intTypePromotion=1

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn Sinh học lớp 11

Chia sẻ: Phan Phan | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:20

0
228
lượt xem
39
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn Sinh học lớp 11

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện với mong muốn giúp học sinh tích cực và chủ động trong việc tiếp thu chủ đề này, để các em có thể tự giải đáp những tò mò, thắc mắc của bản thân đồng thời có những hành trang cần thiết cho việc chăm sóc sức khỏe bản thân, đồng thời nhằm khai thác có hiệu quả nội dung giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh khi giảng dạy môn sinh lớp 11 Cơ bản. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn Sinh học lớp 11

  1. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH                                                         Mã số:………….                                                               SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM LỒNG GHÉP  KIẾN THỨC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TRONG GIẢNG DẠY MÔN SINH HỌC LỚP  11                                               Người thực hiện: Dương Thị Oanh                         Lĩnh vực nghiên cứu:           Quản lí giáo dục…………………….                 Phương pháp giảng dạy bộ môn…....             Phương pháp giáo dục…….…….….                                   Lĩnh vực khác…………………........  Có đính kèm:       Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật  khác Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             1                                 GV: Dương Thị Oanh
  2. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN: 1. Họ và tên: Dương Thị Oanh 2. Ngày 28 tháng 6 năm 1968 3. Giới tính: Nữ 4. Địa chỉ:  ­ Cơ quan: Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh – Long Bình Tân – Biên Hòa ­ Nhà riêng: B7/N4 – Khu phố 2 – Phường Long Bình Tân – Biên Hòa –  Đồng Nai 5. Điện thoại: 0918608870 6 . Chức vụ: Chủ tịch Công đoàn; giáo viên II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: 1. Học vị : Cử nhân 2. Chuyên nghành: sinh học 3. Năm vào nghành: 1991 III. CÁC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TRONG NHỮNG NĂM GẦN  ĐÂY: 1. Năm học 2006 – 2007: Phương pháp dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ  áp dụng vào chương II: “Cấu trúc của tế bào ”– Sinh 10 chương trình nâng   cao. 2. Năm học 2007 – 2008: Suy nghĩ về  phương pháp đánh giá, kiểm tra kết  quả học tập của học sinh bằng trắc nghiệm khách quan. 3. Năm học 2008 – 2009: Một số  ý kiến đóng góp vào phương pháp chủ  nhiệm. 4. Năm học 2009 – 2010: Áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng  dạy chương III: sinh trưởng và phát triển” – Sinh 11 chương trình nâng cao. 5. Năm học 2010 – 2011: Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục  giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11. Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             2                                 GV: Dương Thị Oanh
  3. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 MỤC LỤC I.  Lí do chọn đề tài ................................................................Trang 1 II. Thực trạng trước khi thực hiện các giải pháp ....................Trang 2 III. Nội dung: 1. Cơ sở lí luận ..................................................................Trang 4 2. Nội dung biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài..Trang 6 IV. Kết quả ………………………………………………… Trang 13 V. Bài học kinh nghiệm – kiến nghị……………………… . Trang 13 VI. Kết luận.............................................................................Trang 14 VII. Tài liệu tham khảo...........................................................Trang 14     Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             3                                 GV: Dương Thị Oanh
  4. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 Tên sáng kiến kinh nghiệm: MỘT SỐ KINH NGHIỆM LỒNG GHÉP KIẾN THỨC  GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TRONG GIẢNG DẠY MÔN SINH HỌC LỚP 11 ­ ­ ­ ­ ­ * * * ­ ­ ­ ­ ­ I – LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Theo qui luật tự nhiên, mọi sinh vật không ngừng phát triển và thay đổi. Con người   cũng vậy. Kể từ khi chào đời, cơ thể  ngày ngày lớn lên, trí tuệ  ngày càng thêm sâu  sắc. Có một khoảng thời gian đặc biệt mà các em có những bước phát triển nhảy  vọt về cả thể chất lẫn tâm hồn, giai đoạn này kéo dài trong vài năm, biến các cô bé,  cậu bé trở thành những cô gái, chàng trai. Đây là giai đoạn rất quan trọng đánh dấu   sự hình thành giới tính và nhân cách của mỗi con người ,  và đư ợc gọi là “giai đoạn  dậy thì ”. Sức khỏe sinh sản của các em  lúc này đứng trước nhiều mối đe dọa nghiêm trọng .  Nếu không được hướng dẫn, chăm sóc một cách đúng đắn, hai nguy cơ  lớn nhất   ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản  của các em   là tình trạng có thai sớm và tình  trạng nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục trong đó  HIV/ AIDS  là bệnh  lây truyền qua đường tình dục rất nguy hiểm, nó không phải là bệnh riêng của  người làm nghề mại dâm hay tiêm chích ma túy, mà nó có thể gõ cửa từng nhà, nếu   ta không biết cách đề phòng.  Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản phải bắt đầu bằng giáo dục từ gia đình, vai  trò của cha mẹ, truyền thống, đạo đức, luật pháp của quốc gia, sau đó là kiến thức   cơ  bản về  cơ  thể  học, sinh lý học, các thông tin về  tình dục và sinh sản cơ  bản. Muốn thực hiện được điều đó thì việc phổ  biến các kiến thức chuyên môn về  cơ  thể  học, sinh lý học, tâm lý học và các quan điểm về  đời sống tình dục phải được  trình bày một cách công khai. Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản hiện nay đã trở thành một nhu cầu cấp bách  của xã hội. Trong nhà trường giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản chưa được đưa  vào dạy một cách công khai, có bài bản; mới chỉ  dừng ở mức lồng ghép vào một số  tiết của một số môn học, chỉ  có tính cung cấp cho học sinh thông tin về  dân số  và   sức khỏe sinh sản, các biện pháp sinh hoạt tình dục an toàn để tránh lây nhiễm HIV.  Còn ngoài xã hội, trong các cơ sở tôn giáo, trong các câu lạc bộ hôn nhân và gia đình   chỉ nói một cách mơ hồ chưa giám trình bày một rõ ràng khoa học đó không phải là   giáo dục giới tính đích thực. Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             4                                 GV: Dương Thị Oanh
  5. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 Trong các môn học có thể  nói  sinh học là môn dễ  lồng ghép những kiến thức cơ  bản về  việc giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản  giúp các em có ý thức bảo vệ  cơ thể, sống lành mạnh. Trong các năm học qua để giáo dục học sinh có thức bảo vệ sức khỏe tốt, trong các   tiết  dạy có kiến thức liên quan tôi đã chú ý lồng ghép vấn đề này vào trong bài dạy,   tôi nhận thấy đã đạt được một số  hiệu quả  nhất định với hy vọng góp phần nâng  cao được ý thức cho học sinh tự  bảo vệ cơ thể  mình từ  đó có ý thức bảo vệ  bản  thân và gia đình thông qua môn học.  Với mong muốn giúp học sinh tích cực và chủ  động trong việc tiếp thu chủ  đề  này, để   các em có thể  tự  giải đáp những tò mò,   thắc mắc của bản thân đồng thời có những hành trang cần thiết cho việc chăm sóc   sức khỏe bản thân, tôi đã tìm hiểu thu thập thông tin, sử dụng một số phương pháp,  phương tiện dạy học lồng ghép nhằm khai thác có hiệu quả nội dung giáo dục giới  tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh khi giảng dạy môn sinh lớp 11 Cơ bản. II ­  THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ  TÀI: 1. Thực trạng về giáo dục giới tính, sinh sản sức khoẻ  vị thành niên, tình dục   an toàn trong nhà trường THPT: ­ Việc đưa giáo dục giới tính vào trường học là điều đã được thừa nhận. Nhưng hầu   hết các trường THPT đều lúng túng khi đưa giáo dục giới tính vào giảng dạy. Các  trường đều chọn giải pháp là lồng ghép hoặc ngoại khoá. Các giáo viên thiếu kiến   thức chuyên môn, thiếu kĩ năng giảng dạy về vấn đề nhạy cảm này. Cũng chưa có   trường nào xây dựng được chuẩn kiến thức chung về  vấn đề  này khi dạy lồng  ghép. Nếu dạy thì cũng chỉ thiên về lí thuyết còn thực hành thì bỏ ngỏ. Về giáo cụ  trực quan là không có, giáo viên không được tập huấn kĩ càng để giảng dạy về vấn   đề giới tính.   ­ Trách nhiệm này hiện nay có lẽ giáo viên sinh học được mong đợi nhiều nhất. Tuy  nhiên dạy thế  nào thì giáo viên phải tự  biên tự  diễn. Không có hướng dẫn cụ  thể  không ai kiểm tra, đánh giá công tác này. Hậu quả  của việc này dẫn đến học sinh  thu nhận một lượng kiến thức rời rạc, chắp vá. Bản thân các em đã nhận được kiến   thức từ  thông tin đại chúng, trong khi cần một người tổng hợp, đưa ra những kiến  thức có tính cơ bản, tổng quát thì chúng ta chỉ có thể cung cấp cho các em kiến thức   lồng ghép, không hệ  thống, thiếu thực hành nặng về  lý thuyết. Bởi vậy bài toán  giáo dục giới tính trong trường THPT chưa có lời giải đáp thích đáng. ­ Giáo dục giới tính là giáo dục kĩ năng sống. Khi giáo dục kĩ năng sống đòi hỏi có  những kĩ năng riêng thì mới đạt hiệu quả cao. Hầu hết các giáo viên THPT hiện nay   chưa được đào tạo kĩ năng này một cách chuyên nghiệp. Điều này dẫn tới hậu quả  là giáo viên né tránh hoặc khi giảng dạy không mang lại hứng thú cho học sinh. Đặc   biệt các giáo viên trẻ thường bỏ qua khi mà chưa có qui định nào bắt buộc phải dạy   giáo dục giới tính trong từng bài học cụ thể. ­ Các cấp lãnh đạo cũng bỏ  ngỏ  khâu quản lí theo dõi giáo dục giới tính. Chưa có  tổng kết, đánh giá về hoạt động này trong nhà trường một cách chính xác, sát thực.  Dạy lồng ghép chỉ  là phương án tạm thời, rất cần thiết có những chương bài chi  tiết, cụ thể, phù hợp về  giáo dục giới tính. Rất cần thiết đào tạo một đội ngũ giáo  viên chuyên nghiệp, được trang bị  đầy đủ  kĩ năng, kiến thức, nắm bắt được tâm lí  Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             5                                 GV: Dương Thị Oanh
  6. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 học sinh để thực hiện các bài dạy giáo dục giới tính, giáo dục sức khoẻ sinh sản vị  thành niên, tình dục an toàn một cách hiệu quả. 2. Thực trạng về hiểu biết giới tính, sức khoẻ sinh sản vị thành niên, tình dục   an toàn của học sinh trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh: ­ Tháng 11 năm 2010 vừa qua trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh tổ chức cho 28 lớp   thi tìm hiểu kiến thức sinh sản vị thành niên, cùng đồng hành với học sinh trong suốt  cuộc thi với vai trò hỗ  trợ  kiến thức và là thành viên của ban giám khảo, tôi nhận  thấy các em hầu như không được trang bị  kiến thức về kĩ năng sống cũng như  tình   dục an toàn. Các tiểu phẩm tham gia đều kết thúc bằng việc thiếu hiểu biết về an   toàn tình dục nên có thai ngoài ý muốn; khi có thai người mà các em cần đến để chia   sẻ đầu tiên là bạn bè, chỉ có 1/ 28 tiểu phẩm là xuất hiện vai trò của giáo viên chủ  nhiệm; 4/ 28 xuất hiện vai trò của mẹ  nhưng chỉ  là “la mắng”, từ  thực tế  này cho   thấy vai trò giáo viên, gia đình trong việc giáo dục giới tính cho các em rất hạn chế,   các em chưa tin tưởng để  chia sẻ  những vương mắc đầu đời về  giới tính, an toàn   tình dục. 3. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài: a. Thuận lợi: ­ So với các bộ môn khác môn sinh là bộ môn có nhiều kiến thức liên quan tới giáo  dục giới tính, sức khỏe sinh sản. ­ Ứng dụng CNTT trong giảng dạy cho phép cặp nhật nhiều thông tin cũng như hình   ảnh minh họa cho bài dạy. ­ Bản thân tôi là một giáo viên nữ, lớn tuổi, có gia đình nên việc giảng dạy kiến   thức sinh sản dễ dàng tự nhiên, học sinh tin tưởng.  b. Khó khăn: ­ Hiện nay, trong chương trình đào tạo của Việt Nam, vấn đề giáo dục giới tính cho  học sinh chưa được quan tâm đúng mức. Chưa hề có môn giáo dục giới tính được   đưa vào nội dung giảng dạy. Vấn đề này được lồng ghép vào một số nội dung của   môt số bài trong môn sinh học, môn giáo dục công dân, môn địa lí. Tuy nhiên, những   nội dung đó vẫn còn chung chung, chưa đáp ứng được nhu cầu hiểu biết và sự cần  thiết phải nắm vững các kiến thức về giới tính của các em học sinh. ­ Thái độ của các em khi nói đến những vấn đề  liên quan đến giới tính còn khá dè   dặt, các em chưa hề mạnh dạn trong quá trình tìm hiểu hay tiếp thu những kiến thức   đó.  Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên chuyên trách về  những vấn đề  này hầu như  chưa  trường nào có. Các hoạt động giáo dục của nhà trường chỉ  dùng lại ở  một số  buổi   nói chuyện với các chuyên gia về  một số  vấn đề  sức khoẻ  giới tính, phòng chống   HIV/AIDS...Các giáo viên giảng dạy các bộ môn khi đề cập đến việc dạy các kiến  thức về giới tính cho các em, một số người còn nói rằng: Giáo viên nói ra những vấn  đề đó còn cảm thấy  ngượng nữa là các em học sinh. Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             6                                 GV: Dương Thị Oanh
  7. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 ­ Xã hội hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này nên hay không nên  đưa chương trình giáo dục sức khoẻ giới tính vào chương trình giáo dục PTTH. Có ý  kiến cho rằng: không nên vẽ  đường cho hươu chạy, ý khác lại cho rằng: Thà vẽ  đường cho hươu chạy còn hơn để con em chúng ta lao xuống vực. Vấn đề lớn được  đặt ra ở đây là làm thế nào để lấp lỗ hổng trong công tác giáo dục giới tính cho các   em đang ở giai đoạn vị thành niên. Theo ý kiến của cá nhân tôi, việc cần thiết phải trang bị cho các em các kiến thức  về  vấn đề  giới tính là không cần phải bàn cãi. Tuy nhiên, không nên quá tham lam  để  đưa quá nhiều nội dung giáo dục giới tính trong một tiết học, chỉ  nên làm sao  việc giáo dục giới tính  diễn ra một cách nhẹ nhàng và đều đặn qua các tiết học. 4. Số liệu thống kê: Tiến hành khảo sát kiến thức cơ  bản vê sức khỏe sinh sản vị  thành niên trước khi   thực hiện đề tài ở 4 lớp 11 A (1, 2, 6,7) tại trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh với 10   câu hỏi sau: Câu 1: Vị thành niên gồm các giai đoạn nào sau đây: a. Từ khi sinh ra đến tuổi dây thì. b. 3 giai đoạn: từ 10 – 13 tuổi; từ 14 – 16 tuổi; từ 17 – 19 tuổi c. Cả 2 ý trên đều đúng. Câu 2: Giai đoạn từ 16 tuổi đến 19 tuổi cấu tạo sinh lí có đặc điểm: a. Cơ thể trưởng thành, con gái hầu hết có kinh; con trai “chín về sinh dục”. b. Lớn nhanh. c. Hình thành các đặc điểm sinh dục phụ  thứ  cấp; có kinh(  ở  nữ), sinh tinh (ở  nam). Câu 3: Nếu quan hệ tình dục có giao hợp ở tuổi vị thành niên sẽ: a. Không gây hậu quả vì cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ. b. Có thai vì ở nữ trứng đã chín và rụng; ở nam đã hình thành tinh trùng. c. Cả 2 ý trên đều đúng. Câu 4:  Tình yêu là gì? a. Là tình bạn thân thiết giữa một người nam và một người nữ. b. Là tình thương mến sâu sắc, sự hòa hợp giữa hai người khác giới. c. Là tình cảm giữa hai người không phân biệt giới tính. Câu 5: Điểm khác biệt giữa tình bạn cùng giới và khác giới là: a. Tình bạn giữa bạn nam và bạn nữ. b. Có sự chân thành tin cậy, đồng cảm sâu sắc. c. Có một khoảng cách tế nhị, không dễ biểu lộ thân mật gần gũi, Câu 6: Thế nào là tình dục an toàn? a. Thỏa mãn nhu cầu sinh lý.       b.  Đảm bảo không nhiễm các bệnh lây lan qua đường tình dục, không gây tổn  thương cơ quan sinh dục. c. Cả hai đều đúng. Câu 7: Chu kỳ kinh nguyệt của một người phụ nữ: a. Thay đổi từ 21 đến 35 ngày. b. Chính xác 28 ngày. Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             7                                 GV: Dương Thị Oanh
  8. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 c. Có một chu kỳ. Câu 8: Bạn hãy cho biết, HIV không lây qua con đường nào sau đây? a. Đường tình dục. b. Giao tiếp thông thường ( ôm hôn, bắt tay…). c. Lây từ mẹ nhiễm HIV sang con. Câu 9: Bạn hãy cho biết, ở nước ta hiện nay tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất nằm  trong độ tuổi nào? a. Dưới 20 tuổi. b. Từ 20­ 29 tuổi. c. Từ 30­ 39 tuổi Câu 10: Tác hại của việc mang thai ở tuổi vị thành niên: a. Ảnh hưởng tới sức khỏe, tâm sinh li b. Ảnh hưởng tới kinh tế xã hội, tương lai của bản thân. c. Cả 2 ý trên đều đúng. Kết quả khảo sát: (tính theo tỷ lệ %) Câu  1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Đúng 38,2 43,1 39,3 11,6 29,1 39 47,7 88,7 72,8 59,4 Sai 61,8 56,9 60,7 88,4 70,9 61 52,2 11,3 27,2 40,6 III ­ NỘI DUNG ĐỀ TÀI: 1 – Cơ sở lí luận:  1.1 Những kiến thức cơ bản về giáo dục giới tính cần cung cấp cho học sinh ở  trường THPT: ­ Giáo dục những hiểu biết về tâm lý, sinh lý, vệ sinh tuổi dậy thì, những biến đổi   và khác biệt về tính cách em trai em gái do các hocmon từ các tuyến sinh dục gây ra. ­ Giáo dục kỹ năng giao tiếp  ứng xử  trong quan hệ giữa bạn trai, bạn gái ở  tuổi vị  thành niên với cha mẹ, anh em trong gia đình. ­ Hiểu biết sâu sắc các giá trị của tình bạn, tình yêu, hiểu biết những thất bại tâm lý   và các nguy hại lâu dài phải gánh chịu nếu vượt qua trái cấm. ­ Giáo dục bạn trai biết tự trọng, tôn trọng bảo vệ bạn gái, có bản lĩnh, biết tự kiềm   chế để chứng minh cho một tình yêu lành mạnh nếu nó chớm nở. ­ Giáo dục kỹ năng phòng vệ trước các áp lực nội tại đến từ hai phía, đặc biệt giáo   dục kỹ năng phòng vệ cho các em gái, và rất nhiều nội dung khác xoay quanh tâm lý  giới tính tuổi mới lớn giúp các em tự  tin, tự  chủ, tự hoàn thiện nhân cách, tự  nhận  thức để  thay đổi hành vi, vững vàng nói "không" trước cám dỗ  của bản năng ở  độ  tuổi phát dục. 1.2 Một số bài dạy có thể lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong chương   trình sinh học ở trường THPT: * Lớp 10 STT Chương, bài Kiến thức về giới tính 1 Bài 18. Chu kì tế bào và quá trình  Sinh đôi cùng trứng nguyên phân 2 Bài 19. Giảm phân Quá trình hình thành trứng, tinh trùng Đa dạng di truyền người Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             8                                 GV: Dương Thị Oanh
  9. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 3 Bài 30. Sự nhân lên của virut trong  HIV và bệnh truyền nhiễm qua đường  tế bào chủ tình dục­ Tình dục an toàn 4 Bài 32. Bệnh truyền nhiễm và miễn  Tình dục an toàn dịch   Lớp 11 STT Chương, bài Kiến thức về giới tính 1 Bài 38, 39. Các nhân tố ảnh hưởng  Dậy thì và các yếu tố ảnh hưởng đến  đến sinh trưởng và phát triển ở  sức khoẻ sinh sản động vật Hoocmon giới tính Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến  sức khỏe sinh sản 2 Bài 40. Thực hành Xem phim về  Xem phim về quá trình phát triển của  sinh trưởng và phát triển ở động vật thai nhi Quá trình thụ tinh 3 Bài 45. Sinh sản hữu tính ở động  Thụ tinh vật 4 Bài 46. Cơ chế điều hoà sinh sản Hoocmon sinh sản­ điều hoà sinh sản Phòng tránh thai Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh tinh và  sinh trứng 5 Bài 47. Điều khiển sinh sản ở động  Các biện pháp phòng tránh thai và dân số  vật và sinh đẻ có kế hoạch ở người kế hoạch hoá   Lớp 12 STT Chương, bài Kiến thức về giới tính 1 Chương I. Cơ chế di truyền và biến  Các bệnh di truyền dị 2 Chương II. Tính qui luật di truyền Sự di truyền một số tính trạng ở người 3 Chương III. Di truyền học quần thể Giao phối cận huyết và luật hôn nhân gia  đình 4 Chương V. Di truyền học người Di truyền học người 5 Phần VI. Tiến hoá Bảo vệ vốn gen loài người 1.3 Phương pháp tổ chức dạy học: Giáo dục giới tính là vấn đề nhạy cảm, đòi hỏi sự khéo léo của người giáo viên.  Một số yêu cầu cần đạt được trong dạy học: ­ Nội dung kiến thức khoa học chính xác, phù hợp với lứa tuổi, không né tránh gây  những hiểu biết sai lầm của học sinh. ­ Phương pháp dạy học đa dạng, sinh động, lôi cuốn. ­ Khuyến khích việc tự tìm hiểu, nghiên cứu của học sinh. ­ Kích thích tối đa tính tích cực, bạo dạn nhưng nghiêm túc của học sinh. Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             9                                 GV: Dương Thị Oanh
  10. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 ­ Giáo viên sử  dụng thuật ngữ  chính xác nhưng khéo léo làm giảm tính căng thẳng  trong tiết học. ­ Kết hợp giữa kiến thức khoa học với kiến thức xã hội, tình yêu, hôn nhân và gia  đình. 2 ­ Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài: Bài 38: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRUỞNG VÀ PHÁT TRIỂN Ở  ĐỘNG VẬT I. Kiến thức giáo dục giới tính: ­ Thế nào là giai đoạn dậy thì. ­ Những thay đổi về cấu tạo cơ thể, tâm sinh lí ở giai đoạn dậy thì? Nguyên nhân  của sự thay đổi này. II. Vận dụng vào tiết dạy: Hoạt động 1: Tìm hiểu ảnh hưởng của các hoocmôn sinh trưởng và phát triển  ở động vật có xương sống. Hoạt động của giáo viên, học sinh Nội dung kiến thức GV:  ­ Tranh vẽ H 38.1 ­ Sử dụng phiếu học tập. HS: Các nhóm thảo luận và phát biểu vai trò của các  hoocmon ­ Nhóm 1: HM sinh trưởng ­ Nhóm 2: Tirôxin ­ Nhóm 3: Ơstrogen ­ Nhóm 4: Testosteron GV: Thế nào là dậy thì? Tuổi dậy thì là mốc đánh dấu sự  trưởng thành về  mặt   sinh học của cơ thể. Chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn đầu   từ 10 – 13 tuổi; giai đoạn giữa từ 14 – 16 tuổi; giai đoạn   cuối từ 17 – 19 tuổi. GV: Tuổi dậy thì trung bình của người Việt Nam? Đối với người Việt Nam, trẻ em nữ dậy thì hoàn toàn vào   khoảng 12 ­14 tuổi, đánh dấu bằng lần có kinh nguyệt   đầu tiên; trẻ em nam dậy thì hoàn toàn vào khoảng 14 ­16   tuổi  đánh dấu bằng lần xuất tinh không chủ   định  đầu   tiên. GV: Những thay đổi về cấu tạo giải phẫu? ­   Không   nên   quá   lo   lắng  Ở  tuổi dậy thì, dưới tác dụng của tuyến yên và tuyến   với những thay đổi của cơ  sinh dục, cơ  thể    diễn ra hàng loạt những biến đổi về   thể ở tuổi dậy thì. hình thể, về sinh lí và tâm lí. Các cơ quan sinh dục ngoài   phát triển, kích thích cơ  thể  tăng nhanh, trung bình mỗi   trung bình mỗi năm chiều cao tăng thêm 4 ­ 8 cm, khối   lượng cơ  thể  tăng thêm 4 ­ 8 kg. Hệ  cơ  cũng phát triển   mạnh nhưng tốc độ  chậm hơn so với hệ xương, làm cho   trẻ em thường gầy, cao, chân tay lèo khèo, động tác vụng   Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             10                                 GV: Dương Thị  Oanh
  11. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 về thiếu chính xác. Có một số trường hợp, khối lượng cơ   thể  tăng rất nhanh và béo bệu. Hệ  mao mạch dưới da   phát triển làm cho da trở nên hồng hào hơn, nhất là các   em nữ, lông mọc  ở  mu và nách, tuyến mồ  hôi và tuyến   nhờn phát triển mạnh làm cho lông, tóc được mượt mà.   Nhiều khi tuyến nhờn không thải ra ngoài kịp,  ứ  đặc lại   tạo thành trứng cá, nhất là ở trẻ  nam. GV: Những thay đổi trong cấu tạo cơ quan sinh dục   của nam? Ở nam, da bìu bắt đầu thẫm màu và nhăn lại, tinh hoàn to   lên, các ống sinh tăng kích thước và bắt đầu sinh sản tinh   trùng   gây   xuất   tinh.   Ở   giai   đoạn   đầu   chất   lượng   tinh   trùng còn kém nên khả năng thụ thai không cao và nếu có   thụ thai thì chất lượng thai chưa tốt. Cơ phát triển mạnh,   vai rộng, chậu hông hẹp, tầm vóc cao to, thanh quản nở   rộng làm cho giọng nói trở nên vang và trầm. GV: Những thay đổi trong cấu tạo cơ quan sinh dục   của nữ? ­   Có   ý   thức   giữ   gìn,   vệ  Ở nữ, biến đổi căn bản là sự phát triển của tử cung và 2   sinh   thân   thể   nhất   là   các  buồng   trứng,   các   nang   trứng   phát   triển   mạnh   và   hình   em nữ. thành các trứng chín và rụng gây hiện tượng kinh nguyệt.   Trong thời gian đầu, chu kì kinh nguyệt không đều và độ   dài của chu kỳ, về số ngày hành kinh và lượng máu chảy.   Hiện tượng không đều trong chu kỳ kinh nguyệt  thường   kéo dài khoảng một năm nên các em khó tính chính xác   ngày rụng trứng để dự đoán khả năng có thể thụ thai. Vú   và mông to lên, xương chậu phát triển theo chiều rộng,   mô mỡ dưới da phát triển và dày tạo nên dáng mềm mại.   Thanh quản phát triển kiểu nữ  giới làm cho giọng thanh   và cao. ­ Lưu ý trong các mối quan  GV: Những thay đổi về tâm lý? hệ   ở  gia đình, nhà trường,  Tình trạng không cân xứng trong quá trình phát triển của   xã hội; đặc biệt là với bạn  hệ tim mạch đã ảnh hưởng đến sự tuần hoàn não, có thể   khác giới. gây ra thiểu năng tuần hoàn não nhất thời nên thường   kém tập trung, kém nhạy cảm và trí nhớ  chưa tốt. Hoạt   ­ Tình dục an toàn. động thần kinh cũng có sự thiếu cân xứng, quá trình hưng   phấn   thường   mạnh   hơn   quá   trình   ức   chế   nên   trẻ   em   thường   nóng   tính   khả   năng   kềm   chế   kém,   phản   ứng   thường bộp chộp, thiếu chính xác, cảm xúc thường thay   đổi đột ngột. Xuất hiện trạng thái mơ  mộng và sự  quan tâm đến bạn   bè  khác giới  nảy sinh những suy nghĩ về  giới  tính,  về   quan hệ tình dục. Các em có thể dễ bị kích thích về quan   hệ nam, nữ có tâm lý  “muốn làm người lớn”,  thích sống   độc lập. Bởi vậy, người lớn thường có  ấn tượng là các   em bướng bỉnh và không biết vâng lời GV: Nguyên nhân những thay đổi ở giai đoạn này? Do các hoocmon sinh dục, các hoocmon này có tác dụng   kích thích sự  phát triển giới tính  ở  thai nhi.  Ở  giai đoạn   Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             11                                 GV: Dương Thị  Oanh
  12. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 trước tuổi dậy thì, hàm lượng các hoocmon này còn thấp,   nhưng đến tuổi dậy thì hàm lượng tăng cao kích thích sự   chuyển hóa và hoàn thiện của các tế  bào sinh dục, làm   phát triển các đặc điểm sinh dục phụ. Bài 39: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRUỞNG VÀ PHÁT TRIỂN Ở  ĐỘNG VẬT( Tiếp theo) I. Kiến thức giáo dục giới tính: ­ Ảnh hưởng của thức ăn , một số chất độc hại đối với sức khỏe của tuổi dậy thì. ­ Một số biện pháp cải thiện chất lượng dân số. II. Vận dụng vào tiết dạy: Hoạt động 1: Tìm hiểu ảnh hưởng  nhân tố bên ngoài đến sinh trưởng và phát   triển ở động vật. Hoạt động của giáo viên, học sinh Nội dung kiến thức   GV: Hãy cho biết  ảnh hưởng của : thức     ăn, nhiệt độ, ánh sáng, các chất độc hại  tới sinh trưởng phát triển của ĐV HS: Sử  dụng phiếu học tập, thảo luận   nhóm: +Nhóm 1: Ảnh hưởng của thức ăn +Nhóm 2: Ảnh hưởng của nhiết độ +Nhóm 3: Ảnh hưởng của ánh sáng +Nhóm 4:  Ảnh hưởng của các chất độc  hại đối với con người GV: Vì sao tuôi d ̉ ậy thì cần nhiều dinh   10 lời khuyên dành cho dinh dưỡng  dưỡng? tuổi dậy thì: Vì ở lứa tuổi này, các chất dinh dưỡng đóng   ­ Tạo cho thói quen ăn uống tốt, khoa  vai trò tối cần thiết trong việc tăng cường   học. thể  lực, trí lực và  ảnh hưởng cả  đối nhân   ­ Hạn chế ăn quà vặt, thực phẩm thức  xử thế. Trong giai đoạn phát triển vượt bậc   ăn nhanh. này, cần rất nhiều năng lượng, nhất là từ   những chất thật bổ  dưỡng.  Ảnh hưởng từ   ­ Biết tìm hiểu những thực phẩm nào  bạn bè, sách báo và sự  thay đổi nội tiết có   có lợi cho sự phát triển của chúng, và  thể  khiến các em có những quan niệm sai   ngược lại những thực phẩm nào có  lầm trong chuyện ăn uống. hại. ­ Một số thông tin thêm về  các chất gây  ­ Ăn nhiều chất sắt hơn. độc hại đối với cơ thể: ­ Ăn thêm nhiều đạm, nhất  + Khói thuốc lá chứa 7.000 chất độc gây  là các em nam. hại cho sức khỏe ­ Bổ sung chất kẽm: Đối với nam,  +  Nghiện ma tuý  ảnh hưởng đến sức khoẻ   lượng kẽm cần bổ sung mỗi ngày là  của người nghiện, có thể  dẫn  đến nhiễm   33%, đối với nữ là 20%, so với thời kỳ  độc mãn tính cho cơ  thể, gây ra rối loạn  ở   trước dậy thì. từng bộ phận, đến suy nhược toàn thân . ­ Ăn nhiều chất canxi: Cả nam và nữ  Ma tuý làm cho người nghiện thay đổi trạng   đến độ dậy thì đều cần thêm chừng  thái tâm lý, sa sút về tinh thần, thay đổi nhân   Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             12                                 GV: Dương Thị  Oanh
  13. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 cách. 33% hàm lượng canxi so với giai đoạn  Các chất ma tuý đã tạo cho thần kinh con   trước (tương đương 1200 miligram  người luôn trong trạng thái bị  kích thích, bị   mỗi ngày, so với 800 miligram ở giai  “cột   chặt”   thân   phận   với   ma   tuý.   Khi   đã   đoạn trước dậy thì). dùng ma tuý với liều cao thường xuyên, có   ­ Cung cấp thêm vitamin trong thực  thể   người   nghiện   đã   bị   đầu   độc   hệ   thần   phẩm.  kinh, tiêu hoá bị rối loại nên con người phản   ứng chậm chạp, trở  thành thẩn thờ, cơ  thể   ­ Lựa chọn các chất béo có lợi ăn  hao mòn, gầy yếu, có lúc bị kích thích cao độ   nhiều cá và giảm các món rán. có thể  dẫn tới các hành động liều lĩnh, gây   ­ Tránh mắc ""hội chứng búp bê  ra phạm tội. Barbie": giống như những người mẫu  +  Một số  chứng bệnh do bia rượu gây ra:   hoàn hảo trên các trang tạp chí. Bệnh thận, rối loạn trao đổi chất, bệnh về   dinh dưỡng, ngộ độc, thoái hóa não, teo não,   ung thư  miệng, họng, thực  quản, viêm  dạ   dày mãn tính, bệnh tim, các bệnh về gan ... Hoạt động 2: Tìm hiểu một số biện pháp cải thiện chất lượng dân số . Hoạt động của giáo viên, học sinh Nội dung kiến thức GV:Chất lượng dân số?Các biện pháp nâng  cao chất lượng dân số? HS: Thảo luận, trả lời. ­ Chế  độ  dinh dưỡng hợp lí, tích cực  Thông tin bổ  sung:Theo chương trình tổng   tham gia luyện tập thể  dục thể  thao,  thể nâng cao thể lực và tầm vóc người Việt   Nam   giai   đoạn   2010­2030,  thì   điều   quan   không  sử  dụng các   chất   độc   hại  đối  trọng là phải rèn luyện thể  lực  bằng các   với cơ thể. môn thể thao phát triển chiều cao và có chế   độ  dinh dưỡng hợp lý, đầy đủ  chất để  con   người phát triển.  THỰC HÀNH QUAN SÁT SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN Ở MỘT SỐ ĐỘNG VẬT I. Kiến thức giáo dục giới tính: Xem phim về quá trình phát triển của thai nhi Quá trình thụ tinh  Bài 45: SINH SẢN HỮU TÍNH Ở ĐỘNG VẬT I. Kiến thức giáo dục giới tính: ­ Cơ chế thụ tinh, quan niệm về tình dục an toàn. II. Vận dụng vào tiết dạy: Hoạt động 3: Tìm hiểu các hình thức thụ tinh ở động vật Hoạt động của giáo viên, học sinh Nội dung kiến thức Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             13                                 GV: Dương Thị  Oanh
  14. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 GV:  ­ Thụ  tinh là gì? Tại sao hợp tử  có bộ  NST lưỡng bội? ­ Tại sao từ một tế bào (hợp tử) lại có  thể phát triển thành một cơ thể mới? ­ Tại sao thụ tinh trong tiến hóa hơn thụ  tinh ngoài? HS: tham khảo phần III SGK trang 177 GV: Điều kiện xảy ra sự  thụ  tinh? Kết  quả của thụ?  GV: điều kiện để  xảy ra   quá trình thụ  thai ở người? Ở tuổi vị thành niên có thể  mang thai không?  + Nếu quan hệ  tình dục có giao hợp   Có trứng rụng; tinh trùng gặp được trứng  ở tuổi vị thành niên sẽ có thai vì ở nữ  ở 1/3 ngoài của ống dẫn trứng; hợp tử di  trứng đã chín và rụng;  ở  nam đã hình  chuyển được về  tử  cung; màng tử  cung  thành tinh trùng. đủ dày để thể làm tổ GV: Hậu quả của TD không an toàn? Mắc   các   bệnh   lây   nhiễm   qua   đường   TD   + Tình dục an toàn là:  hiện nay người ta đã tìm thấy khoảng hơn   ­   Không   dẫn   đến   mang   thai   ngoài   ý  20   loại   bệnh   lây   qua   đường   TD   như:   muốn   và   lây   nhiễm   các   bệnh   qua  HIV/AIDS, lậu, giang mai, sùi mào gà, mụn   đường   TD   như:   lậu,   giang   mai,   rộp   sinh   dục,   hạ   cam,   trùng   roi   âm   đạo,   HIV/AIDS... nhiễm nấm sinh dục, chlamydia… Khoảng     ­ Là những hình thức quan hệ  TD có  một nửa số người khi nhiễm không có triệu   chứng   gì   hoặc   có   triệu   chứng   không   rõ   thể giúp hạn chế nguy cơ bị lây nhiễm  ràng, có thể tự “biến mất” (nhưng không có   các   bệnh   lây   truyền   qua   đường   TD,  nghĩa là khỏi bệnh).  điều này có nghĩa là không có sự  tiếp  GV: Các biện pháp đảm bảo TD an toàn? xúc cơ  thể  với máu, chất dịch âm đạo  Sử dụng bao cao su: tránh khỏi các bệnh lây   và tinh dịch từ  người này sang người  truyền qua đường TD và mang thai sớm.  khác. Sống chung thủy: chỉ nên có quan hệ TD với   ­ Là những việc làm hướng tới bảo vệ  người mà mình biết chắc người đó chỉ  có   cơ thể, tinh thần cũng như khám phá ra  quan hệ  TD t mình bạn và điều quan trọng   bản năng và nhu cầu của mình. là người đó phải không bị mắc các bệnh lây   truyền   qua   đường   TD.   Đề   cao   lối   sống   chung thủy một vợ một chồng. Kiểm tra sức khỏe định kỳ: từ 6 tháng đến 1   năm  ở  cả  người nam và  nữ   đều nên tiến   hành kiểm tra sức khỏe tổng quát. Bài 46: CƠ CHẾ ĐIỀU HÒA SINH SẢN I. Kiến thức giáo dục giới tính: ­ Hoocmon sinh sản, cơ chế điều hoà sinh sản, các yếu tố ảnh hưởng đến sinh tinh  và sinh trứng   phòng tránh có thai và phá thai ở tuổi vị thành niên. Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             14                                 GV: Dương Thị  Oanh
  15. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 II. Vận dụng vào tiết dạy: Họat động 1: Tìm hiểu tác động của hoocmon trong cơ chế điều hòa sinh tinh,  sinh trứng. Hoạt động của giáo viên, học sinh Nội dung kiến thức GV: Ứng dụng công nghệ thông tin kết hợp với  giảng   giải   cơ   chế   điều   hòa   sinh   tinh,   sinh  trứng? GV: chu kì kinh nguyệt GV: Hậu quả của việc mang thai ở vị thành niên? Việc mang thai ở tuổi vị thành niên chưa có gia  đình có nhiều tác hại, không chỉ hại riêng bản thân  mà cho toàn xã hội. ­ Mang thai ở độ tuổi vị thành niên ảnh hưởng  không tốt đến sức khoẻ vì ở tuổi VTN, cơ thể chưa  phát triển đầy đủ cả về sinh – tâm lý. Chính vì vậy,  + Hậu quả của việc mang thai  nếu VTN để đẻ, nguy cơ tử vong mẹ và con vẫn  ở vị thành niên: còn cao. Và có nguy cơ cao về vô sinh, con trí tuệ  ­  Ảnh hưởng không tốt đến sức  kém, dị tật… và còn nhiều hậu quả nghiêm trọng  khác nữa. khoẻ   vì   ở   tuổi   VTN,   cơ   thể  ­ Về mặt kinh tế – xã hội: khi có thai phải ngưng  chưa   phát   triển   đầy   đủ   cả   về  việc học hành, khó khăn về kinh tế, không kiếm  sinh – tâm lý, nguy cơ  tử  vong  được việc làm, dẫn VTN đi vào con đường bế tắc.  mẹ  và con vẫn còn cao, con trí  Mặt khác, sinh con ở vị thành niên còn làm tăng  tuệ kém, dị tật…  nhanh dân số. ­ Về mặt kinh tế – xã hội: phải  GV:   Hậu   quả   của   việc   nạo   phá   thai   ở   vị   thành   ngưng việc học hành, khó khăn  niên? về  kinh tế, làm tăng nhanh dân  Hậu quả về mặt sinh học: số. ­ Những biến chứng có thể  gặp trong nạo phá thai   đó là băng huyết, thủng tử cung và nhiễm trùng kéo   + Hậu quả  của việc nạo phá  dài có thể phải cắt bỏ tử cung, nếu được thực hiện   an toàn không có những tai biến cấp thời thì cũng   thai ở vị thành niên: gây hậu quả  lâu dài về  sau, trong đó có thể  kể  là   ­   Bị   các   biến   chứng  sớm   như:  những trường hợp sinh khó do nhau bám thấp, nhau   băng huyết, trường hợp nặng có  tiền đạo vô sinh ….nếu lạm dụng việc nạo hút thai. thể  dẫn đến shock có khi phải  ­ Một điều cần phải nói thêm, là nạo phá thai ở lứa   truyền máu, sót nhau. tuổi vị thành niên tiềm  ẩn rất nhiều nguy cơ. Vì  ở   ­ Tổn thương cơ quan sinh sản:  lứa tuổi các em, cơ  quan sinh dục chưa phát triển   rách   cổ   tử   cung,   thủng   cổ   tử  đầy đủ nên thường có biến chứng nhiều hơn, thêm   cung. Nhiễm trùng  ở  vùng chậu  vào đó là các em thường lo sợ  người lớn biết nên   hay nhiễm trùng  toàn  thân  dẫn  tìm đến những cơ sở tư nhân, thậm chí là cơ sở bất   đến   nhiễm   trùng   huyết.   hợp  pháp không có  chức  năng và không  đủ   điều   kiện để  thực hiện thủ  thuật , kết quả  là tỷ  lệ  tai   ­  Ảnh hưởng về  tâm lý, gây ra  biến cao, thậm chí có nhiều trường hợp tử  vong.   hội   chứng   stress   với   các   biểu  Có nhiều em, do quá lo sợ nên sau khi nạo phá thai   hiện sau: khó ngủ  hay mất ngủ,  tại  những   nơi  này   và  có  biến  chứng   cũng  không   ngủ  thường gặp ác mộng. Khó  dám trình báo, cho đến khi quá nặng phải vào bệnh   tập   trung   trong   công   việc,   dễ  viện   thì   phải   cắt   bỏ   tử   cung. nóng giận hay giật mình. Giảm  Cần nói thêm  ở  lứa tuổi vị  thành niên nếu các em   ham muốn tình dục về sau, nhất  nữ  mang thai và sinh con thì các nguy cơ  như  sinh   là   luôn   có   mặc   cảm   tội   lỗi.   Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             15                                 GV: Dương Thị  Oanh
  16. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 non, biến chứng lúc sinh và con chậm phát triển   tâm   thần   cao   hơn   gấp   nhiều   lần   so   với   phụ   nữ   trưởng thành. Trẻ  em sinh ra từ  các bà mẹ  tuổi vị   thành niên cũng tử  vong trong năm đầu đời nhiều   hơn 40% so với trẻ  sinh từ các bà mẹ  lứa tuổi hai   mươi. Hậu quả vê tâm lý và xã hội: Về  mặt tâm lý, dù là người có tính vô tư  thì trong   một phút giây nào đó của cuộc đời, những “bà mẹ   trẻ  này” không thể  không chạnh lòng khi nghĩ đến   đứa con mà mình đã từng đang tâm bỏ đi. Thêm vào   đó, nếu những người xung quanh biết được thì còn   nhiều nỗi khổ  tâm mà cô gái gánh chịu khi hàng   ngày phải nghe những “lời ra tiếng vào”. Thực tế   cho thấy các trường hợp mang thai khi còn quá trẻ,   do chưa có đủ kiến thức nên thường các cô chỉ phát   hiện có thai khi thai đã rất lớn, không thể bỏ được.   Chắc chúng ta cũng hình dung ra được những đau   đớn trong tâm hồn của những người mà xã hội gọi   là... “không  chồng mà chửa” Cũng   có   người   cho   rằng   quan   hệ   tình   dục   sớm   nhưng   an   toàn   (   phòng   tránh   thai,   phòng   tránh   bệnh ) thì “không có vấn đề gì”. Đúng là không có   vấn đề  về  thai, về  bệnh, nhưng còn nhiều vấn đề   khác   chưa   được   nghĩ   đến.   Đó   có   thể   là   sự   tổn   thương cơ quan sinh dục nữ ( do còn non yếu ), là   khả  năng nhiễm trùng phụ  khoa tăng lên ( do tăng   trầy xước, nhất là khi không đảm bảo vệ  sinh ).   Ngoài ra còn phải kể  đến sự  tổn thương cảm xúc   của các em. Do chưa hiểu biết đầy đủ, chưa được   chuẩn bị tâm lý và trong hoàn cảnh lén lút nên thay   vì   có   được   cảm   xúc   hạnh   phúc   tràn   đầy   như   ở   những người trưởng thành đã lập gia đình, các em   thường chỉ cảm thấy những thích thú ngắn ngủi và   sau   đó   là   những   lo   sợ,   bất   an   kéo   dài. Phòng tránh thai: Vị  thành niên, thanh niên chưa lập gia đình phải   hạn chế  việc quan hệ  tình dục, trong đó phải đặc   biệt tránh cả  những hoàn cảnh “nguy cơ” có thể   dẫn đến quan hệ “bất ngờ” như  ở nơi thanh vắng   chỉ   có   2   người,   nhất   là   khi   có   uống   rượu   bia. Thứ  hai là nếu nam giới có những cảm xúc không   kiềm   chế   được   thì   người   nữ   phải   kiên   quyết   từ   chối, không chiều theo lời nài ép của bạn và cảm   xúc của mình. Thà mất lòng một chút còn hơn là   phải trả  giá  cho sự  nông nổi  của mình. Việc  từ   chối   “chung   đụng”   không   đồng   nghĩa   với   không   yêu thương mà còn là yếu tố  quan trọng bảo vệ   tình   yêu. Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             16                                 GV: Dương Thị  Oanh
  17. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 Thứ  ba là nếu đã “lỡ”, khi đó người nữ  cần uống   thuốc viên ngừa thai sau giao hợp càng sớm càng   tốt trong vòng 72 giờ, uống 2 viên, viên sau cách   viên   đầu  12  giờ.  Nên   nhớ   đây  là   thuốc   chỉ  dùng   trong trường hợp “khẩn cấp” và không được lạm   +   Một   số   biện   pháp   phòng  dụng như  một loại thuốc ngừa thai vì có thể  gây   rong kinh, rong huyết. Còn nếu “việc lỡ ấy” đã qua   tránh quan hệ tình dục ở tuổi  72 giờ  thì người nữ  phải hết sức chú tâm theo dõi   vị thành niên:  kinh nguyệt để  phát hiện sớm những dấu hiệu có   ­ Tham gia các hoạt động cộng  thai như  mất kinh, căng tức đầu vú v.v... và sớm có   đồng biện pháp giải  ­ Xác định những mục tiêu của  quyết phù hợp. cuộc đời GV:   Kiềm  chế   tình  dục   ở   tuổi  vị   thành  niên  ­   Xây   dựng   một   gia   đình   yêu  như thế nào? thương và hoà thuận ­ Tham gia các hoạt động cộng đồng:  Sự  tham   ­   Rèn   luyện   tính   cách   cương  gia các hoạt động sẽ  hỗ  trợ  cho hành vi kiềm chế   nghị và các kỹ năng quyết đoán vì giúp phát triển cảm giác về giá trị  của bản thân   ­   Kết   bạn   với   những   người   (đã hoàn thành được việc gì đó cho người khác, từ   cùng chí hướng đó tăng lòng tự  tin) và cảm giác được cộng đồng   chấp nhận Tránh những hoàn cảnh cám dỗ ­ Xác định những mục tiêu của cuộc đời: Khi đã  ­ Không uống rượu và thử  dùng  biết   đặt   ra   cho   mình   những   mục   tiêu   trong   đời   các loại ma túy. sống,các  bạn trẻ   sẽ   hiểu rằng thai  nghén  không   ­ Lựa chọn những phương tiện  mong muốn, mắc bệnh lây lan qua đường tình dục   giải trí có tính giáo dục. hay kết hôn sớm sẽ   ảnh hưởng như  thế  nào đến   việc thực hiện những mục tiêu đó. ­   Xây   dựng   một   gia   đình   yêu   thương   và   hoà  thuận:  Kết bạn trong tuổi vị  thành niên dù quan   trọng nhưng không thể  thay thế  được vai trò giáo   dục của gia đình. Gia đình với vai trò tích cực của   cha mẹ và các thành viên khác tạo ra không khí đầm   ấm, tin cậy, củng cố các giá trị và niềm tin. ­ Rèn luyện tính cách cương nghị và các kỹ năng   quyết đoán: Lứa tuổi vị  thành niên rất cần có tính   cách cương nghị, bảo vệ  và biểu lộ  niềm tin của   mình, không cả nể trước những sự nài ép, rủ rê mà   mình   không   muốn,   dám   thẳng   thắn   khước   từ.   Cần có mối quan hệ tốt với những người lớn đáng   tin cậy. ­   Kết   bạn   với   những   người   cùng   chí   hướng:   Nhất là với  những  người cũng  lựa chọn  hành vi   kiềm   chế   như   mình   vì   tuổi   vị   thành   niên   vốn   có   nhiều xúc cảm tình dục, những người bạn ấy sẽ hỗ   trợ cho quyết định lựa  chọn của mình. ­  Tránh những hoàn cảnh cám dỗ:  Có rất nhiều   cơ  hội cám dỗ  trong đời sống như  tiếp bạn khác   giới trong phòng riêng, nhảy trong các cuộc vui, thử   xem phim kích dục vì tò mò... Cần giúp bạn trẻ  vị   thành niên nhận biết trước những hoàn cảnh đó để   Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             17                                 GV: Dương Thị  Oanh
  18. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 tránh tham gia. ­ Không uống rượu và thử  dùng các loại ma túy:   vì những loại này làm suy giảm chức năng suy xét lý   trí của não, làm cho các bạn khó giữ  vững được ý   chí của mình sau khi đã sử dụng chúng. ­ Lựa chọn những phương tiện giải trí có tính   giáo dục: Có nhiều loại sách báo, phim ảnh... đã tô   hồng,  lãng  mạn  hóa tình  yêu,  không  mô tả   trung   thực hậu quả của những lối sống buông thả.  IV – KẾT QUẢ: Sau khi thực hiện việc lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính vào các tiết dạy, tôi  tiến hành khảo sát lại kiến thức ở  4 lớp 11 (A1,2,6,7), với 10 câu hỏi cũ, thu được  kết quả như sau: Câu  1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Đúng 81,4 83,7 87 61,9 79 85,2 84,7 98,5 91,4 88,5 Sai 18,6 16,3 13 38,1 21 14,8 15,3 1,5 8,6 11.5 Như vậy nhận thức của các em về giới và an toàn tình dục tương đối tốt, các em có  khả năng tự bảo vệ bản thân, kĩ năng sống được nâng lên. V – BÀI HỌC KINH NGHIỆM ­ KIẾN NGHỊ: 1. Bài học kinh nghiệm: ­ Những nội dung tạm thời phân chia như  trên chỉ  mang tính chất tương   đối, một  giáo viên có đầu tư kỹ lưỡng về nội dung lồng ghép thì chắn chắn   có thể thực hiện  tốt mục tiêu của mình trong giáo dục chuyên môn cũng   như giáo dục kỹ năng sống  cho học sinh. ­ Tuy nhiên, không nên quá tham lam để  đưa quá nhiều nội dung cần giáo dục giới   tính trong một tiết học, chỉ nên làm sao việc giáo dục  diễn ra một cách nhẹ  nhàng  và đều đặn qua các tiết học, đây  là điều cốt lõi dẫn đến thành công, luôn  ứng dụng  chiến thuật “mưa dầm thấm  lâu”. 2 ­ Kiến nghị : Các chương trình giáo dục giới tính cần sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã  hội. Cha mẹ, thầy cô, y bác sĩ, đoàn thể thanh niên, thông tin đại chúng là những đối   tượng sẽ phối hợp một cách tích cực trong các chương giáo dục giới tính cho trẻ.  Vì hầu hết người lớn chưa có được những kỹ  năng để  tham vấn chính xác và có  hiệu quả, cần có những chương trình huấn luyện cho các đối tượng trên về các vấn   đề  liên quan đến tình dục  ở trẻ vị thành niên, biết cách giao tiếp một cách cởi mở,   chân thành, tôn trọng và có hiệu quả  với trẻ. Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị  thành   niên là một công việc phức tạp và tế nhị, vì vậy đây không phải chỉ là nhiệm vụ của   ngành y tế mà đòi hỏi cả  xã hội, các tổ  chức chính quyền, đoàn thể, nhà trường và  gia đình cùng phối hợp thực hiện. VI ­ KẾT LUẬN: Một số quan điểm lo ngại rằng nếu cung cấp cho trẻ vị thành niên những thông tin   và giúp chúng phòng ngừa có thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục sẽ  vô   Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             18                                 GV: Dương Thị  Oanh
  19. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 tình thúc đẩy trẻ có hoạt động tình dục sớm và bừa bãi. Tuy nhiên, thực tế giáo dục   giới tính ở nhiều nước cho thấy hoàn toàn ngược lại. Tổ chức y tế thế giới đã khảo  sát 19 chương trình giáo dục giới tính trường học ở nhiều nước, tất cả đều cho thấy  trẻ vị thành niên có hoạt động tình dục trễ hơn, giảm hoạt động tình dục, biết cách   sử  dụng các biện pháp ngừa thai một cách hiệu quả, và hoàn toàn không thúc đẩy   trẻ có hoạt động tình dục sớm và nhiều hơn. Nên thực hiện giáo dục giới tính trước   khi trẻ  bước vào tuổi hoạt động tình dục. Các bước tích cực này sẽ  giúp khuyến   khích trẻ không hoạt động tình dục sớm và biết cách sinh hoạt tình dục một cách an   toàn, giảm thiểu thai ngoài ý muốn  ở  các em. Để  thật sự  giúp đỡ  thiếu niên ngăn  ngừa có thai ngoài ý muốn, cần phải tạo điều kiện cho trẻ hiểu biết về tình dục, về  nguy cơ có thai, cách thức ngăn ngừa có thai ngoài ý muốn, và biết những nơi có thể  tham vấn về tình dục trước khi chúng bắt đầu sinh hoạt tình dục.  Giáo dục giới tính giúp trẻ  vị  thành niên có một quan điểm tích cực về  tình dục,  đồng thời cung cấp các thông tin và kỹ năng để trẻ vị thành niên có được thái độ  và   hành vi đúng, hiểu biết và có trách nhiệm về những quyết định của mình. Việc chăm  sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên sẽ hướng các em đến những suy nghĩ, đánh giá,   lựa chọn đúng đắn trong tình bạn, tình yêu để tiến đến hôn nhân khi cơ thể đã hoàn  toàn trưởng thành, có đủ  điều kiện về  sức khỏe, vật chất, được chuẩn bị  về  tinh   thần cho việc sinh con và nuôi con trong điều kiện tốt nhất. Chính điều này sẽ  là  nền tảng để  xây dựng nên những gia đình hạnh phúc, đóng góp vào sự   ổn định và  phồn vinh của xã hội. Trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn còn rất nhiều thiếu sót vậy rất mong sự  quan tâm đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn.  VII – TÀI LIỆU THAM KHẢO : ­ Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn sinh học( Bộ giáo dục – Vũ Đức Lưu chủ biên). ­ Tài liệu những điều giáo viên cần biết để giáo dục kỹ năng sống và sức khỏe sinh  sản vị thành niên – Tổng cục dân số năm 2009. ­ Sách giáo khoa sinh học 11 nâng cao. ­ Sách giáo viên sinh học 11 nâng cao.                                           ­ Các thông tin trên mạng CNTT                                                                                                                              Biên Hòa tháng 5 – Năm 2011                                                                              NG ƯỜI TH ỰC HI ỆN                                                                                                                                                                                                                                                                              Dương Thị Oanh      SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI           CỘNG HÒA XàHỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Đơn vị:Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh             Độc lập  ­ Tự do ­ Hạnh phúc                                                                                    ­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­ PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             19                                 GV: Dương Thị  Oanh
  20. Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong giảng dạy môn sinh học lớp 11 Năm học:2010 ­ 2011 Tên sáng kiến kinh nghiệm: MỘT SỐ KINH NGHIỆM LỒNG GHÉP KIẾN THỨC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH TRONG GIẢNG DẠY MÔN SINH HỌC LỚP 11 Họ và tên tác giả: Dương Thị Oanh             Đơn vị(Tổ): Sinh  Lĩnh vực: Quản lí giáo dục                                             Phương pháp dạy học bộ môn:   Phương pháp giáo dục                                    Lĩnh vực khác:                               1 – Tính mới: ­ Có giải pháp hoàn toàn mới:                                ­ Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có 2 ­ Hiệu quả: ­ Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn nghành có hiệu quả cao ­ Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng  trong toàn nghành có hiệu quả cao                                                                                  ­ Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong đơn vị có hiệu quả cao ­ Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng  trong đơn vị có hiệu quả   3 ­ Khả năng áp dụng: ­ Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách                                Tốt                                 Khá                          Đạt ­ Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện  và dễ đi vào cuộc sống                                 Tốt                                 Khá                            Đạt ­ Đã được áp dụng tronh thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu  quả trong phạm vi rộng                                Tốt                                  Khá                            Đạt XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN                          THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ                  (Kí tên và ghi rõ họ tên)                           (Kí tên, ghi rõ họ tên và đóng dấu)                       Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh                             20                                 GV: Dương Thị  Oanh
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2