Phân tích tác động chính sách giảm thuế thu nhập cá nhân đến tiêu dùng tại TPHCM

Chia sẻ: Hân Hân | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
8
lượt xem
0
download

Phân tích tác động chính sách giảm thuế thu nhập cá nhân đến tiêu dùng tại TPHCM

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong những năm gần đây, chính sách thuế của Việt Nam đã có bước thay đổi đáng kể khi đánh thuế thu nhập cá nhân lên thu nhập nhận được từ tiền lương tiền công. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên phỏng vấn của các đối tượng lao động có thu nhập tiền lương, tiền công thuộc các doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Phân tích tác động chính sách giảm thuế thu nhập cá nhân đến tiêu dùng tại TPHCM

Kỷ yếu kỷ niệm 35 năm thành lập Trường ĐH<br /> <br /> ng nghiệp Th c ph m T<br /> <br /> h<br /> <br /> inh<br /> <br /> -2017)<br /> <br /> PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH GIẢM THUẾ THU NHẬP CÁ<br /> NHÂN ĐẾN TIÊU DÙNG TẠI TPHCM<br /> Bùi Nguyên Khá *, Lƣơng Quế Chi<br /> Trường Đại học<br /> <br /> ng nghiệp Th c ph m Thành phố<br /> <br /> h<br /> <br /> inh<br /> <br /> *<br /> <br /> Email: khabn@cntp.edu.vn<br /> <br /> Ngày nhận bài: 06/07/2017; Ngày chấp nhận đăng: 30/08/2017<br /> TÓM TẮT<br /> Trong những năm gần đây, chính sách thuế của Việt Nam đã có bước thay đổi đáng kể khi đánh<br /> thuế thu nhập cá nhân lên thu nhập nhận được từ tiền lương tiền công. Nghiên cứu được thực hiện dựa<br /> trên phỏng vấn của các đối tượng lao động có thu nhập tiền lương, tiền công thuộc các doanh nghiệp và<br /> cơ quan Nhà nước. Kết quả cho thấy rằng các tác động tỷ lệ thuận đến chi tiêu tiêu dùng của cá nhân có<br /> thu nhập từ tiền lương tiền công tại TP.HCM bao gồm các yếu tố: thuế TNCN, giới tính, tuổi tác, tình<br /> trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp. Riêng yếu tố tiết kiệm có tác động tỷ lệ nghịch trong chi<br /> tiêu.<br /> Từ khoá: Thuế thu nhập cá nhân, tiền lương tiền công, chi tiêu tiêu dùng.<br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Một trong trong những giải pháp tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế để thực hiện mục tiêu và nhiệm<br /> vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2013 (Nghị quyết 02 năm 2013) của Quốc hội đề ra là chính sách giảm<br /> thuế. Trong đó chính sách thuế được người lao động quan tâm nhiều nhất đó chính sách thuế thu nhập cá<br /> nhân (TNCN) (triển khai thực hiện từ ngày 01/07/2013 áp dụng mức giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân cư<br /> trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh với giảm trừ cho bản thân người nộp thuế<br /> 9.000.000 đồng/ tháng, giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc thuộc diện được giảm trừ là 3.600.000<br /> đồng/tháng). Việc giảm thuế TNCN gần đây sẽ giúp cho người dân có thêm một nguồn thu nhập bổ sung<br /> và điều này nếu được đưa vào trong tiêu dùng sẽ giúp gia tăng thị phần, khả năng thanh toán trên thị<br /> trường.<br /> Theo tính toán của Bộ Tài chính, việc nâng ngưỡng nộp thuế thu nhập cá nhân trong 6 tháng cuối<br /> năm 2013 thì ngân sách giảm thu 5.200 tỷ đồng và trong năm 2014 thì giảm thu 13.350 tỷ đồng. Số lượng<br /> người phải nộp thuế hiện đang vào khoảng 3,87 triệu người sẽ giảm xuống còn khoảng 1 triệu người. Đó<br /> là tín hiệu đáng mừng cho hơn 2 triệu lao động không phải nộp thuế, có lẽ số thuế TNCN không phải nộp,<br /> sẽ đưa vào tiêu dùng nhiều hơn. Việc khuyến khích tiêu dùng tạo động lực cho sự phát triển kinh tế là vấn<br /> đề cần quan tâm trong giai đoạn hiện nay.<br /> 2. TỔNG QUAN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN<br /> 2.1. Khái niệm về thuế thu nhập cá nhân (TNCN)<br /> Theo thông tư 111/2013/TT-BTC, thuế TNCN là khoản tiền tiền mà người có thu nhập phải trích<br /> nộp một khoản tiền lương hoặc từ các nguồn thu nhập khác vào ngân sách Nhà nước. Thuế TNCN là một<br /> hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định. Ngoài ra, Thuế TNCN là khoản<br /> đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi<br /> quốc gia. Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội khác (như<br /> phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…).<br /> 298<br /> <br /> hân t ch tác động ch nh sách giảm thuế thu nhập cá nhân đến tiêu dùng tại TP.HCM<br /> Theo William (2014), thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm:<br /> công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và<br /> hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh<br /> trong nước hay ngoài nước. Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế TNCN rất cao.<br /> Việc đánh thuế TNCN thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần. Đặc điểm này<br /> xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện<br /> công bằng xã hội. Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần<br /> thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao.<br /> 2.2. Các nghiên cứu về tác động chính sách giảm thuế thu nhập cá nhân đến tiêu dùng<br /> Theo Keynes (1924), khuynh hướng tiêu dùng phản ánh mối tương quan giữa thu nhập mà mối<br /> tương quan giữa thu nhập và chi cho tiêu dùng được rút ra từ thu nhập đó. Những nhân tố khách quan ảnh<br /> hưởng tới thu nhập bao gồm thuế suất, giá cả, thay đổi của mức tiền công danh nghĩa, nhân tố chủ quan<br /> ảnh hưởng tới tiêu dùng hầu hết là các nhân tố chi phối hành vi tiết kiệm.<br /> Theo Dương Tấn Diệp (2001), hàm tiêu dùng cho biết thu nhập khả dụng (Yd) tác động chi tiêu tiêu<br /> dùng (C), người có thu nhập từ tiền lương tiền công đủ điều kiện nộp thuế TNCN sẽ chịu thuế TNCN. Vì<br /> vậy, thu nhập khả dụng của của cá nhân sẽ là thu nhập cá nhân (Y) - Thuế TNCN (Td).<br /> Theo Gale và Samwick (2014) những tác động của thay đổi thuế thu nhập vào tăng trưởng kinh tế,<br /> tác giả cho rằng giảm thuế thu nhập cá nhân sẽ làm các khoản thu nhập sau thuế được cải thiện, người lao<br /> động có khuynh hướng tăng làm việc, tiết kiệm và đầu tư. Tuy nhiên, sau một thời gian khi thu nhập tăng<br /> lên thì người lao động có khuynh hướng giảm làm việc, tiết kiệm và đầu tư. Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra<br /> rằng cải cách thuế thu nhập sẽ tăng quy mô nền kinh tế trong dài hạn. Tuy nhiên điều mà ít được chú ý là:<br /> giảm mức thu nhập bắt đầu đánh thuế bằng cách cắt giảm hoặc xóa bỏ hoạt động miễn, giảm thuế đối với<br /> những nhóm cá nhân hoặc hoạt động nhất định sẽ tăng mức thuế hữu hiệu, do vậy đi ngược với chính<br /> sách giảm thuế. Tuy nhiên, giảm mức thu nhập bắt đầu đánh thuế giúp phân bổ lại nguồn lực từ các khu<br /> vực được ưu tiên thuế đến những khu vực có lợi tức kinh tế (trước thuế) cao nhất.<br /> 2.3 Thực trạng thực hiện chính sách thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam hiện nay<br /> Theo Tổng cục Thuế (2014) ghi nhận, để hoàn thiện chính sách pháp luật về thuế thu nhập cá nhân,<br /> cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, ngày 15/08/2013, Bộ Tài chính đã ban hành<br /> Thông tư số 111/2013/TT-BTC (sau đây xin gọi là Thông tư 111) hướng dẫn về luật thuế Thu nhập cá<br /> nhân.<br /> Thông tư 111 đã khắc phục những tồn tại trong quá trình thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, cải<br /> cách thủ tục hành chính nhằm tạo thuận lợi cho người nộp thuế. Các nội dung sửa đổi, bổ sung theo<br /> hướng có lợi cho người nộp thuế thể hiện ở 03 nhóm vấn đề chính như sau:<br /> Một là, thống nhất các văn bản hướng dẫn thực hiện về chính sách thuế thu nhập cá nhân và quản lý<br /> thuế thu nhập cá nhân. Do Luật thuế TNCN lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam nên trong quá trình thực<br /> hiện, Bộ Tài chính (BTC), Tổng cục Thuế (TCT) đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn để xử lý kịp thời<br /> các vướng mắc phát sinh. Do có quá nhiều văn bản nên các nội dung hướng dẫn chồng chéo, không rõ<br /> ràng dẫn đến khó khăn cho người nộp thuế trong thực hiện. Thông tư số 111 đã thay thế Thông tư số<br /> 84/2008/TT-BTC và nhiều công văn hướng dẫn của BTC và TCT về thuế TNCN ban hành trước ngày<br /> 01/7/2013. Tại thông tư 111 đã thống nhất các nội dung hướng dẫn về chính sách thuế thu nhập cá<br /> nhân và một số nguyên tắc chung về quản lý thuế TNCN quy định tại Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật<br /> sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế<br /> khi tìm hiểu về chính sách thuế TNCN.<br /> Hai là, chính sách thuế TNCN sửa đổi, bổ sung nhằm giảm mức đóng góp đối với người nộp thuế,<br /> từng bước nâng cao đời sống của người dân, thể hiện sự quan tâm, chia sẻ của Nhà nước đối với người<br /> nộp thuế trước bối cảnh khó khăn của nền kinh tế như nâng mức giảm trừ gia cảnh từ 4.000.000<br /> đồng/tháng lên 9.000.000 đồng/tháng đối với người nộp thuế và từ 1.600.000 triệu đồng/tháng lên<br /> 3.600.000 đồng/tháng đối với người phụ thuộc; Bổ sung một số khoản lợi ích khác do người sử dụng lao<br /> động chi cho người lao động hoặc trả hộ cho người lao động không tính vào thu nhập chịu thuế như:<br /> Khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi, trả hộ như: mua suất ăn, cấp phiếu ăn cũng<br /> 299<br /> <br /> ùi gu ên há<br /> <br /> ư ng uế hi<br /> <br /> được chấp nhận; Khoản tiền mua vé máy bay khứ hồi do người sử dụng lao động trả hộ cho người lao<br /> động là người Việt Nam làm việc ở nước ngoài về phép mỗi năm một lần (trước 01/7/2013 chỉ áp dụng<br /> đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam); Các khoản thanh toán mà người sử dụng lao động trả<br /> để phục vụ việc điều động, luân chuyển người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định tại hợp<br /> đồng lao động, tuân thủ lịch lao động chuẩn theo thông lệ quốc tế của một số ngành như dầu khí, khai<br /> khoáng; Khoản tiền học phí cho con của người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài học tại<br /> nước ngoài theo bậc học từ mầm non đến trung học phổ thông do người sử dụng lao động trả hộ (trước<br /> ngày 01/7/2013 chỉ áp dụng đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có con học tại Việt Nam);<br /> Bổ sung một số khoản thu nhập được miễn thuế như: Bổ sung trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế,<br /> quà tặng bất động sản là công trình xây dựng trong tương lai và nhà ở hình thành trong tương lai giữa một<br /> số thân nhân được miễn thuế (đối tượng thân nhân trong trường hơp này bao gồm: vợ với chồng; cha đẻ,<br /> mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; bố vợ, mẹ vợ với<br /> con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau)…<br /> Ba là, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nộp thuế khi thực<br /> hiện khai và nộp thuế TNCN như: quy định thu hẹp đối tượng phải quyết toán thuế, hướng dẫn chi tiết<br /> cách xác định cư trú và bổ sung quy định về cấp mã số thuế cho người phụ thuộc.<br /> 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 3.1. Xây dựng mô hình nghiên cứu<br /> Dựa vào nghiên cứu liên quan trước đây của Vũ Triều Minh (1997) để chọn ra các yếu tố đại diện<br /> biến phụ thuộc và biến độc lập cùng dạng mô hình nghiên cứu theo chi tiêu của cá nhân có thu nhập từ<br /> tiền lương tiền công tại TP.HCM.<br /> Kết hợp với nghiên cứu dựa trên lý thuyết kinh tế học vĩ mô “Hộ gia đình có thu nhập và phân bổ<br /> thu nhập vào tiêu dùng, tiết kiệm và nộp thuế”. Như vậy, thu nhập cá nhân (Y) = Chi tiêu tiêu dùng (C) +<br /> Tiết kiệm (S) + Thuế TNCN (Td)<br /> Y= C +S + Td<br /> (1)<br /> Yd = Y – Td<br /> <br /> (2)<br /> <br /> Từ (1) và (2) : Yd = C+ S (3)<br /> C = Y – Td – S<br /> <br /> (4)<br /> <br /> Trong đó: Y: Thu nhập cá nhân, C: Tiêu dùng, S: Tiết kiệm, Td: Thuế TNCN.<br /> Dựa vào cơ sở lý thuyết và những phân tích trên, tác giả đề nghị mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 8<br /> nhóm yếu tố (thu nhập cá nhân, tiết kiệm, thuế TNCN, giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học<br /> vấn, nghề nghiệp) là các biến độc lập tác động đến biến phụ thuộc là mức chi tiêu tiêu dùng cá nhân với<br /> giả định rằng cá nhân được điều tra trong bảng khảo sát chi tiêu giới hạn trong phần thu nhập có được từ<br /> tiền lương tiền công.<br /> Qua nghiên cứu thực tế tại TP.HCM để đo lường, định lượng mức độ tác động của chính sách giảm<br /> thuế TNCN đến chi tiêu của người dân có thu nhập từ tiền lương tiền công, từ đó xây dựng được mô hình<br /> theo chi tiêu của cá nhân tại TP. HCM như sau:<br /> Mức chi tiêu = Hằng số + Thu nhập cá nhân + Tiết kiệm + Thuế TNCN + Giới tính + Độ tuổi + Tình<br /> trạng hôn nhân + Trình độ học vấn + Nghề nghiệp.<br /> Phân tích hồi quy là sự nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của một hay nhiều biến (biến độc lập hay biến<br /> giải thích) đến một số biến (biến kết quả hay biến phụ thuộc) nhằm dự báo biến kết quả dựa vào các giá<br /> trị được biết trước của các biến giải thích. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy để ước lượng mức<br /> độ ảnh hưởng của các yếu tố: thu nhập cá nhân, tiết kiệm, thuế TNCN, giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn<br /> nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp (biến giải thích) đến chi tiêu tiêu dùng cá nhân (biến kết quả).<br /> Nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích hồi quy tuyến tính sử dụng biến phụ thuộc dạng biến giá trị<br /> liên tục để ước lượng xác suất một sự kiện sẽ xảy ra với những thông tin của biến độc lập mà ta có được.<br /> Sử dụng phương pháp định tính, suy diễn giải thích để đề ra các giải pháp phù hợp, từ đó để xuất kiến<br /> 300<br /> <br /> hân t ch tác động ch nh sách giảm thuế thu nhập cá nhân đến tiêu dùng tại TP.HCM<br /> nghị chính sách thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương tiền công cho phù hợp.<br /> Thu nhập cá nhân<br /> <br /> Tiết kiệm<br /> <br /> Độ tuổi<br /> <br /> Tình trạng hôn nhân<br /> <br /> Chi tiêu, tiêu dùng<br /> <br /> Thuế TNCN<br /> <br /> Trình độ học vấn<br /> <br /> Giới tính<br /> <br /> Nghề nghiệp<br /> <br /> ình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất<br /> <br /> ghiên cứu của tác giả)<br /> <br /> Trước khi đưa ra bảng câu hỏi khảo sát, qua trao đổi cá nhân được biết mỗi cá nhân khó có thể nắm<br /> được toàn tổng chi tiêu trung bình trong tháng, đa phần cá nhân có thể ước chừng các khoản chi tiêu cá<br /> nhân. Do vậy khi đưa ra bảng câu hỏi khảo sát, tác giả liệt kê các khoản chi tiêu: chi thuê nhà, chỗ ở; chi<br /> ăn uống; chi sức khỏe, y tế; chi học tập, nâng cao trình độ; chi vui chơi giải trí; chi vui mua sắm trang<br /> thiết bị; chi khác (đi lại, quan hệ xã hội, cho tặng, cấp dưỡng,…).<br /> Từ (4) C = Y – Td – S, ta xây dựng phương trình hồi quy có dạng:<br /> C = β0 + β1.Y – β2.Td –β3.S + βK.XK + ε<br /> <br /> (5)<br /> <br /> (XK = 1,6)<br /> <br /> - Biến phụ thuộc C đo lường mức chi tiêu, tiêu dùng cá nhân bình quân trong tháng. C nhận giá trị 1<br /> nếu chi tiêu cá nhân chịu tác động của chính sách thuế TNCN mới, C nhận giá trị 0 nếu chi tiêu cá nhân<br /> không chịu tác động của chính sách thuế TNCN mới.<br /> - Biến độc lập: Y: Thu nhập cá nhân, Td: Thuế TNCN, S: Tiết kiệm, X1: Giới tính, X2: Độ tuổi, X3:<br /> Tình trạng hôn nhân, X4: Trình độ học vấn, X5: Nghề nghiệp, β0 : hằng số, β1 – βk : hệ số hồi quy riêng<br /> phần (Partial regression coefficients), ε : sai số<br /> 3.2. Mô tả biến nghiên cứu<br /> 3.2.1. Biến phụ thuộc<br /> Biến phụ thuộc (C) sử dụng trong mô hình là mức chi tiêu, tiêu dùng của cá nhân trung bình hàng<br /> tháng. Trong hầu hết các mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu dùng của cá nhân hay<br /> một công ty hay thậm chí một đất nước thì nhân tố được chọn làm đại diện cho biến phụ thuộc phổ biến<br /> nhất là số chi tiêu hàng tháng. Ngoài chỉ tiêu đại diện chi tiêu tiêu dùng trong các nghiên cứu về các nhân<br /> tố ảnh hưởng đến tiêu dùng mà các công ty thực hiện khảo sát thị trường cũng hay dùng số sản phẩm tiêu<br /> thụ để làm chỉ tiêu đại diện cho biến phụ thuộc. Tuy nhiên trong bài tác giả thực hiện đã chọn chỉ tiêu số<br /> tiền chi tiêu hàng tháng làm đại diện vì nhận ra rằng đây là đại lượng phản ánh rõ nhất sự tiêu dùng hàng<br /> tháng của cá nhân. Mọi nhân tố làm tăng hay giảm lượng chi tiêu hàng tháng của đối tượng nghiên cứu<br /> chính là các nhân tố tác động đến chi tiêu hàng tháng của người lao động có thu nhập từ tiền lương tiền<br /> công tại TP.HCM.<br /> 3.2.2. Biến độc lập<br /> Với mục đích của nghiên cứu là định lượng các yếu tác động đến chi tiêu hàng tháng của người tiêu<br /> dùng có thu nhập từ tiền lương tiền công tại TP.HCM, trong các yếu tố tác động đến chi tiêu thì yếu tố<br /> chính sách thuế TNCN được tác giả chọn làm mục tiêu để phân tích. Một số chỉ tiêu đại diện cho các<br /> nhân tố này sẽ được tác giả đưa vào mô hình, đây là các nhân tố quen thuộc gần gũi và mang tính chất đại<br /> diện phù hợp cho mục tiêu nghiên cứu. Việc lựa chọn các nhân tố này dựa vào các lý thuyết và các nghiên<br /> cứu trước đây. Theo đó các nhân tố được lựa chọn là: Thu nhập cá nhân, tiết kiệm, thuế TNCN, giới tính,<br /> độ tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp. Trong đó:<br /> Thu nhập của cá nhân trung bình hàng tháng (Y) được đề cập trong nghiên cứu này là số tiền mà cá<br /> nhân thực nhận trung bình hàng tháng, được tính bằng đồng Việt Nam, trong các nghiên cứu của Bimal<br /> Signh (2004) và Richar Sutherland và Roland Cralgwell (2012) thì đây là chỉ tiêu đại diện cho sự giàu có.<br /> 301<br /> <br /> ùi gu ên há<br /> <br /> ư ng uế hi<br /> <br /> Thuế TNCN (Td) được đề cập trong nghiên cứu này là số tiền thuế TNCN phải đóng trung bình<br /> hàng tháng cho Nhà nước theo Luật Thuế TNCN tại thời điểm năm khảo sát là 2012 và 2016, được tính<br /> bằng đồng Việt Nam.<br /> Tiết kiệm (S) là số tiền trung bình hàng tháng còn lại không được sử dụng cho chi tiêu, tiêu dùng cá<br /> nhân (như thuê nhà, chỗ ở; ăn uống; sức khỏe, y tế; học tập, nâng cao trình độ; vui chơi, giải trí; mua sắm<br /> trang thiết bị và các chi tiêu khác (như đi lại, quan hệ xã hội, cho tặng, cấp dưỡng…), được tính bằng<br /> đồng Việt Nam.<br /> Giới tính (X1), nhận giá trị 1 đại diện cho nam và giá trị 0 đại diện cho nữ. Chỉ tiêu này được sử<br /> dụng trong nhiều nghiên cứu của Wiyada Tanvatanagul và Vichai Tanvatanagul (2007), Helen Lee và<br /> Andrew Tan (2006),…<br /> Độ tuổi (X2), là yếu tố đóng vai trò ảnh hưởng đến chi tiêu, tiêu dùng. Mỗi độ tuổi sẽ có sở thích chi<br /> tiêu và nhu cầu khác nhau kéo theo hành vi và cách nhìn nhận khác nhau về từng khía cạnh các vấn đề.<br /> Tình trạng hôn nhân (X3) đánh giá mức độ cũng như quyết định chi tiêu tiêu dùng của cá nhân khác<br /> nhau giữa các nhóm có tính trạng hôn nhân khác nhau.<br /> Trình độ học vấn (X4) quyết định khả năng chi tiêu tiêu dùng thông qua thông nhập có được, khi cá<br /> nhân có trình độ học vấn cao có thu nhập cao thì mức chi tiêu cũng sẽ nhiều hơn. Việc lựa chọn yếu tố<br /> này dựa vào lý thuyết của John Maynard Keynes thì quy luật tâm lý cơ bản là ở chỗ con người có thiên<br /> hướng tăng tiêu dùng cùng với tăng thu nhập, nhưng không tăng theo cùng một tốc độ của tăng thu nhập.<br /> Nhìn chung phần cá nhân có thu nhập cao sẽ chi tiêu, tiêu dùng nhiều hơn.<br /> Nghề nghiệp (X5), nghề nghiệp của một người cũng tác động đến tiêu dùng cá nhân bất kì. Mỗi cá<br /> nhân sẽ tùy vào tính chất nghề nghiệp, môi trường công việc và quan hệ với các cá nhân khác trong phạm<br /> vi công việc mà có những hành vi hay động cơ tiêu dùng khác nhau. Theo Bùi Minh Quỳnh (2014), cách<br /> thức tiêu dùng của con người còn chịu sự chi phối rất lớn bởi nghề nghiệp của họ. Một ca sĩ chuyên biểu<br /> diễn trên sân khấu luôn mua sắm quần áo hàng hiệu, độc đáo…, người làm nghề giáo viên lại thường mua<br /> quần áo trang nhã, kín đáo…<br /> 3.3. Mô tả dữ liệu nghiên cứu<br /> Dữ liệu dùng cho việc nghiên cứu nhân tố thuế TNCN tác động đến chi tiêu, tiêu dùng hàng tháng<br /> của cá nhân người lao động có thu nhập từ tiền lương tiền công tại TP.HCM được thu thập thông qua việc<br /> khảo sát các các nhân tại TP.HCM. Việc chọn đối tượng khảo sát là hoàn toàn ngẫu nhiên thông qua khảo<br /> sát online kết hợp với điều tra trực tiếp trên phiếu trả lời.<br /> Trong phân tích hồi quy tuyến tính bội, theo Tabachnick & Fidell (1991), để phân tích hồi quy đạt<br /> được kết quả tốt nhất, thì kích cỡ mẫu phải thỏa mãn công thức: n ≥ 8m + 50, trong đó: n là kích cỡ mẫu,<br /> m là số biến độc lập của mô hình.<br /> Nghiên cứu này sử dụng 8 biến độc lập, nên số mẫu tối thiểu cần thiết là: n ≥ 8x8 + 50. Vậy kích<br /> thước cỡ mẫu n ≥ 114.<br /> Thông thường, các nghiên cứu trong thực tế thì nhà nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu bằng hoặc lớn hơn<br /> 200. Đề tài sử dụng số liệu của 395 của cá nhân có thu nhập từ tiền lương tiền công đang làm việc sinh<br /> sống tại TP.HCM năm 2012 và năm 2016. Đây được cho là giai đoạn trước và sau khi có sự thay đổi mức<br /> giảm trừ gia cảnh (bắt đầu từ ngày 01/07/2013).<br /> Sau khi lọc lấy những phiếu hợp lệ, số liệu còn lại thỏa mãn yêu cầu là 365 cá nhân. Mỗi cá nhân<br /> được quan sát qua 02 năm và biến được theo dõi tương ứng theo từng quan sát, tổng cộng 730 quan sát.<br /> Để nghiên cứu đề tài tác động của chính sách thuế TNCN đến chi tiêu tiêu dùng tại TP.HCM. Tác<br /> giả sử dụng bảng câu hỏi có 31 câu hỏi bao gồm dữ liệu về thu nhập, chi tiêu, tiết kiệm và dữ liệu cá nhân<br /> (giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân…).<br /> 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> 4.1. Tác dụng của Luật Thuế thu nhập cá nhân từ tiền lƣơng tiền công<br /> Những năm qua, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta và cộng đồng<br /> 302<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản