
1
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu
Xã hội ngày càng phát triển thì việc hình thành các kỹ năng, năng lực để
đáp ứng những yêu cầu phát triển đó càng trở nên quan trọng và cần thiết, nó trở
thành một trong những vấn đề đáng quan tâm của toàn xã hội nói chung và trong
hệ thống giáo dục nước nhà nói riêng. Sứ mệnh người thầy không đơn giản chỉ
là truyền đạt kiến thức mà phải phát huy được năng lực, đánh thức khả năng tìm
tòi, sáng tạo của học sinh. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền
thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ,
khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ
năng, phát triển năng lực.
Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức
kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, nhằm đáp ứng
hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng
lực thể hiện sự vận dụng kết hợp nhiều yếu tố (phẩm chất, kiến thức và kỹ năng)
được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại
công việc nào đó. Năng lực có các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi
công dân đều cần phải có đó là các năng lực chung cốt lõi. Năng lực cốt lõi bao
gồm những năng lực cơ bản: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng
lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân, năng lực giao tiếp,
năng lực tính toán, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng
lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.
Môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, nó mang đặc thù riêng của môn
học, do đó các năng lực chuyên biệt: năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập
văn bản - năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ là những năng lực đóng
vai trò quan trọng trong việc xác định các nội dung dạy học của môn học.

2
Quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp học sinh hình thành và phát triển
các năng lực, đáp ứng với các yêu cầu phát triển của xã hội, thông qua việc rèn
luyện và phát triển các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói. Với đặc trưng của môn học,
môn Ngữ văn triển khai các mạch nội dung bao gồm các phân môn Văn bản,
Tiếng Việt, Tập làm văn, nhằm hướng dẫn học sinh đọc hiểu các văn bản và tạo
lập được các văn bản theo các kiểu loại khác nhau.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh tiếp xúc với văn bản, môn Ngữ văn
giúp học sinh từng bước hình thành và nâng cao các năng lực học tập của môn
học, cụ thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe, đọc) và năng lực
tạo lập văn bản (gồm kỹ năng nói và viết). Năng lực đọc - hiểu văn bản của học
sinh thể hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức về Tiếng Việt, về các
loại hình văn bản và kỹ năng, phương pháp đọc, khả năng thu thập các thông tin,
cảm thụ cái đẹp và giá trị của tác phẩm văn chương nghệ thuật.
Năng lực tạo lập văn bản của học sinh thể hiện ở khả năng vận dụng tổng
hợp kiến thức về các kiểu văn bản, với ý thức và tình yêu tiếng Việt, văn học,
văn hóa, cùng kỹ năng thực hành tạo lập văn bản, theo các phương thức biểu đạt
khác nhau, theo hình thức trình bày miệng hoặc viết. Thông qua các năng lực
học tập của bộ môn để hướng tới các năng lực chung và các năng lực đặc thù
của môn học.
Phương pháp này phù hợp với đặc trưng môn học. Người dạy hoàn toàn có
khả năng khai thác tốt các thiết bị, đồ dùng dạy học như:
- Máy chiếu để trình chiếu bài giảng Power Point, sơ đồ tư duy Imind
Map…
- Hình minh họa sơ đồ tư duy, phiếu học tập, bài tập nhóm, phim tư liệu…
- Bài giảng Power Point với các kĩ thuật cơ bản và nâng cao: nội dung, hình
ảnh, tạo các đường link đến trò chơi ô chữ, đường link đến phim tư liệu…
- Sơ đồ tư duy Imind Map.
- Phần mềm Adobe Presenter tạo trò chơi ô chữ, câu hỏi trắc nghiệm…
- Kĩ thuật cắt ghép phim ảnh trên Adobe Premier.

3
Giờ dạy học Ngữ văn theo lối mòn thường tạo cảm giác nặng nề, nhàm
chán. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh
vào một giờ học Ngữ văn không chỉ mang lại bầu không khí mới, sự sôi nổi cho
giờ học mà còn giúp cho giờ học thêm sinh động, hấp dẫn, đạt hiệu quả cao. Học
sinh hoàn toàn chủ động và thể hiện sự sáng tạo của mình, không bị gò ép trong
khuôn khổ và hứng thú với bài học.
Thực tế dạy học của dự án đã chứng minh, học sinh đã có tư duy sáng tạo,
đã biết vận dụng kiến thức của nhiều môn học khác nhau và kiến thức trong đời
sống xã hội để giải quyết những vấn đề trong tác phẩm văn học, trong học tập
cũng như trong cuộc sống hàng ngày.
Từ cách dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh, gắn văn học với
thực tiễn đời sống, vận dụng vào cuộc sống một cách tự nhiên chứ không gượng
ép khô khan. Học sinh biết vận dụng kiến thức đã học trong bài để giải quyết các
tình huống thực tiễn.
Những tiền đề lý luận và thực tiễn nói trên chính là lý do để tôi chọn đề tài:
Sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong đoạn trích “ Việt Bắc” nhằm phát
huy năng lực học sinh.
2. Tên sáng kiến kinh nghiệm:
Sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong đoạn trích “ Việt Bắc” nhằm
phát huy năng lực học sinh.
3. Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Anh
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường PT DTNT cấp 2-3 Vĩnh Phúc.
- Số điện thoại: 0986056782; Email: nguyenanhdtnt@gmail.com
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Anh
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: áp dụng trong giảng dạy Ngữ văn cho học sinh
khối 12 ở trường Trung học phổ thông.
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Ngày 17 tháng
10 năm 2020.
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:

4
NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Thực trạng
Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy sự sáng tạo trong việc đổi mới
phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự học của học sinh ở môn Ngữ
văn chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức, việc rèn luyện kỹ
năng chưa được quan tâm đúng mức. Hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa thực sự
khách quan, chính xác (chủ yếu tái hiện kiến thức), chú trọng đánh giá cuối kì
hơn là đánh giá quá trình. Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học còn thụ
động, lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn. Điều đó thể hiện ở
những tồn tại sau:
- Dạy học tích hợp đã được chú trọng, tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫn
mang tính khiên cưỡng, nội dung tích hợp vào bài học như bảo vệ môi trường,
giáo dục kỹ năng sốn còn cách cứng nhắc, chưa làm cho học sinh thực sự hứng
thú khi huy động các kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực vào
việc giải quyết các nhiệm vụ học tập. Việc tích hợp nội môn và tích hợp liên
môn chưa thực sự hiệu quả, chính vì vậy chưa giúp học sinh hình thành kiến
thức, kỹ năng mới và tất nhiên các năng lực của học sinh chưa được phát triển.
- Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực còn mang
tính hình thức. Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức ở các lớp thực hiện
chương trình sách giáo khoa hiện hành nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một vài cá
nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại chưa
thực sự chủ động. Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được tính dân chủ,
mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, thói quen bình đẳng, biết đón nhận
quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá nhân.
- Mặc dù đa số giáo viên đã thực hiện thay đổi phương pháp dạy học, thay
đổi cách thức tổ chức giờ nhằm đạt mục tiêu dạy học theo định hướng phát triển
năng lực cho học sinh song kết quả chưa đạt được như mong muốn mà nguyên
nhân là:
+ Về phía giáo viên: Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không được
thực hiện một cách triệt để, vẫn còn nặng về phương pháp truyền thống, có đổi

5
mới song chỉ dừng lại ở hình thức, chưa đi sâu vào thực chất nhằm giúp khai
thác kiến thức một cách có chiều sâu; việc hiểu hết bản chất của nhóm năng lực
chung và năng lực chuyên biệt ở môn Ngữ văn ở một vài giáo viên vẫn còn hạn
chế.
+ Về phía học sinh: Là con em các dân tộc thiểu số lại ở nội trú nên việc
tiếp cận và tìm tòi những thông tin thời sự phục vụ cho bài học còn hạn chế. Một
số học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp, chưa tích cực trong việc tìm
tòi nghiên cứu bài học nên chưa đảm bảo các năng lực cần thiết.
2. Định hướng chung.
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý
tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết
vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn
hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập
trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý
nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những
tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ
đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các
môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:
- Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành
và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm
thông tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo
của tư duy.
- Có thể lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương
pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương
pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc: Học sinh tự mình hoàn thành
nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên.
- Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với hình thức dạy học. Tùy
theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ
chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; trong lớp học, ngoài lớp học… Cần

