intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học: Biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tập có hiệu quả Tập làm văn miêu tả

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:26

26
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm là bài Tập làm văn nếu không sáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng, góp nhặt của người khác, nội dung bài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng, mới mẻ như tâm hồn của các tác giả nhỏ tuổi. Chất lượng Tập làm văn là chất lượng của cảm thụ văn học, của các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ. Cho nên, thầy và trò phải soạn giảng và học tập tích cực, nghiêm túc, hiệu quả, mới mong nâng cao một cách bền vững chất lượng môn Tiếng Việt ở lớp cuối cấp Tiểu học.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm Tiểu học: Biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tập có hiệu quả Tập làm văn miêu tả

  1. 1      PHÒNG  GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN VỤ BẢN TRƯỜNG TIỂU HỌC VĂN CAO ­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­ Đề tài :    BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 HỌC TẬP  CÓ HIỆU QUẢ TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ NĂM HỌC : 2016­ 2017                               Tác giả   : Nguyễn Thị Hường                               Chức vụ : Giáo viên                               Tổ           : 4­5 Liên Minh, tháng 05 năm 2017
  2. 2      PHÒNG  GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN VỤ BẢN TRƯỜNG TIỂU HỌC VĂN CAO ­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­ Đề tài :    BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 HỌC TẬP  CÓ HIỆU QUẢ TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ NĂM HỌC : 2016­ 2017                               Tác giả   : Nguyễn Thị Hà                               Chức vụ : Giáo viên                               Tổ           : 4 ­ 5                    Phạm vi nghiên cứu   : Tập làm văn lớp 5                Phạm vi áp dụng       : Lớp 5C Trường T.H Văn Cao               Thời gian nghiên cứu : Năm học 2015 ­ 2016               Thời gian áp dụng      : Năm học 2016 – 2017
  3. 3                     Kí hiệu                        : TV – TH  Liên Minh, tháng 05 năm 2017 I. TÊN ĐỀ TÀI :                    BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 HỌC TẬP CÓ HIỆU QUẢ                                         TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ II. ĐẶT VẤN ĐỀ : Dạy tốt phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả  nói riêng   là vấn đề  được nhiều giáo viên tiểu học quan tâm. Chương trình thay sách tiểu   học phát huy bốn kỹ  năng nghe, nói, đọc, viết trong môn Tiếng Việt. Học sinh   tiểu học ngay từ lớp 1, 2, 3 đã được tiếp xúc với nhiều dạng văn bản khác nhau,  có nội dung gần gũi trong cuộc sống và kĩ năng giao tiếp của các em với cộng   đồng.   Đó   là   một   ưu   điểm   không   ai   phủ   nhận.   Tuy   nhiên,   chương   trình   mới  chuyển tải sự thay đổi cả về nội dung và kỹ năng rèn luyện lẫn hình thức, biện   pháp và quy trình lên lớp . Là giáo viên, nhất là giáo viên dạy lớp 4, 5 không ai   tránh khỏi những trăn trở, băn khoăn là làm thế nào giúp học sinh rèn luyện tốt kỹ  năng làm bài Tập làm văn, nhất là văn miêu tả. Qua thực tế sáu năm giảng dạy lớp 5, qua thời gian bồi dưỡng học sinh giỏi   tại Trường Tiểu học Cao Bá Quát, tôi hiếm khi phát hiện được vài ba học sinh   giỏi môn Văn. Tại sao học sinh giỏi tập làm văn ít ỏi, đếm trên đầu ngón tay như  vậy, trong khi Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của chúng ta, các em lúc chưa tròn một   tuổi đã biết nói, năm sáu tuổi đã biết đọc, đã biết viết Tiếng Việt ? Chúng ta đã  tự hào tiếng Việt ta phong phú, giàu hình ảnh, đa dạng về nghĩa, có sức biểu cảm   sâu sắc. Nhưng một thực tế làm buồn lòng những thầy cô giáo chúng tôi vì học  sinh giỏi phân môn Tập làm văn còn quá khiêm tốn. Khi chấm bài Tập làm văn,  tôi thấy đa số học sinh đã biến các bài văn miêu tả thành văn kể, liệt kê một cách   khô khan, nghèo nàn về từ, diễn đạt rườm rà tối nghĩa. Vậy làm thế nào để nâng  cao chất lượng dạy­ học Tập làm văn nhất là văn miêu tả cho học sinh lớp 4, lớp   5? Đi tìm câu trả  lời cho câu hỏi trên là một quá trình và cũng là mục đích cần  hướng đến của các kỹ sư tâm hồn. Để làm tốt vai trò người tổ chức và hướng dẫn, tôi đã tìm tòi, phân tích thực   trạng và lựa chọn một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tập có hiệu quả Tập   làm văn miêu tả. 
  4. 4      Với những lý do trên, tôi chọn và viết đề  tài : “ Biện pháp giúp học sinh  lớp 5 học tập có hiệu quả Tập làm văn miêu tả”, trước hết là giúp nâng cao  chất lượng Tập làm văn cho lớp tôi phụ trách. Sau đó, mục tiêu quan trọng hơn là   góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung.  Giới hạn nghiên cứu: ­ Nghiên cứu và áp dụng cho học sinh lớp 5C Trường Tiểu học Văn Cao từ năm   học 2016 – 2017 và rút kinh nghiệm áp dụng cho các năm sau. III. CƠ SỞ LÝ LUẬN Tập làm văn là một phân môn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao. Tổng hợp   các kiến thức, kĩ năng từ  Tập đọc, Kể  chuyện, Chính tả, Luyện từ  và câu,... để  viết nên một bài Tập làm văn. Theo quan điểm tích hợp, các phân môn được tập hợp lại xung quanh trục   chủ điểm và các bài đọc. Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng gắn  bó chặt chẽ  với nhau. Như vậy, muốn dạy­ học có hiệu quả  Tập làm văn miêu   tả  (tả  cảnh, tả  người) nhất thiết người giáo viên phải dạy tốt Tập đọc, Kể  chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu. Vì trong các bài đọc, trong câu chuyện, trong   các bài tập luyện từ­ câu thường xuất hiện các đoạn văn, khổ  thơ  có nội dung   miêu tả rất rõ về cảnh vật, thiên nhiên, con người,... Bài Tập làm văn nếu không sáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng, góp  nhặt của người khác, nội dung bài văn sẽ  không hồn nhiên, trong sáng, mới mẻ  như tâm hồn của các tác giả nhỏ tuổi. Chất lượng Tập làm văn là chất lượng của cảm thụ  văn học, của các kĩ  năng nghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ  đẻ. Cho nên, thầy và trò phải soạn giảng và  học tập tích cực, nghiêm túc, hiệu quả, mới mong nâng cao một cách bền vững   chất lượng môn Tiếng Việt ở lớp cuối cấp Tiểu học.  Dạy Tập làm văn lớp 5 phải đảm bảo mục tiêu yêu cầu cần đạt về  kiến   thức,   kĩ   năng   của   Chương   trình   giáo   dục   phổ   thông   cấp   Tiểu   học   theo   Chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng môn học (ban hành kèm theo quyết định   số  16 của Bộ  GD­ĐT) và phù hợp trình độ  của từng học sinh trong lớp mà  “Hướng dẫn 896” của Bộ GD­ĐT đã đề ra.  Tôi tin rằng đề  tài này nếu được áp dụng và vận dụng hợp lý sẽ  đem lại   hiệu quả  cao cho phân môn Tập làm văn, góp phần nâng cao chất lượng  môn Tiếng Việt lớp 4, lớp 5. IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Thực trạng học sinh:   Năm nay (2016 – 2017), tôi được phân công phụ  trách lớp 5C với 30 học   sinh. Hầu hết 30 học sinh của lớp 5C tôi chủ nhiệm còn rất hạn chế khi làm bài  
  5. 5      Tập làm văn. Sau khi nghiên cứu sách Hướng dẫn học Tiếng Việt 4, tôi nhận   thấy học sinh lớp 4 đã được học văn miêu tả về đồ vật, cây cối, con vật. Nhưng  qua khảo sát chất lượng đầu năm học này, đã có 60,8% học sinh bị điểm yếu về  Tập làm văn, dẫn đến môn Tiếng Việt của lớp tôi yếu 26,1 %.  o Các hạn chế của học sinh là:  Bài viết của học sinh còn mắc nhiều lỗi chính tả.  Học sinh chưa xác định được trọng tâm đề bài cần miêu tả.  Nhiều em thường liệt kê, kể  lể  dài dòng, diễn đạt vụng về, lủng củng.   Nhiều em chưa biết dừng lại để nói kĩ một vài chi tiết cụ thể nổi bật.  Vốn từ ngữ của các em còn nghèo nàn, khuôn sáo, quan sát sự vật còn hời  hợt.   Các em chưa biết cách dùng các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả. Thực trạng học sinh còn nhiều hạn chế  như  vậy đã làm cho tiết Tập làm   văn trở thành một gánh nặng, một thách thức đối với giáo viên tiểu học. Ý nghĩ   cho rằng Tập làm văn là một phân môn khó dạy, khó học và khó đạt hiệu quả cao  đã là nhận thức chung của nhiều thầy cô giáo dạy lớp 4, lớp 5.   Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng Tập làm văn của học   sinh không đạt yêu cầu ? Qua quá trình giảng dạy lớp 5, tôi nhận thấy học sinh  học yếu Tập làm văn là do nhiều nguyên nhân. 2. Nguyên nhân của thực trạng        Theo tôi có sáu nguyên nhân như sau: 1/ Khi làm văn, học sinh chưa xác định được yêu cầu trọng tâm của đề bài. 2/ Học sinh không được quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả. 3/ Khi quan sát thì các em không được hướng dẫn về kĩ năng quan sát: quan   sát những gì, quan sát từ đâu ? Làm thế nào phát hiện được nét tiêu biểu của đối   tượng cần miêu tả. 4/ Không biết hình dung bằng hình ảnh, âm thanh, cảm giác về sự  vật miêu  tả khi quan sát. 5/ Vốn từ đã nghèo nàn lại không biết sắp xếp như thế nào để bài viết mạch  lạc, chưa diễn đạt được bằng vốn từ  ngữ, ngôn ngữ  của mình về  một sự  vật,   cảnh vật, về một con người cụ thể nào đó. 6/ Nguyên nhân cuối cùng là trách nhiệm của người giáo viên. Phân môn Tập  làm văn là một môn học mang tính tổng hợp và sáng tạo, nhưng lâu nay người   giáo viên (nhất là giáo viên lớp 4, lớp 5) chưa có cách phát huy tối đa năng lực   học tập và cảm thụ văn học của học sinh; chưa bồi dưỡng được cho các em lòng   yêu quý Tiếng Việt, ham thích học Tiếng Việt để  từ đó các em nhận ra rằng đã   là người Việt Nam thì phải đọc thông viết thạo Tiếng Việt và phát huy hết  ưu  điểm của tiếng mẹ đẻ.
  6. 6      V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Xuất  phát từ  thực trạng và nguyên nhân trên,  đồng thời thấy rõ vai trò,  nhiệm vụ của một giáo viên đang đứng trên bục giảng, tôi mạnh dạn đưa ra bảy  giải pháp sau đây, hy vọng sẽ nâng cao được chất lượng phân môn Tập làm văn  cho lớp tôi. 1.   Giáo   viên   phải   nắm   vững  nội   dung,   chương   trình   và   phương   pháp dạy Tập làm văn: Dạy như  thế  nào để  học sinh học giỏi Tập làm văn, viết được những bài   văn miêu tả  sinh động ? Điều cơ  bản là người dạy phải nắm vững nội dung   chương trình, đồng thời biết chọn và vận dụng phương pháp phù hợp để  truyền  thụ  kiến thức cho  học sinh. Biết được học sinh cần gì, chưa biết những gì để  xác định đúng mục tiêu bài dạy, xác lập được mối quan hệ  giữa kiến thức bài   dạy với kiến thức cũ và kiến thức sẽ  cung cấp tiếp theo. Cụ thể, giáo viên cần  nắm vững những vấn đề sau : a. Nội dung chương trình Tập làm văn lớp 5:   Cả  năm có 62 tiết trong đó  Tập làm văn miêu tả  33 tiết (chiếm hơn 50% số  tiết) với mục tiêu là trang bị  kiến thức và rèn luyện kĩ năng làm văn, góp phần cùng với các môn học khác làm  giàu vốn sống, rèn luyện tư  duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình   thành nhân cách cho học sinh. b. Biện pháp dạy học từng kiểu bài: Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu  và làm bài tập thực hành theo các biện pháp sau:  Giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài tập.  Tổ chức cho học sinh thực hiện bài tập. c. Trình tự dạy Tập làm văn: Trong phần dạy bài mới, giáo viên phải nắm vững trình tự  dạy đối với hai  loại bài Tập làm văn: loại bài dạy lý thuyết và loại bài dạy thực hành. Khi dạy  từng loại bài, giáo viên cần chú ý đến các đối tượng học sinh của lớp: có nội   dung cho học sinh khá, giỏi; có nội dung cho học sinh trung bình, yếu,... Ví dụ:     Muốn dạy học sinh làm văn miêu tả đạt yêu cầu thì giáo viên cần biết thế  nào là văn miêu tả, đặc điểm thể loại văn miêu tả, biết yếu tố nào là quan trọng   và cần thiết để giúp học sinh làm được bài văn miêu tả sinh động thông qua quan  sát đối tượng miêu tả (Nội dung này nằm trong bước chuẩn bị bài mới của giáo   viên). 2. Rèn luyện kĩ năng quan sát cho học sinh
  7. 7      Miêu tả  là vẽ  lại bằng lời những  đặc điểm nổi bật của cảnh, của   người để  giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng  ấy   (SHDH Tiếng Việt 4 tập 1, trang 140), tức là lấy câu văn để  biểu hiện các đặc   tính, chân tướng sự  vật, giúp người đọc như  được nhìn tận mắt, sờ  tận tay vào   sự vật miêu tả. Vì vậy, khi dạy văn miêu tả, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học  sinh quan sát và miêu tả theo các trình tự hợp lý : a. Tả theo trình tự không gian: Quan sát toàn bộ trước rồi đến quan sát từng bộ phận, tả từ xa đến gần, từ  ngoài vào trong, từ trái qua phải,... (hoặc ngược lại).  Ở lớp 4, lớp 5 trình tự này   được vận dụng khi miêu tả loài vật, đồ vật, cảnh vật,... Ví dụ 1:  Tả từ ngoài vào trong: “ Đền Thượng nằm chót vót trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh.  Trước đền, những khóm hải đường đâm bông rực đỏ, những cánh bướm nhiều   màu sắc bay dập dờn như đang múa quạt xoè hoa. Trong đền dòng chữ vàng Nam   Quốc Sơn Hà uy nghiêm đề ở bức hoành phi treo chính giữa.” Ví dụ 2:  Tả  từ  dưới lên trên “ Cây hồi thẳng, cao, tròn xoe. Cành hồi giòn, dễ  gãy  hơn cành  khế.  Quả  hồi  phơi  mình  xoè  trên  mặt  lá  đầu  cành”  (Rừng hồi xứ  Lạng). b. Tả theo trình tự thời gian: Cái gì xảy ra trước (có trước) thì miêu tả trước. Cái gì xảy ra sau (có sau) thì  miêu tả  sau. Trình tự  này thường được vận dụng khi làm Tập làm văn miêu tả  cảnh vật hay tả cảnh sinh hoạt của người . Ví dụ 1:  “...Buổi chiều, xe dừng lại  ở một thị trấn nhỏ. Nắng phố huyện vàng hoe.   Những em bé Hmông, những em bé Tu Dí, Phù Lá cổ  đeo móng hổ, quần áo sặc   sỡ  đang chơi đùa trước cửa hàng. Hoàng hôn, áp phiên của phiên chợ  thị  trấn,  người ngựa dập dìu chìm trong sương núi tím nhạt” (Đường đi Sa Pa­ Tiếng Việt   4). Ví dụ 2:  “Thảo quả  trên rừng Đản Khao đã chín nục. Chẳng có thứ  quả  nào hương  thơm lại ngây ngất kì lạ  đến như  thế. Mới đầu xuân năm kia, những hạt thảo   quả  gieo trên đất rừng qua một năm, đã lớn cao đến bụng người. Một năm sau   nữa, từ một thân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới. Sự sinh sôi sao mà mạnh   mẽ vậy.” c. Tả theo trình tự tâm lí: Khi quan sát cần thấy những đặc điểm riêng, nổi bật nhất, thu hút và gây  cảm xúc mạnh nhất đến bản thân thì quan sát trước, tả trước, các bộ  phận khác  
  8. 8      tả  sau. Khi miêu tả  đồ  vật, loài vật, tả  người nên vận dụng trình tự  này nhưng  chỉ  nên tả  những điểm đặc trưng nhất, không cần phải tả  đầy đủ  chi tiết như  nhau của đối tượng. Ví dụ 1:  “ Bà tôi ngồi cạnh tôi chải đầu. Tóc bà đen và dày kì lạ, phủ kín cả hai vai,  xoã xuống ngực, xuống đầu gối. Một tay khẽ nâng mớ tóc lên và ướm trên tay, bà  đưa một cách khó khăn chiếc lược thưa bằng gỗ vào mớ tóc dày.  Giọng bà trầm bỗng, ngân nga như tiếng chuông. Nó khắc sâu vào trí nhớ tôi  dễ  dàng, và như  những đoá hoa, cũng dịu dàng, rực rỡ, đầy nhựa sống. Khi bà   mỉm cười, hai con ngươi đen sẫm nở  ra long lanh, dịu hiền khó tả,...” (Bà Tôi –   SHDH Tiếng Việt 5­ Tập 1). Tác giả đã quan sát và tập trung tả mái tóc, giọng nói rồi đến ánh mắt. Mái  tóc “dày kì lạ”. Ví dụ 2:  “Sầu riêng là loại trái quý ở miền Nam. Hương vị của nó hết sức đặc biệt,  mùi thơm đậm, bay rất xa... Hoa sầu riêng trổ  vào cuối năm... Hoa đậu từng  chùm màu trắng ngà. Đứng ngắm cây sầu riêng, tôi cứ nghĩ mãi về dáng cây kì lạ  này. Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngay thẳng đuột...”. Tác giả đã tả nét đặc sắc nhất của quả, hoa và dáng cây sầu riêng.         Ngoài các trình tự  miêu tả  trên, giáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện cho   học sinh kĩ năng sử dụng các giác quan (thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác,...) để  quan sát, cảm nhận sự vật, hiện tượng miêu tả. Ví dụ 3:  Phân tích bài “Mưa rào” (SHDH Tiếng Việt 5­ Tập 1­ Trang 33) ta thấy tác   giả đã quan sát bằng các giác quan như sau:  Thị  giác: Thấy những đám mây biến đổi trước cơn mưa, thấy mưa   rơi.  Xúc giác: Gió bỗng thấy mát lạnh, nhuốm hơi nước.  Khứu giác: Biết được mùi nồng ngai ngái, xa lạ man mác của những  trận mưa đầu mùa.  Thính giác: Nghe thấy tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng sấm, tiếng   hót của chào mào. 3. Xác định yêu cầu trọng tâm đề bài: Bài văn của học sinh được viết theo một đề  bài cụ  thể, cho nên yêu cầu  hàng đầu là các em phải viết đúng đề  bài. Một đề  bài đưa ra cho học sinh viết  thường  ẩn chứa đến 3 yêu cầu: yêu cầu về  thể  loại (kiểu bài), yêu cầu về  nội   dung, yêu cầu về  trọng tâm.
  9. 9      Ví dụ: Đề bài ở tuần 4 lớp 5: “ Tả  cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây (hay   trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).  Khi xác định yêu cầu trọng tâm của đề bài, giáo viên phải làm sao giúp học   sinh hiểu được rằng việc viết đúng yêu cầu của đề bài là yếu tố quyết định nội  dung bài viết: Với đề bài trên, ẩn chứa 3 yêu cầu sau: a. Yêu cầu về thể loại của đề là: Miêu tả (thể hiện ở từ “Tả”). b. Yêu cầu về nội dung là: Buổi sáng (hoặc trưa, chiều) thể hiện ở cụm từ  “cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)”. c. Yêu cầu về trọng tâm là: Ở trong một vườn cây (hay trong công viên….). Trong thực tế, không phải đề  bài nào cũng xác định đủ  3 yêu cầu. Như  đề  bài “Tả  một cơn mưa” chỉ có yêu cầu về  thể  loại và nội dung. Với đề  bài này,  giáo viên cần giúp học sinh tự xác định thêm yêu cầu về trọng tâm của bài viết.   Chẳng hạn “Tả một cơn mưa khi em đang trên đường đi học”...         Việc xác định đúng trọng tâm của đề sẽ giúp cho bài viết được thu hẹp nên  các em có được ý cụ thể, chính xác, tránh việc viết tràn lan, chung chung,... 4. Giúp học sinh nắm đặc điểm của từng kiểu bài miêu tả:  Giáo viên giúp học sinh biết dùng lời văn phù hợp với yêu cầu về nội dung  và thể  loại cho trước, khi luyện tập. Giáo viên cũng cần lưu ý nhắc nhở  các em nắm vững các đặc điểm của mỗi thể loại, mỗi dạng bài và xác định  đối tượng miêu tả. Trong mỗi bài văn phải thể  hiện cái mới cái hay, cái   riêng và cảm xúc của mình.   KIỂU BÀI TẢ CẢNH : Cần xác định các yêu cầu sau: a. Xác định không gian, thời gian nhất định: Sau khi xác định thời gian, không gian nhất định học sinh cần biết lựa chọn   trình tự quan sát. Việc quan sát có thể tiến hành ở  những vị trí khác nhau nhưng  vẫn phải có một vị trí chủ yếu làm cho cảnh được quan sát bộc lộ ra những điều   cơ bản nhất của nó. Khi đã xác định được vị trí quan sát rồi, ta nên có cái nhìn bao  quát toàn cảnh đồng thời phải biết phân chia cảnh ra thành từng mảng, từng  phần để quan sát. b. Xác định trình tự miêu tả:        Khi tả phải xác định một trình tự miêu tả phù hợp với cảnh được tả. Tả từ  trên xuống hay từ dưới lên, từ phải sang trái hay từ ngoài vào trong... là tuỳ thuộc   đặc điểm của cảnh.     c. Chọn nét tiêu biểu:
  10. 10      Chỉ  nên chọn nét tiêu biểu nhất của cảnh để  tả, tập trung làm nổi bật đặc  điểm đó lên, có thể  tả  xen hoạt động của người, của vật, ... trong cảnh để  góp  phần làm cho cảnh sinh động hơn, đẹp hơn. d. Tả cảnh gắn với cảm xúc riêng bằng nhiều giác quan: Tả  cảnh luôn luôn gắn với cảm xúc của người viết. Cảnh vật mang theo   trong nó cuộc sống riêng với những đặc điểm riêng. Con người cảm nhận cảnh  như  thế  nào sẽ  đem đến cho cảnh những tình cảm như  thế. Nhà thơ  Lê Anh   Xuân, trong niềm vui của ngày Tổ  quốc hoàn toàn thống nhất, đất nước thoát   khỏi ách ngoại xâm, bằng tâm trạng hạnh phúc nhất, ông đã thốt lên: “Bỗng thấy nội tôi trẻ lại Như thời con gái tuổi đôi mươi.” Đây chính là phần hồn của cảnh. Cảnh không có hồn sẽ  trơ  trọi, thiếu sức  sống. e. Chọn từ ngữ thích hợp khi tả cảnh: Khi làm văn miêu tả cần biết lựa chọn từ ngữ gợi tả, dùng hình ảnh so sánh  hoặc nhân hoá để làm nổi bật đặc điểm cảnh đang tả  giúp người đọc như  đang  đứng trước cảnh đó và cảm nhận được những tình cảm của người viết. Ví dụ :          Sau đây xin trích một số  câu trong bài văn tả cảnh: “Chiều tối” của Phạm   Đức (Sách Tiếng Việt 5­ tập 1­ trang 22): “Nắng bắt đầu rút lên những chòm cây   cao, rồi nhạt dần và như hoà lẫn với ánh sáng trắng nhợt cuối cùng.” Ta thấy câu văn miêu tả sự chuyển hoá của ánh sáng từ “nhạt dần” rồi “hoà  lẫn” với “ánh sáng trắng nhợt”.  Tác giả cũng đã dùng mắt để quan sát sự biến đổi của ánh sáng và bóng tối,  đã dùng tai để nghe tiếng dế và dùng mũi để  cảm nhận hương vườn và cũng đã   sử dụng nghệ thuật nhân hoá làm cho câu văn sinh động một cách rất tinh tế, khi  viết:  “Bóng tối như  bức màn mỏng, như  thứ  bụi xốp, mờ  đen phủ  dần lên mọi  vật.” “Một vài tiếng dế gáy sớm, vẻ thăm dò, chờ đợi.” “ Trong im  ắng, hương vườn thơm thoảng bắt đầu rón rén bước ra và tung  tăng trong ngọn gió nhẹ, nhảy trên cỏ, trườn theo những thân cành.”   KIỂU BÀI TẢ NGƯỜI : Khi miêu tả  người, yếu tố  quan sát lại càng quan trọng. Nhìn chung, mọi   người đều có những đặc điểm giống nhau nhưng lại hoàn toàn khác nhau  ở  những đặc điểm riêng, chỉ người đó mới có. Nhiệm vụ của giáo viên khi hướng   dẫn học sinh “miêu tả  người” là giúp cho các em thấy rằng phải miêu tả  ngắn   gọn mà chân thực, sinh động về hình ảnh và hoạt động của người mình tả.
  11. 11      Ví dụ:  Trong bài văn “Người thợ  rèn” (SHDH lớp 5­ tập 1B­ trang 123). Tác giả  miêu tả người thợ rèn đang làm việc: “Anh bắt lấy thỏi thép hồng như bắt lấy một con cá sống. Dưới những nhát  búa hăm hở của anh, con cá lửa ấy vùng vẫy, quằn quại, giãy lên đành đạch.” Ta thấy tác giả  quan sát rất kĩ và miêu tả  sinh động làm nổi bật hình  ảnh  người thợ  rèn như  một người chinh phục dũng mãnh và thấy rõ quá trình biến   thỏi thép thành một lưỡi rựa. Vì thế, để  làm được bài văn tả  người thành công, giáo viên cần giúp học  sinh xác định các yêu cầu sau: a. Chú ý tả ngoại hình hoạt động: Khi tả  người cần chú ý đến tuổi tác­ mỗi lứa tuổi khác nhau sẽ  có sự  phát  triển về cơ thể, về tâm lý riêng biệt khác nhau và có những hành động thể  hiện   theo giới tính, thói quen sinh hoạt, hoàn cảnh sống…. Khi miêu tả  cần tập trung  vào việc làm sao nêu được cái chung và cái riêng của con người được miêu tả. b. Quan sát trò chuyện trực tiếp: Khi tả người, điều cần nhất là quan sát trực tiếp hoặc trò chuyện, trao đổi ý  kiến với người đó. Quan sát khuôn mặt, dáng đi, nghe giọng nói, xem xét cách  nói, cử chỉ, thao tác lúc làm việc…để rút ra nét nổi bật... (chọn và quan sát người   định tả trong thời gian chuẩn bị bài mới  ở  nhà). Ta cũng cần dùng cách quan sát  gián tiếp là thông qua trí nhớ  hoặc nhận xét của một người khác về  người định  tả để bổ sung những thông tin cần thiết. c. Tả kết hợp ngoại hình, tính nết, hoạt động: Khi miêu tả  có thể  tách riêng từng mặt,từng bộ  phận để  tả  nhưng để  nội   dung bài văn miêu tả đạt được sự  gắn bó, súc tích ta nên kết hợp tả ngoại hình,  tính nết đan xen với tả hoạt động. d. Tả những nét tiêu biểu bằng tình cảm chân thật của mình: Khi tả  người, điều quan trọng là cần tả  chân thật những nét tiêu biểu về  người đó, không cần phải tô điểm người mình tả  bằng những hình ảnh hoa mĩ,   vẽ nên một hình ảnh toàn diện. Làm như vậy bài văn sẽ trở nên khuôn sáo, thiếu  sự chân thật làm người đọc cảm thấy khó chịu. Thầy cô giáo cần lưu ý học sinh   rằng, trong mỗi con người ai cũng có chỗ  khiếm khuyết nhưng nét đẹp thì bao   giờ cũng nhiều hơn (đẹp về hình thể, đẹp về tính cách, đẹp về tâm hồn….) Nếu   học sinh phát hiện, cảm nhận được và biết tả hết các đặc điểm đó thì sẽ làm cho  bài văn miêu tả của các em sinh động, hồn nhiên đầy cảm xúc và người đọc dễ  chấp nhận hơn. Ví dụ: 
  12. 12      Trong bài văn tả  “Cô Chấm” (sách HDH Tiếng Việt 5­ tập 2A­ trang 156)   nhà văn Đào Vũ đã viết: “Chấm không phải là cô con gái đẹp, nhưng là người mà   ai đã gặp thì không thể lẫn lộn với bất cứ một người nào khác.” “Chấm cứ như một cây xương rồng. Cây xương rồng chặt ngang chặt dọc,   chỉ cần cắm nó xuống đất, đất cằn cũng được, nó sẽ  sống và sẽ  lớn lên. Chấm   thì cần cơm và lao động để sống .” “Chấm mộc mạc như  hòn đất. Hòn đất  ấy bầu bạn với nắng với mưa để  cho cây lúa mọc lên hết vụ này qua vụ khác, hết năm này qua năm khác...” 5. Làm giàu vốn từ cho học sinh  Giáo viên cần có biện pháp làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh qua từng bài  đọc, từng bài tập ở các môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ­ câu cùng chủ điểm.  Tạo cho học sinh thói quen quan sát, đánh giá, nhìn nhận một sự  vật, một   cảnh vật hay một con người nào đó và thể  hiện những điều đã quan sát và đánh   giá được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình, kịp thời điều chỉnh những lỗi về  dùng từ, viết câu, làm văn... a. Bài tập làm giàu vốn từ  cho học sinh thông qua các phân môn Tiếng  Việt:  Môn Tập đọc giúp các em hiểu được nghĩa đen, nghĩa bóng, hiểu được nội  dung của các đoạn văn, khổ thơ có ý nghĩa miêu tả (cảnh vật, con người,...). Mỗi   tiết dạy Tập đọc nên thêm một vài câu hỏi về thể loại, bố cục và trình tự  miêu   tả của tác giả để học sinh thấm dần về Tập làm văn miêu tả.  Môn Luyện từ­ câu là môn có thể giúp học sinh làm giàu vốn từ nhiều nhất   khi dạy các tiết Mở rộng vốn từ. Trong các tiết này có các bài tập mở rộng vốn   từ  rất cụ thể, thiết thực như tìm từ, ghép từ, phát hiện từ  miêu tả, dùng từ  đặt   câu, sắp xếp các từ  thành nhóm miêu tả  như  nhóm từ  ngữ  miêu tả  ngoại hình,   nhóm từ ngữ miêu tả đặc điểm cảnh vật, nhóm miêu tả hoạt động,...      Đặc biệt  ở chính phân môn Tập làm văn, giáo viên có thể  giúp học sinh làm   giàu vốn từ theo các đề tài nhỏ: Ví dụ 1:  Tìm từ  láy gợi tả  âm thanh trên dòng sông (bì bọp, ì  ọp, ì  ầm, xôn xao, ào   ào...)  Ví dụ 2:  Tìm những hình  ảnh so sánh để  so sánh với dòng sông: dòng sông như  dải   lụa, dòng sông như con trăn khổng lồ, dòng sông như người mẹ hiền ôm ấp đồng  lúa chín vàng... b. Sử dụng từ ngữ trong miêu tả:
  13. 13               Sau khi học sinh đã có một vốn từ  nhất định, giáo viên giúp học sinh các  cách sử dụng vốn từ trong miêu tả như: sử dụng từ láy, sử dụng tính từ tuyệt đối   (đỏ  mọng, đặc  sệt, trong  suốt...), sử  dụng các biện pháp nghệ  thuật (so sánh,  nhân hoá, ẩn dụ...). Ví dụ 1: Cho các từ “ríu rít, líu lo, liếp chiếp, rộn ràng, tấp nập, là là, từ từ...”                  Hãy chọn từ  thích hợp điền vào chỗ  trống trong đoạn văn sau: “Tiếng   chim... báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Ông mặt trời...  nhô lên sau luỹ tre xanh.   Khói bếp nhà ai... bay trong gió. Đàn gà con... gọi nhau,...theo chân mẹ. Đường  làng đã... người qua lại.” Ví dụ 2: Hãy chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống để được các   câu văn có hình ảnh so sánh phù hợp nhất (tiếng chuông, chùm sao, thuỷ tinh, dải   lụa, giọng bà tiên).   ­ Hoa xoan nở từng chùm trông giống như...    ( những chùm sao )   ­ Nắng cứ như...xối xuống mặt đất.                   ( thuỷ tinh )   ­ Giọng bà trầm ấm ngân nga như...                  ( tiếng chuông ) Ở ví dụ 1 và ví dụ 2, cho số từ nhiều hơn số chỗ trống cần điền, buộc HS   phải suy nghĩ kĩ hơn khi chọn từ. 6. Lập và hoàn thiện dàn ý Để làm một bài văn đúng trình tự, đầy đủ nội dung, hay về ý tứ lời văn, đẹp   về  hình  ảnh sống động, dùng từ  viết câu chính xác, rõ ràng... đòi hỏi học sinh   phải có vốn kiến thức về từ ngữ, kiến thức về câu, về cách xây dựng văn bản. Khi học sinh đã được cung cấp những từ ngữ miêu tả  rồi, giáo viên cần tổ  chức, hướng dẫn cho các em lập dàn ý, lựa chọn sắp xếp ý để miêu tả. Mục đích  xây dựng dàn ý là giúp học sinh xác định được đúng yêu cầu của từng phần: mở  bài, thân bài, kết bài, xác định thể  loại và đối tượng miêu tả  để  tránh tình trạng   học sinh viết tràn lan, lạc đề và miêu tả không trọng tâm.  Hoạt động tiếp theo sau khi lập dàn ý là hoàn thiện dàn ý. Đây là bước quan  trọng, cần thiết để  có được một bài tập làm văn viết tốt nhất. Khi làm bài vào  vở, học sinh cần chú ý cách trình bày, chữ viết, lỗi chính tả. Đó là những yếu tố  giúp học sinh thành công trong quá trình học Tập làm văn. Cuối cùng, khi đã làm   bài xong học sinh cần kiểm tra lại bài viết của mình trước khi nộp bài.  7. Giáo viên chấm bài và trả bài viết Chương trình Tập làm văn lớp 5 có 3 tiết trả  bài tả  cảnh, 3 tiết trả  bài tả  người, 4 tiết trả  bài kể  chuyện, đồ  vật, cây cối, con vật. Ta nhận thấy rằng có  chấm bài chu đáo thì mới có tiết trả bài đạt hiệu quả. a. Chấm bài: 
  14. 14      Khi chấm bài Tập làm văn cho học sinh, mỗi bài tôi đọc qua một lượt để có  cái nhìn chung về bố cục, về diễn đạt của học sinh, xem thử học sinh đã làm bài  đúng thể loại, nội dung và trọng tâm bài viết chưa. Tôi ghi ra sổ chấm bài những   chỗ hay, chưa hay hoặc sai những lỗi gì...của từng HS. Khi chấm điểm xong cho cả lớp, tôi đánh giá chung kết quả bài làm của học  sinh và rút ra những tiến bộ  cần phát huy, và những thiếu sót cần sửa chữa bổ  sung để chuẩn bị cho tiết trả bài sắp tới…..  b. Trả bài viết: Nội dung, phương pháp lên lớp một tiết trả bài Tập làm văn viết  lớp 5, theo  sách giáo khoa xác định có 3 hoạt động chính: 1. Nghe thầy (cô) nhận xét chung về kết quả bài làm của lớp. 2. Chữa bài. 3. Đọc tham khảo các bài văn hay được thầy (cô) giáo khen để  học tập và rút  kinh nghiệm (TV5­ T1­ T53). Để tiết trả bài viết đạt hiệu quả, giáo viên cần lấy thông tin từ bài viết của  học sinh (đã chấm và ghi ở sổ chấm bài) và thực hiện các hoạt động  trả bài một   cách bài bản, có linh hoạt tuỳ theo tình hình chất lượng Tập làm văn của lớp.  Hoạt động 1: Nhận xét chung về bài làm của lớp gồm các bước sau: o Bước 1: Đánh giá việc nắm vững các yêu cầu của đề bài (ghi đề, học sinh   đọc đề bài, xác định 3 yêu cầu: thể loại, nội dung và trọng tâm). Đánh giá   tình hình làm bài của lớp về mặt nhận thức đề (số bài đã đạt 3 yêu cầu của  đề, số  bài chưa đạt hoặc đạt chưa đủ  3 yêu cầu. Biểu dương cá nhân, cả  lớp...). o Bước 2: Đánh giá về nội dung bài viết (cho học sinh nêu dàn ý chung của  kiểu bài tả cảnh,( tả người )… Đọc một vài đoạn văn đã chọn sẵn cho học sinh   nghe và nhận xét, cuối cùng giáo viên đánh giá chung về nội dung đoạn văn đó.  Hoạt động 2: Chữa bài:         Nội dung và cách thức thực hiện sửa chữa lỗi diễn đạt:  Việc sửa chữa lỗi diễn đạt dựa trên cơ sở  bài làm của cả  lớp   mà trong quá trình chấm bài, GV đã ghi ra các câu có vấn đề về ngữ pháp, các lỗi   chính tả  … Đến lúc này GV tổ  chức, hướng dẫn cho HS nhận xét, sửa chữa.  Định hướng như vậy sẽ giúp cho việc sửa chữa lỗi sát hợp và kịp thời uốn nắn   kĩ năng diễn đạt cho lớp. Tuy nhiên, sửa như  vậy sẽ  dẫn đến tình trạng nhàm  chán trong HS vì tiết trả bài nào cũng sửa chữa những lỗi đó.  Riêng tôi, ngay từ  đầu năm học đã lên kế  hoạch sửa lỗi diễn   đạt cho lớp, mỗi tiết trả bài viết tập trung sửa chữa cho một hoặc hai loại lỗi   nào đó một cách bền vững, tức là cần có trọng tâm sửa lỗi cho từng tiết.        * Hoạt động 2 này tiến hành theo 3 bước : o Bước 1: Tham gia chữa lỗi chung cho cả lớp:
  15. 15      Ví dụ:       Tiết trả bài viết số 1(tả cảnh, tuần 5) : Trọng tâm sửa lỗi là luyện từ ­câu   và thực trạng viết câu.  o Bước 2: Học sinh đọc lại bài làm của mình, chú ý những chỗ mực đỏ  ghi  lời khen, chê của cô giáo. ( Ví dụ : câu hay, đoạn hay, hoặc lỗi dùng từ, lỗi  viết câu, lỗi chính tả…)  o Bước 3: Học sinh tự chữa bài vào vở tập làm văn.          Hoạt động 3:  Đọc tham khảo một số  đoạn, hoặc vài bài văn hay của một số  em cho cả  lớp nghe để học tập và rút kinh nghiệm. VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Qua những biện pháp và giải pháp tôi đã áp dụng được nêu ở trên, đến cuối  học kì I năm học 2016 – 2017 các em đã nắm được một số  vốn kiến thức nhất   định để học có hiệu quả phân môn Tập làm văn. Cả lớp đều ham thích môn học,   không sợ sệt khi đến tiết Tập làm văn như đầu năm học nữa. Bài làm của các em   đa số đã có tiến bộ, học sinh nắm được cách sắp xếp ý, bố cục chặt chẽ, dùng từ  chính xác, viết câu văn trôi chảy, mạch lạc, bước đầu có hình ảnh, cảm xúc, hiểu   và vận dụng khá tốt các biện pháp tu từ trong các bài tập làm văn của mình. Các  em cảm thụ được bài văn, đọc bài trôi chảy, hiểu đúng nội dung bài, nhất là rất   tự tin khi đến tiết học Tập làm văn. Diễn biến chất lượng Tập làm văn: Thời điểm Số  Điểm 5 Điểm 4 Điểm 3 Điểm 1, 2 HS Khảo sát đầu  năm 30 0 0% 2 4,4% 8 34,8% 10 60,8% 2016­2017   Giữa học kì  7 21,7% 10 30 3 8,7% 43,5% 5 26,1% I Cuối học kì I 30 5 17,4% 9 30,4% 9 39,1% 0 13,1% Diễn biến chất lượng môn Tiếng Việt (Điểm kiểm tra): Số  Điểm Điểm Điểm Điểm Thời điểm HS 9 ­ 10 7­ 8 5 ­ 6 1,2,3,4 Khảo sát đầu  năm 30 0 0%   5 21,7% 12 52,2% 6 26,1% 2016 – 2017 Giữa học kì I 30 4 17,4%   7 30,4% 9 39,1% 3 13,1%
  16. 16      Cuối học kì I 30 7 30,4%   8 34,8% 8 34,8% 0 0% Diễn biến chất lượng phân môn Tập làm văn sau khi áp dụng đề tài này thật  đáng phấn khởi, đây là kết quả  của một quá trình phấn đấu của cô giáo và học  sinh lớp 5C trường Tiểu học Văn Cao. Chất lượng phân môn Tập làm văn đi lên  rõ rệt đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt của   lớp và của tổ chuyên môn. VII. KẾT LUẬN Sau một học kì áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này, thành công tuy nhỏ nhoi   nhưng tôi ý thức được rằng để giúp học sinh lớp 5 làm được bài văn miêu tả sinh   động, đúng kiểu bài, đòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời gian, công sức nghiên  cứu soạn giảng, có lòng nhiệt tình với học sinh và tâm huyết với nghề  nghiệp.   Thầy cô giáo đã miệt mài, tận tuỵ thì việc mong muốn có nhiều học sinh giỏi văn   sẽ  không còn là khó. Sau thời gian đầu tư  nghiên cứu và áp dụng những biện   pháp dạy học như trên, học sinh lớp tôi đã có chuyển biến đi lên về  chất lượng  phân môn Tập làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung. Tập làm văn đúng là phân môn có tính chất tổng hợp và sáng tạo cao. Cho  nên mỗi bài văn của từng học sinh là một tác phẩm văn học của các em, chúng ta  phải tôn trọng nó, giúp đỡ nó để mỗi ngày có được nhiều học sinh giỏi văn. Biết  đâu sau này trong các em, sẽ có người trở thành nhà văn, nhà thơ... Có thể  nói, bước đầu thành công trong việc dạy Tập làm văn miêu tả  cho   học sinh lớp 5 là nguồn động viên rất lớn cho tôi. Tôi sẽ  đem kinh nghiệm này   tiếp tục áp dụng để giảng dạy phân môn Tập làm văn ở học kì II và các năm sau,  với mong muốn lớn nhất của tôi là giúp học sinh nâng cao chất lượng môn Tiếng   Việt cấp Tiểu học. Tuy nhiên những biện pháp mà tôi đã áp dụng trên, tuỳ  đối tượng học sinh  cũng cần có sự  vận dụng một cách khéo léo, sáng tạo của giáo viên. Tôi nghĩ   rằng nội dung đề  tài này không có nhiều điểm mới, đó chỉ  là nhiệm vụ  hằng   ngày của giáo viên mà thôi. Nhưng đồng thời tôi cũng tin rằng nếu lâu nay ta làm  chưa tốt thì bây giờ  ta dốc hết tâm huyết vào, tận tuỵ  với học sinh, soạn giảng   nghiêm túc thì chắc chắn sẽ gặt hái được thành công.        Rất mong nhận được sự đồng tình của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp   lớp 4­ 5. VIII. ĐỀ NGHỊ Để  dạy học có hiệu quả  Tập làm văn  ở  Tiểu học ( nhất là văn miêu tả   ở  lớp 4, 5) tôi xin có mấy đề nghị sau :
  17. 17              1. Đối với cấp trên : Cần điều chỉnh phân phối chương trình Tập làm văn   lớp 4­5 để có thêm số tiết Tập làm văn viết và trả bài.         2. Đối với BGH nhà trường : Cần cho áp dụng đối với các lớp khối 4,5 trong  trường, nhằm rút kinh nghiệm chung đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả  giảng dạy phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn miêu tả nói riêng.         3. Đối với đồng nghiệp dạy lớp 4, 5 : Thầy, cô giáo cần phải đầu tư  hơn   nữa về phương pháp và biện pháp cho mỗi giờ học phân môn Tập làm văn (từng  thể loại, từng kiểu bài cụ thể ) để  từng bước giúp các em nắm vững kiến thức,   chủ động nói lên những suy nghĩ hồn nhiên của mình; nói đúng, nói hay, làm giàu  thêm vốn từ ngữ và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt . IX. PHỤ LỤC Giáo án minh hoạ 1 : Tuần :  1           LUYỆN TẬP TẢ CẢNH       Ngày dạy : Tiết   :  2            27/08/2010          I­ M  ục tiêu :   HS biết: ­ Nêu được n/xét về  cách miêu tả  cảnh vật trong bài   Buổi sớm trên cánh   đồng(BT1).         ­ Lập được dàn ý bài văn tả cảnh một buổi trong ngày (BT2).  II­ Đồ dùng dạy­học: ­ 2 bảng phụ, tranh ảnh cánh đồng vào buổi sớm.
  18. 18       III­ Các hoạt động dạy­học:      Hoạt động của GV Hoạt động của HS HTĐB  1/ Kiểm tra bài cũ (4­5 phút)          ­ Trình bày cấu tạo của bài văn tả cảnh?          ­ Hãy phân tích cấu tạo của bài Nắng  ­ 2 HS trình bày. trưa. ­ Nhận xét.          ­ GV nhận xét chung, ghi điểm. 2/ Bài m   ới :   (32­35 phút)                                       a/Hoạt động 1: Giới thiệu bài (1­2 phút) ­ Qua việc phân tích bài Buổi sớm trên cánh  ­ Lắng nghe. đồng, các em sẽ  hiểu thế  nào là q/sát và chọn  lọc chi tiết trong 1 bài văn tả cảnh. b/Hoạt động 2: Hướng dẫn HS làm BT(24­ 25’) ­ Lớp đọc thầm. * Bài 1 : ­ Thảo luận nhóm đôi. ­ 1 HS đọc yêu cầu của BT 1 và đoạn văn. * HS  ­ GV giao việc theo nhóm đôi: K, G  ­ Tìm những sự vật được tác giả tả trong buổi   hoàn  sớm mùa thu. chỉnh  ­ Tác giả quan sát sự vật bằng những giác  dàn ý  quan nào? rồi viết  ­ Tìm một chi tiết thể hiện sự quan sát tinh tế  ­ Đại diện nhóm trình  vào vở. của tác giả. bày. * GV  ­ Tổ chức cho các nhóm trình bày. ­ Nhận xét. giúp  ­ GV nhận xét, chốt kết quả đúng. HS   *Những sự vật được tả trong bài : trung   +Bằng xúc giác: mát lạnh, ướt lạnh bàn chân. bình,   +Bằng thị  giác:  mây xám đục, vòm trời xanh   yếu  vòi vọi.   hoàn   +Câu 3 “Giữa những…xanh vòi vọi", chi tiết  thành  “vài giọt mưa loáng thoáng rơi…" dàn ý. * Bài 2 : 1 HS đọc yêu cầu BT2. ­ HS trao đổi giới thiệu  tranh ảnh với nhau.(nhóm  ­ Cho HS giới thiệu tranh ảnh với nhau. đôi) ­ GV kiểm tra kết quả quan sát ở nhà của HS. ­ 2 HS làm bảng. ­ HS tự lập dàn ý vào vở nháp, 2 HS làm bảng  ­ Nhận xét, bổ sung. phụ.  ­ 2­3 HS trình bày. ­ GV gọi HS khác đọc dàn ý của mình. ­ Nhận xét, bổ sung. ­ GV nhận xét chung.  * Ví dụ: Dàn ý  tả cảnh công viên vào buổi 
  19. 19      sáng.  + MB: Giới thiệu bao quát cảnh yên tĩnh của  công viên.    + TB: (Tả các bộ phận  của cảnh vật)      + KB: Rất thích đến công viên vào buổi sớm  mai. ­ GV cho HS tự sửa lại dàn ý của mình. ­ Tự sửa bài . 3/Củng cố­dặn dò: (1­2 phút) ­ Nhận xét tiết học. ­ Lắng nghe. ­Chuẩn bị tiết sau :Viết đoạn văn tả cảnh một  buổi trong ngày. Giáo án minh họa 2 : Tuần : 15 LUYỆN TẬP TẢ NGƯỜI       Ngày dạy: Tiết : 29 (Tả hoạt động) 2/12/2010 I/ Mục tiêu :     1/ Nắm được cách tả  hoạt động của người ( các đoạn của bài văn, nội dung  chính của từng đoạn, các chi tiết tả từng hoạt động ). (BT1)     2/ Viết được một đoạn văn tả hoạt động của người (BT2).  II/ Đồ dùng dạy học: ­ Bảng phụ + dàn ý đã làm từ tiết TLV trước.                                     ­ Tranh 1 số hoạt động của người trong cuộc sống. III/ Các hoạt động dạy và học chủ yếu: Hoạt động của GV Hoạt động của HS HTĐB 1/  KTBC: (4­5 phút) ­HS đọc lại biên bản đã tập ghi ở tuần trước. ­ 1HS đọc ­HS nêu cách viết phần tả ngoại hình của bài  ­ HS lắng nghe. văn tả người.  ­GV  ­GV nhận xét, ghi điểm. giúp  2/  Bài mới: (32­33 phút) HS( Nh  Hoạt   động    1   :   GV   giới   thiệu   bài   mới  (1­2   ất   là  phút) ­ HS nêu yêu cầu HS   Hoạt động    2 : H/dẫn HS tìm hiểu bài(13­15’) ­ 1 HS đọc to bài “Công  yếu)  Bài 1  :*Gọi HS đọc yêu cầu bài 1,  phân tích  nhân sửa đường” lớp  nắm  theo dõi đọc thầm. được  đề. ­ Giao việc theo từng câu hỏi. ­HS thảo luận cặp cách   tả  a/ Các em cho biết bài văn có mấy đoạn? Mỗi  ­Trả lời  hoạt  đoạn từ đâu đến đâu? ­Nhận xét động  ­GV ghi tóm tắt lên bảng lớp. ­HS thảo luận N4 của 
  20. 20      b/ Nêu ý chính của mỗi đoạn. ­ HS trả lời đại diện  người,  ­Ghi lại những chi tiết tả  bác Tâm trong bài  ­ Cả lớp nhận xét. các   chi  văn. ­HS nêu lại toàn bộ nội  tiết   tả  ­ Cho HS làm bài và trả lời kết quả. dung. từng  ­ GV nhận xét, chốt ý. ­HS trả lời cá nhân hoạt  c/Những chi tiết tả hoạt động của bác Tâm ­ Lớp nhận xét. động ). ­GV ghi tóm tắt lên bảng ý chính. ­HS   quan   sát   và   nêu  Viết  * Qua bài văn giúp em nắm được điều gì? một số  hoạt động của  được  ­GV gạch chân từ tả hoạt động ở đề từng tranh  một  *Để  các em biết thêm một số  hoạt động của  ­HS   nêu   thêm   hoạt  đoạn  người lao động:  động văn   tả  ­GV đính tranh lên bảng. 2/ 1 HS nêu đề. hoạt  ­GV nhận xét, sửa chữa cách tả hoạt động. ­HS   nắm   1   số   hoạt  động  Bài 2 : *Cho HS đọc đề bài 2. động   từ   đó   viết   một  của  ­Cho HS phân tích đề, GV giúp đỡ HS làm bài   đoạn văn thể hiện điều  người. cá nhân. đó. ­GV chấm bài. ­HS  nắm yêu  cầu của  ­Nhận xét: dùng từ, câu, lỗi chính tả. đề.  ­ GV nhận xét, khen những HS viết đoạn văn  Làm vào vở bài tập. đúng chủ đề, hay. 3/ Củng cố, dặn dò: *GV nhận xét tiết học. Lắng nghe ­ Yêu cầu HS về nhà hoàn chỉnh đoạn văn tả  hoạt động của người mà em yêu mến.  Bài sau: Luyện tập tả người  Giáo án minh họa 3 : Tuần: 17 TRẢ BÀI VĂN TẢ NGƯỜI Ngày dạy: Tiết : 34 17/12/2010 I/ Mục tiêu : 1/ Biết rút kinh nghiệm để làm tốt bài văn tả người (về các mặt bố cục, trình tự  miêu tả, cách diễn đạt, cách trình bày, chính tả.)   2/ Có khả năng phát hiện và sửa lỗi trong bài làm của mình, của bạn. Nhận biết  điểm của những bài văn hay. Viết lại được một đoạn trong bài cho hay hơn. II/ Đồ dùng dạy học : ­  Phiếu ghi thống kê các lỗi sai + bút dạ + bảng phụ.  III/ Các hoạt động dạy và học : Hoạt động của GV Hoạt động của HS HTĐB
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2