES RHIZOPHORA APICULATA PLANTATION IN MANGROROVE FOREST IN CAN GIO, HO CHI MINH CITY Pham Quang Thu, Le Van Binh and Le Van Sinh 6
  7. Summary Ecological changes, accompanying incursions of pest insects are other reasons for the shrinkage of Can Gio mangrove forest. Stem borer cossid moth identified as Zeuzera conferta and other cossid moth forming gall at stems, branches damage Rhizophora apiculata plantations in the changed ecological sites. In recent surveys, Rhizophora apiculata in over 20 years old plantations are attached by a longhorned beetle. The longhorned beetle is identified as Trirachys bilobularis Gressitt and Rondon (Cerambycidae, Coleoptera). This species is for the first time described in Vietnam damaging Rhizophora apiculata. Adult of the longhorned beetle is black colour, in part tinged with pitchy brown on antenna and elytron, more reddish brown on legs. Body on large part clothed with thin silvery to golden buff pubescence, on elytron lying in different directions giving a changing pattern. Antenna of male are slightly more than 2 times as long as body. Hatched larvae eat bark and second instars larvae bore straight to stem and stop eating to pupate at the end of February. Adults emerge from the end of March to middle of April. Female adults make oviposition with 10-12mm in long and 4-6mm in deep, each egg in one oviposition. Keys words: Ecological changes, longhorned beetle, Plantation, Rhizophora apiculata 7

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản