
Phép màu
Truyện ngắn của Trần Thanh Giao
Tôi hết sức bàng hoàng, và lo lắng khi nghe tin anh Lam bị đứt mạch máu não đang nằm
trong bệnh viện. Tôi phóng ngay tới nơi. Nhìn qua khe cửa khép hờ của phòng cấp cứu,
tôi cố nhận diện anh Lam giữa hai dãy giường sắt, trên có những con người đang nằm
thiêm thiếp, tay chân mồm mũi lằng ngoằng dây, nối với các ống truyền nước biển,
truyền ô-xy, nối với những chiếc máy nhấp nháy đèn xanh đỏ, như nắm níu sự sống
mong manh...
... Chị Duyên, vợ anh Lam, kể sơ diễn biến bệnh tình của anh từ nửa đêm qua tới giờ,
cuối cùng chị nói:
- Bác sĩ bảo anh hôn mê sâu, tình trạng rất xấu. Hạn chế tiếp xúc...
Tôi ra về, chỉ còn biết nén tình cảm lại và chờ đợi... một phép màu.
***
Tôi và anh Lam là bạn thân, cùng ở chung một đơn vị thời kháng chiến gian khổ. Anh
thuộc lớp học sinh thành thị, khá đẹp trai, đàn hay hát giỏi, biết làm việc và nói năng lưu
loát. Nhiều cô gái mê anh, kể cả các cô văn phòng cũng như các cô trong những xóm
chúng tôi đóng quân. Tính anh cũng khá "bay bướm", ai anh cũng có cảm tình, nhưng
quả thật, anh chưa kết với ai. Nói cho đúng, anh là một người sống có trách nhiệm, được
mọi người mến yên, tin tưởng. Với tài đó, đức đó, anh dần được cấp trên "chấm" và giao
cho những trách nhiệm từ thấp tới cao. Đến bây giờ, anh đã là một trong những người
lãnh đạo chủ chốt của tỉnh. Nay anh bị tai biến, cả tỉnh đều lo lắng. Người ta đã dự tính
danh sách ban lễ tang, chọn người viết điếu văn...

Chị Duyên, ngày trước là nhân viên văn thư đánh máy của văn phòng. Chị hiền dịu, tuy
không thật "sắc sảo mặn mà", nhưng rất có duyên. Nhiều người mê chị. Ai cũng bảo: lấy
được một người như chị Duyên làm vợ thì thật có phúc. Chị không phải là người để anh
Lam yêu mê say đắm. Nhưng anh đến tuổi phải có vợ và chị đúng là một người vợ "ích
tử, vượng phu". Hai người gặp nhau, lấy nhau như một lẽ đương nhiên. Anh có chị lo hậu
phương vững chắc nên cứ thăng tiến dần. Chị có anh cũng nở mày nở mặt. Qua hơn chục
năm chung sống, hai anh chị sinh được ba cháu gái, thông minh, học giỏi... Thỉnh thoảng
có người chọc anh chỉ có "ba con vịt giời", anh cười, tặc lưỡi: "Số phận mà, phải chấp
nhận thôi. Vả lại thời buổi này, đâu có ai nặng lòng vì chuyện con trai, con gái..." Bây giờ
anh nằm đó, rủi có bề gì thì lấy ai mà chống gậy đây...
Anh Lam hôn mê suốt ba mươi ngày đêm thì được bệnh viện kéo về từ cõi chết. Anh đã
tỉnh lại. Đúng là có phép màu chăng? Tôi chạy ngay tới bệnh viện thăm anh.
Thật ra, "phép màu" cũng chỉ có thể cứu anh khỏi chết. Nhưng anh bị liệt nửa người,
giọng nói méo mó, đầu óc lắm khi ngẩn ngẩn ngơ ngơ. Điều trị một thời gian nữa, bệnh
anh đã "ổn định", bệnh viện trả anh về nhà, với lời dặn kỹ: tránh để anh bị xúc động
mạnh.
Tôi liền đến nhà thăm anh. Anh cố đưa bàn tay phải ra bắt tay tôi, nhưng anh bất lực vì
nửa người bên phải đã liệt rồi. Tôi đọc được nỗi đau trong ánh mắt anh, khi anh phát ra
những tiếng ngọng nghịu, chào tôi và chìa bàn tay trái run run về phía tôi... Tôi nắm mấy
ngón tay mềm nhũn, nhìn gương mặt dày bự, ngẩn ngơ như trẻ nít, thương anh quá... Anh
còn sống đó, nhưng đã bị cuộc sống loại bỏ ra rồi... Nhìn quanh, tôi thấy khá đông bạn
bè, người quen... Chị Duyên luôn cố gắng nở cười, trả lời những câu thăm hỏi gần như là
giống nhau của những người đến sau, đến trước; những câu trả lời cũng gần giống nhau,
lặp đi lặp lại. Ai ra về cũng nói chị thật có phước khi anh từ cõi chết trở về. Thầy hay
thuốc giỏi đã đành, nhưng không phải ai cũng có phước. Thôi, bây giờ chỉ lo chăm sóc
cho anh, mọi việc "đời" coi như bỏ hết...
Trong đám đông bạn bè thân sơ ấy, tôi chợt thấy đôi mắt lạ lùng của một người phụ nữ
đứng lấp ló tít đàng xa. Đôi mắt lặng lẽ, mang một nỗi đau còn sâu hơn nỗi đau trong đôi

mắt chị Duyên ngày đầu tiên anh đôt quị. Chị Duyên đau còn có thể kêu đau để mọi
người chia sẻ, còn người phụ nữ kia đau đớn hơn nhiều mà chẳng dám kêu đau! Nỗi đau
chỉ hiện hình lên đôi mắt. Phải rồi, tôi nhớ đôi mắt ấy và nhớ ra gương mặt chị, tuy chị đã
thay đổi nhiều sau gần mười năm "mất tích", để anh Lam có thể lên được chỗ đứng hôm
nay. Đúng hơn là chỗ đứng hôm qua...
Anh Lam là một con người "bay bướm" nên nhiều chị em bắt được tín hiệu ấy và đến với
anh. Nhưng vì có trách nhiệm nên anh không dối mình cũng không lừa người. Khi có ai
đó nói rằng "em yêu anh nhưng chỉ có mình em chứ không còn ai khác", thì anh thu mình
lại, lẳng lặng rút êm. Anh biết, những người phụ nữ yêu anh đều là những người có tâm
hồn rất gần gũi anh, họ chân thành và đứng đắn, yêu anh và muốn xây dựng cuộc sống
hạnh phúc lâu bền với anh. Anh cũng muốn lắm chứ. Nhưng thật lòng mà nói, anh đang
thiếu - hay đúng hơn đang khát - tình yêu, chứ hạnh phúc gia đình anh không thiếu. Anh
chẳng lấy chị Duyên vì hạnh phúc gia đình đó sao? Xem ra kiếm được người yêu khó hơn
kiếm được chồng hay vợ. Càng khó hơn khi tìm ra người tri kỷ. Hình như con người chỉ
tìm được chồng hay vợ, còn người yêu hay tri kỷ, việc ấy là của trời cho. Vậy nên những
người để trái tim mình rung động vì anh dần dần cũng biết kìm nén lại, không đến với
anh nữa, để đi tìm một cuộc sống hạnh phúc bình thường, mà có khi họ cũng chẳng tìm
ra. Chỉ có chị là khác. Chị đến với anh vì chị yêu anh, dù biết anh đã có vợ có con. Chị
không đòi anh phải cam kết "chỉ có em chứ không còn ai khác". Chị biết anh không làm
được điều đó. Chị chỉ cần anh thật lòng yêu chị, yêu không dối lòng mình.
Chị có bằng thạc sĩ kinh tế, nghề nghiệp vững vàng, yêu âm nhạc, thích văn chương. Phải
nói là chị khá xinh đẹp nhưng ngoài bốn mươi rồi mà chị vẫn sống độc thân. Chẳng biết
chị quá lo học lo làm hay chị quá kén chọn. Dòng chảy cuộc đời đưa chị đến gặp anh, hay
trời xui khiến chị gặp anh chăng? Lần đó, chị từ Hà Nội đi dự một cuộc họp ở Đà Lạt.
Anh từ tỉnh cũng đến hội nghị ấy. Mọi người ở chung một khách sạn, họp chung, ăn
chung... Trong hội nghị, anh nói ngắn gọn, nhưng ý kiến thật sắc sảo. Anh nói những điều
chị rất muốn nói nhưng chưa biết diễn đạt thế nào. Nghe anh, mắt chị rực sáng. Trong
tiếng vỗ tay vang dậy và kéo dài của cả hội trường, chị nhận ra ở anh một đồng chí, một

đồng minh, hơn nữa, một người "soi đèn" trong cuộc sống mà chị cảm thấy rất tù mù,
ngột ngạt, cần thay đổi nhưng chẳng biết phải thay đổi ra sao...
Buổi sáng, chị xuống phòng ăn sớm, đi la cà xem xét bữa ăn tự chọn: phở, hay bánh
cuốn, hay bánh mì ốp-la, sốt vang... đây? Chị liếc nhìn khắp phòng... Anh đến sau chị,
chọn ngay món phở. Chị cũng chọn ngay phở và bưng đến:
- ... Em ngồi đây được không?
- Mời cô... Cô cũng thích phở?
- Vâng. Người mình xa xứ còn nhớ phở. Em dân Hà Nội mà không nhớ phở Hà Nội sao?
Anh cười:
- Thật ra quê của phở là ở Nam Định...
Chị ngạc nhiên vì một người nói giọng Nam bộ lại biết rõ quê gốc của phở. Càng ngạc
nhiên hơn khi anh nói tiếp:
- Nhưng khi lên Hà Nội, phở mới thật là phở Việt Nam...
Người phụ nữ nào mà không thích nịnh. Chị cũng vậy thôi. Suốt buổi sáng đó, chị lâng
lâng với ý nghĩ: mình là người Hà Nội.
Buổi trưa, chị cũng "tình cờ" ngồi chung mâm với anh. Bữa ăn được khai vị bằng vang
Đà Lạt. Có người chê vang Đà Lạt dở. Có người nói nó cũng không dở lắm đâu, vì nó
được chọn làm thức uống trong các cuộc tiếp đãi sang trọng. Người chê vang Đà Lạt dở
nói: "Tôi uống vang Bordeaux nhiều rồi. Vang Đà Lạt làm sao sánh kịp." Mọi người cùng
cười. Anh chỉ tủm tỉm và chẫm rãi nói: "Vang Bordeaux hay vang Đà Lạt cũng có nhiều
loại. Chắc anh uống Bordeaux lâu năm đựng trong thùng gỗ sồi..." - "Đúng rồi!" - "Và
chắc đó là thùng gỗ sồi bị sét đánh nên anh mới nhớ Bordeaux đến như vậy?" Mọi người
cười phá lên. Chẳng biết vang đựng trong thùng gỗ sồi bị sét đánh ngon đến mức nào
nhưng chị nếm vang Đà Lạt hôm đó thấy nó ngon như ... sét đánh!

Buổi cơm chiều, chị lặng lẽ tìm anh để ngồi cùng, nhưng không thấy. Mãi sau, khi mọi
người ăn gần xong, có người đã đứng dậy lên phòng, chị mới thấy anh ôm cặp từ ngoài đi
vào, vẻ vội vã. Chị "tình cờ" bước ra:
- Anh ăn tối chưa?
- Chưa. Có chút việc ở tỉnh, tranh thủ làm cho xong.
- Em cũng bận nên bây giờ mới xuống. Còn mâm trong kia, ta vào đi anh.
Khi hai người ngồi xuống, chị đùa:
- Dù tuyết rơi gió nổi / Em vẫn đợi anh về...
Mắt anh sáng lên, nhìn chị, bỗng anh chợt cười:
- Dù có ai đến hỏi: / Anh đi ăn tiệc rồi? / Dù có ai đến nói: / Anh vẫn còn rong chơi / Thì
em ơi cứ đợi...
Họ hiểu nhau... Và sau đó, trong các buổi tham quan đỉnh Lang Bian, hay đi chơi hồ
Tuyền Lâm, chị cứ "tình cờ" ở cạnh bên anh. Họ có rất nhiều chuyện để nói với nhau, nói
mãi không dứt, dường như trên đời này chẳng có thú nào vui hơn là được ở bên nhau và
trò chuyện cùng nhau. Sau đó, chị xin chuyển công tác về tỉnh này. Cũng chẳng khó khăn
gì vì tỉnh đang "trải thảm đỏ" đón người tài. Ở chung thành phố, họ có điều kiện gặp gỡ
nhau thường xuyên. Rồi chị chủ động "thiết kế" những cuộc đi chơi với những lý do rất
"hợp lệ", "hợp pháp". Bạn bè thân quen thấy hai người kết nhau, lấy làm lo ngại cho anh,
đúng hơn là lo ngại cho cái ghế của anh, vì mất anh, tỉnh sẽ mất một cán bộ lãnh đạo tốt.
Chị cũng biết vậy nên về sau cố tránh những cuộc hẹn hò, gặp gỡ anh, "rút lui vào bí
mật". Có lần chị gặp tôi, đưa cho tôi tập sách của Stephan Zveig, trong có truyện Bức thư
của người đàn bà không quen. Ít lâu sau, chị hỏi ý kiến tôi về tập sách đó. Tôi biết ý chị
nên chỉ nói: truyện rất hay. Chị cười buồn: "Hay, nhưng tác giả của nó chẳng được một
giải thưởng nào hết. Tôi đọc một số tác giả được giải Nobel nhưng tôi thấy ông này viết
hay hơn họ..." Tôi hỏi: "Theo chị thì hay chỗ nào?" - "Hay ở chỗ chỉ cần yêu và được yêu
thôi. Thậm chí giả vờ làm điếm để được sống hết mình một đêm với người mình yêu

