intTypePromotion=3

SKKN: Dạy giải toán, dạng điển hình: Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó, ở lớp 4 trường Tiểu học An Tảo

Chia sẻ: Lê Thị Diễm Hương | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:17

0
544
lượt xem
97
download

SKKN: Dạy giải toán, dạng điển hình: Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó, ở lớp 4 trường Tiểu học An Tảo

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đưa ra được mô hình nghiên cứu: thông qua việc sử dụng phiếu điều tra (Anket). Điều tra trên hai nhóm, nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Thu thập số liệu; lập bảng thống kê; xử lý các số liệu; phân tích, tổng hợp các số liệu để tìm ra nguyên nhân, những sai lầm cơ bản mà học sinh thường mắc phải khi giải dạng toán điển hình "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó". Mời quý thầy cô và các em tham khảo sáng kiến trên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Dạy giải toán, dạng điển hình: Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó, ở lớp 4 trường Tiểu học An Tảo

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM DẠY GIẢI TOÁN, DẠNG ĐIỂN HÌNH: TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ TỶ SỐ CỦA HAI SỐ ĐÓ, Ở LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC AN TẢO
  2. PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1- Cơ sở lý luận: Cũng như các ngành khoa học khác, Toán học nghiên cứu một số mặt hoạt động của thế giới vật chất. Các ngành khoa học tự nhiên như Vật lý học, Hoá học, Sinh học … nghiên cứu những dạng riêng biệt của vận động vật chất. Toán học không nghiên cứu một dạng riêng biệt nào của vật chất như nặng, nhẹ, rắn mềm, nóng lạnh, sắc mầu … mà nghiên cứu cái chung, để giữ lại những cái chung tồn tại khách quan ở các sự vật hiện tượng về hình dạng (trong không gian) về quan hệ (về lượng). Ăng gen nói "Đối tượng của Toán học thuần tuý là những hình học không gian và những quan hệ số lượng của thế giới hiện thực". Vậy nên, Toán học là một khoa học nghiên cứu những mặt xác định của thế giới hiện thực có nguồn gốc thực tiễn. Môn Toán học ở trường phổ thông nói chung, ở trường Tiểu học nói riêng, luôn được coi là môn học cơ bản, chiếm giữ vị trí quan trọng, trong đó việc giải toán là khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình học Toán. Trong hoạt động giải toán, học sinh phải tư duy tích cực, linh hoạt, phải huy động tư duy tổng hợp, tích hợp các kiến thức, năng lực, khả năng, các kỹ năng … sẵn có vào các tình huống khác nhau. Trong nhiều trường hợp, học sinh phải biết phát hiện những dữ kiện hoặc những điều kiện chưa được đưa ra một cách tường minh. Trong quá trình giải toán, đòi hỏi học sinh phải luôn luôn tư duy năng động, sáng tạo. Vì vậy, giải toán có thể coi là một trong những hoạt động trí tuệ năng động, sáng tạo, bổ ích nhất của học sinh. Giải toán giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng thực hành các kiến thức. Giải toán còn giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng tính toán, từng bước tập dượt vận dụng kiến thức đã học vào đời sống thực tế hàng ngày. Thông qua việc giải toán, học sinh được rèn luyện các đức tính cần thiết như: tính kiên trì, biết khắc phục khó khăn để làm việc, tính chu đáo, cẩn thận, làm việc có kế hoạch, công việc mình làm thường xuyên được kiểm tra… 2- Cơ sở thực tiễn: Toán học là một môn học có vị trí quan trọng. Dạy - học môn Toán trong trường đạt chất lượng tốt có tác dụng chi phối, hỗ trợ tích cực đến các môn học khác. Các nhà trường đã chú trọng, đầu tư đáng kể cho vấn đề này, tuy nhiên việc dạy - học toán trong trường còn gặp nhiều khó khăn, có những dạng toán mà học sinh chưa gặp bao giờ, mới được làm quen và tiếp cận lần
  3. đầu, còn rất mới mẻ đối với các em. Đó là các dạng toán điển hình ở lớp 4. Có 6 dạng toán điển hình cơ bản: 1. Tìm số trung bình cộng của hai hay nhiều số. 2. Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó. 3. Tìm hai số khi biết tổng và tỷ của hai số đó. 4. Tìm hai số khi biết hiệu và tỷ của hai số đó. 5. Bài toán về đại lượng tỷ lệ thuận. 6. Bài toán về đại lượng tỷ lệ nghịch. Do tính chất đặc thù của môn Toán và những thực tế nêu trên, việc dạy giải toán, nhất là các dạng toán điển hình ở trường Tiểu học An Tảo còn gặp nhiều khó khăn. Giáo viên còn lúng túng trong quá trình truyền thụ tri thức và phối hợp, sử dụng các phương pháp dạy học. Quá trình tiếp thu bài, vận dụng làm bài tập, rèn luyện kỹ năng giải toán ở học sinh còn nhiều bỡ ngỡ, bị động. Khi giáo viên dạy các dạng toán điển hình nêu trên còn gặp nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao. Đã có nhiều buổi họp tổ, nhóm chuyên môn bàn và trao đổi về vấn đề dạy dạng toán điển hình ở lớp 4, song những thắc mắc trong giáo viên chưa được giải quyết thoả đáng, triệt để. Họ muốn được tìm hiểu nguyên nhân trên cơ sở đó đưa ra được giải pháp hữu hiệu góp phần từng bước cải thiện vấn đề dạy - học toán theo xu hướng tích cực để chất lượng dạy - học Toán trong trường được nâng cao thêm một bước. 3- Nhận thức cá nhân: Là người phụ trách chung trường Tiểu học An Tảo, tôi cùng giáo viên tổ 4;5 luôn trăn trở với thực tế và những bức xúc nêu trên. Cùng với giáo viên, tôi không những muốn được tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề một cách nghiêm túc, sâu sắc, thiết nghĩ đó cũng là một cơ hội để tự mình làm giầu cho vốn kiến thức của cá nhân tôi thêm phong phú và cùng anh chị em giáo viên tháo gỡ những khó khăn trong khi dạy môn Toán lớp 4 của trường. Vì những lý do trên đây, tôi tìm hiểu vấn đề "Dạy giải toán, dạng điển hình: Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó, ở lớp 4 trường Tiểu học An Tảo" II - NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI. 1. Đưa ra được mô hình nghiên cứu: thông qua việc sử dụng phiếu điều tra (Anket). Điều tra trên hai nhóm, nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Thu thập số liệu; lập bảng thống kê; sử lý các số liệu; phân tích, tổng hợp các số liệu để tìm ra nguyên nhân, những sai lầm cơ bản mà học sinh thường mắc phải khi giải dạng toán điển hình "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó". 2. Trên cơ sở đó tác động phương pháp mới vào nhóm thực nghiệm, giúp học sinh vận dụng giải các bài toán dạng nêu trên. Qua đó thấy được
  4. những ưu điểm và hiệu quả của việc sử dụng phương pháp mới, phương pháp : Phát huy tối đa khả năng tư duy của học sinh trong quá trình học và giải Toán. Thầy thiết kế, trò thi công, dưới sự hướng dẫn của thầy, trò tự tìm ra cách giải tốt nhất. Từ đó áp dụng đại trà trên diện rộng - phạm vi toàn trường. III - PHƯƠNG PHÁP, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 1- Phương pháp nghiên cứu: Quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu : - Phương pháp đàm thoại. - Phương pháp trực quan. - Phương pháp trắc nghiệm. - Phương pháp dùng Anket và đo lường tương quan kiến thức. Phương pháp xác suất thống kê. 2- Đối tượng nghiên cứu: "Dạy giải toán - dạng điển hình: tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó, ở lớp 4 trường Tiểu học An Tảo" 3- Phạm vi nghiên cứu: Hội đồng giáo dục và học sinh khối lớp 4 trường Tiểu học An Tảo. PHẦN II NỘI DUNG I- ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TRƯỜNG TIỂU HỌC AN TẢO: Tuy còn trẻ nhưng trường đã phấn đấu đạt khá nhiều thành tích để xây dựng, phát triển nhà trường và đóng góp đáng kể vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo chung của thành phố Hưng Yên. Về quy mô trường lớp, trường gồm 24 lớp, tổng số 652 học sinh. Chia ra, khối lớp 1: 5 lớp 158 học sinh; khối lớp 2: 5 lớp, 140 học sinh; khối lớp 3: 5 lớp 133 học sinh; khối lớp 4: 5 lớp 125 học sinh; khối lớp 5: 4 lớp 96 học sinh. Nhà trường luôn chú trọng tới công tác xây dựng đội ngũ cán bộ - giáo viên có trình độ chuyên môn - nghiệp vụ vững chắc, có tay nghề cao. Thường xuyên bồi dưỡng, nhằm nâng cao nhận thức về chính trị tư tưởng trong giáo viên. Theo thống kê mới nhất hiện nay, trường có 31/39 chiếm 79% giáo viên có trình độ trên chuẩn, có 2 đ/c đang học Đại học. Nhìn chung đội ngũ giáo viên giầu tiềm năng, mạnh về chất lượng, giữ vững và kế thừa được truyền thống dạy tốt của nhà trường. Hàng năm trường còn là một địa chỉ tin cậy của trường Cao đẳng sư phạm rèn luyện nghiệp vụ thường xuyên cho giáo sinh khoa Tiểu học. Đồng thời là nơi dạy thử nghiệm các đề tài nghiên cứu khoa
  5. học của các giảng viên trong trường Cao đẳng. Điều đó đã giúp công tác tổng kết sáng kiến kinh nghiệm của trường được thực hiện thường xuyên. Về học sinh: Học sinh của trường được tuyển con em của nhân dân phường An Tảo. Là phường mới được thành lập, được tách ra từ phường Hiến Nam trước đây. Mặc dù vậy, học sinh của trường phần lớn được xuất thân từ các gia đình cán bộ, công chức, công nhân, số này chiếm tới 80%. Nhìn chung phường và trường có phong trào hiếu học tốt, học sinh chăm ngoan, tôn sư trọng đạo, thích tìm hiểu, tiếp cận cái mới. Đó là điều kiện thuận lợi chính giúp tôi triển khai, thực hiện đề tài. II- NGHIÊN CỨU VÀ ĐIỀU TRA THỰC TẾ. 1- Mô hình nghiên cứu: Để phục vụ cho việc nghiên cứu và điều tra thực tế, tôi đã sử dụng hai lớp bốn của trường. Lớp 4A1 là lớp thực nghiệm, lớp 4A2 là lớp đối chứng. Trước khi khảo sát, xét tương quan giữa hai lớp, tôi thấy: - Về độ tuổi, như nhau. - Số lượng học sinh giữa hai lớp, tương đương nhau. Lớp 4A1 có 32 học sinh; lớp 4A2 có 26 học sinh. - Trình độ nhận thức của học sinh hai lớp là tương đương nhau. Để việc nghiên cứu được thực hiện tự nhiên, tôi đặt tên cho hai nhóm (mỗi lớp là một nhóm), mỗi nhóm chọn ngẫu nhiên 25 học sinh. Nhóm 1 là lớp 4A1 - Nhóm thực nghiệm; Nhóm 2 là lớp 4A2 - Nhóm đối chứng. Nhóm 1: Nhóm thực nghiệm Nghiên cứu theo sơ đồ: X O1 ________________ O2 Trong đó: - O1: là tiền trắc nghiệm của nhóm thực nghiệm - O2: là hậu trắc nghiệm của nhóm thực nghiệm - X: là phương pháp mới được đưa vào dạy bổ sung, tức là đã có sự tác động của phương pháp dạy học mới vào nhóm thực nghiệm. Nhóm 2: Nhóm đối chứng Nghiên cứu theo sơ đồ: X O3 _________________ O4 Trong đó
  6. - O3: là tiền trắc nghiệm của nhóm đối chứng - O4: là hậu trắc nghiệm của nhóm đối chứng. - X: là dạy bằng phương pháp thường ngày, không có sự bổ sung, tác động của phương pháp dạy học mới. 2- Điều tra thực tế và các bước tiến hành thực hiện đề tài. Trong quá trình tìm hiểu, thâm nhập, điều tra thực tế, tôi đã làm: - Khảo sát thực tế, thông qua hoạt động thăm lớp, dự giờ, dạy thay giáo viên chủ nhiệm, đặt vấn đề hợp tác làm việc với giáo viên tổ 4;5 và giáo viên nhóm dạy khối 4 để có thêm lực lượng cộng tác viên hỗ trợ trong quá trình tiến hành điều tra, thực hiện đề tài. - Soạn thảo bộ phiếu điều tra tiền trắc nghiệm, bộ Text (Anket) cho hai nhóm (hai lớp). Ngoài ra, tôi còn giao một số bài tập về nhà mang tính chất luyện tập bài mới cho học sinh. - Thu thập và sử lý các số liệu. - Kết hợp với một số phương pháp điều tra khác (phương pháp trực quan, đàm thoại …) để tìm nguyên nhân dẫn đế những sai lầm cơ bản của học sinh. - Soạn thảo và chuẩn bị những phương pháp dạy học mới để tác động vào nhóm 1 - Nhóm Tthực nghiệm. - Soạn thảo bộ phiếu điều tra hậu trắc nghiệm, bộ Text (Anket) cho hai nhóm (hai lớp) để cùng tiến hành kiểm tra. - Thu thập và sử lý các số liệu cụ thể sau kiểm tra của cả hai nhó, so sánh kết quả kiểm tra của hai nhóm. - Viết bản thảo và dần hoàn thành đề tài. 3- Yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cơ bản đối với học sinh trong phạm vi nghiên cứu của đề tài. a- Kiến thức. - Học sinh phải nhận ra được dạng toán này là "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó". Khi đã xác định được dạng toán, học sinh phải xác định tiếp được trong bài toán đó số nào là tổng, tỷ số là bao nhiêu, hai số cần tìm là những số nào. - Sau khi đã xác định được các yếu tố trên, học sinh phải vẽ được sơ đồ tóm tắt và tiến hành giải bài toán theo cá bước dưới đây: + Bước 1: Vẽ sơ đồ tóm tắt bài toán. + Bước 2: Tìm tổng số phần băng nhau. + Bước 3: Tìm giá trị của một phần. + Bước 4: Tìm hai số đó.
  7. Trong quá trình giải, yêu cầu học sinh phải trả lời chính xác, tính toán đúng và ghi đúng tên đơn vị. b- Kỹ năng: - Yêu cầu học sinh nhận dạng và đưa ra cách giải nhanh, chính xác. - Học sinh biết tự đặt ra cho mình đề toán rồi giải. - Học sinh nhận dạng nhanh bài toán khi chưa biết tổng hoặc tỷ số của hai số đó (ẩn số của bài toán). 4- Bộ Text tiền trắc nghiệm (dưới dạng HS làm một bài kiểm tra viết). Bộ Text này được soạn thảo và sử dụng cho cả hai nhóm. Nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Mục đích của việc sử dụng bộ Text này là để điều tra thực tế, nắm thực trạng ban đầu việc giải dạng toán nêu trên đối với học sinh. Nội dung bộ Text yêu cầu học sinh giải 3 bài toán, giáo viên đánh giá trên thang điểm 10, thời gian học sinh làm bài là 40 phút. Đề bài: Bài 1: Có 72 tấn thóc được chứa trong hai kho, kho lớn chứa gấp 5 lần kho nhỏ. Hỏi mỗi kho chứa bao nhiêu tấn thóc? Bài 2: Một cửa hàng bán được 3250 kg sắt xây dựng, trong đó số sắt cây bán được bằng 1/4 số sắt cuộn. Hãy tính số sắt mỗi loại cửa hàng đã bán được? Bài 3: Đặt đề toán theo sơ đồ tóm tắt sau rồi giải. bạn? Số bạn nữ: _____________ bạn? 45 bạn Số bạn nam: ___________________ Thang điểm cho bộ Text tiền trắc nghiệm: - Bài 1: (2,75 điểm) + Vẽ được sơ đồ và tóm tắt đúng : 0,25 điể + Giải bài toán đúng theo các bước : 1,25 điểm + Các câu trả lời đúng : 0,5 điểm + Đặt tính đúng, tính toán đúng, đơn vị đúng, đáp số đúng: 0,75 điểm - Bài 2: (3,5 điểm) + Vẽ sơ đồ đúng : 0,5 điểm + Giải bài toán đúng theo các bước : 1,5 điểm + Các câu trả lời đúng : 0,75 điểm
  8. + Đặt tính, tính toán, đơn vị, đáp số đúng: 0,75 điểm - Bài 3: (3,75 điểm) + Đặt đề toán đúng về nội dung và hình thức: 0,75 điểm + Giải bài toán đúng : 1,5 điểm + Các câu trả lời đúng : 0,75 điểm + Đặt tính, tính toán, đơn vị, đáp số đúng: 0,75 điểm 5- Thống kê và tìm ra những nguyên nhân sai sót. Tôi đã cho học sinh hai nhóm cùng đồng thời tiến hành làm bài kiểm tra. Tôi chấm, đánh giá bài làm của học sinh và thống kê được những sai lầm cơ bản của học sinh khi giải loại toán "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó". Dưới đây là kết quả đã thu thập được. BẢNG THỐNG KÊ NHỮNG SAI LẦM CỦA HỌC SINH * Nhóm 1: Nhóm thực nghiệm Dạng sai sót Số HS mắc sai Tính % Dạng 1: Học sinh không nhận ra dạng 12 48.0 toán Dạng 2: Học sinh nhận ra dạng toán 13 52.0 nhưng khi áp dụng vào giải lại sai Dạng 3: Học sinh vẽ sơ đồ tóm tắt bị 6 24.0 sai * Nhóm 2: Nhóm đối chứng Dạng sai sót Số HS mắc sai Tính % Dạng 1: Học sinh không nhận ra dạng 12 48.0 toán Dạng 2: Học sinh nhận ra dạng toán 10 40.0 nhưng khi áp dụng vào giải lại sai Dạng 3: Học sinh vẽ sơ đồ tóm tắt bị 6 24.0 sai
  9. Nhìn vào bảng thống kê những sai lầm cơ bản học sinh thường mắc phải khi giải dạng toán "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó", đối với cả hai nhóm là: - Ở dạng 1: Học sinh không nhận ra dạng toán, Nhóm 1- nhóm thực nghiệm, 12 em mắc sai, chiếm 48%; Nhóm 2- nhóm đối chứng, 15 em mắc sai, chiếm 48.0%. Như vậy, do học sinh không hiểu đề bài nên không có cách giải đúng, bài toán giải sai. - Ở dạng 2: Học sinh nhận ra dạng toán "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó" nhưng do không nhớ trình tự cách giải chung nên các bước giải bị đảo lộn dẫn đến bài giải sai. Cũng có những em tiến hành các bước giải đúng nhưng khi thực hiện phép tính toán thì lại sai. Số này chiếm đa số ở cả hai nhóm. Ở dạng 3: Học sinh vẽ sơ đồ tóm tắt bài toán chưa đúng, nhiều học sinh vẽ sai cơ bản so với nội dung của bài toán. * Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm. - Đối với học sinh: + Nguyên nhân chủ yếu vẫn là khi học bài mới, các em chưa thật tập trung để nắm chắc lý thuyết bài mới. Nắm bài còn hời hợt, chung chung, chưa sâu sắc. Mặc dù bài 1 ra rất đơn giản nhưng còn khá nhiều em (12 em ở nhóm 1 và 12 em ở nhóm 2) không nhận ra dạng của bài toán (không biết đâu là tổng, đâu là tỷ số của hai số). Công đoạn phân tích đề bài, xác định các yếu tố, giữ liệu của bài toán là rất quan trọng nhưng học sinh còn coi nhẹ bước này. - Khi học bài mới, một số học sinh chưa nắm chắc trình tự, các bước cơ bản để tiến hành giải bài toán dạng nêu trên. Cụ thể là giải bài toán phải theo bốn bước như trong bài học đã hướng dẫn. - Khi gặp những bài toán dạng nêu trên nhưng tỷ số cho dưới dạng một phân số (ví dụ: … số thứ hai bằng 2/3 số thứ nhất …), học sinh mới tìm được giá trị của một phần đã lầm tưởng đó là số bé (nhầm lẫn khái niệm một phần với khái niệm số bé). - Đối với giáo viên Khi giảng dạy dạng toán điển hình "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó" là dạng toán hoàn toàn mới mẻ đối với học sinh lớp 4, nếu giáo viên chưa có kinh nghiệm dễ chỉ giảng dạy bình thường, chưa có những biện pháp để khắc sâu kiến thức trọng tâm cho học sinh. Đối với dạng toán này, giáo viên cần khắc sâu cho học sinh 4 bước khi giải loại toán nêu trên. Và yêu cầu học sinh phải đọc, phân tích kỹ đề bài toán để xác định cho được đâu là
  10. "tổng số", đâu là "tỷ số của hai số" và hai số phải tìm là hai số nào. Qua tìm hiểu thực tế và dự giờ, tôi thấy giáo viên dạy còn hời hợt, chưa khắc sâu được trọng tâm kiến thức như yêu cầu đã nêu ở trên. Như chưa: + Giúp học sinh tìm hiểu kỹ đề bài toán. + Công đoạn lập kế hoạch giải. + Thực hiện kế hoạch giải. + Kiểm tra, đánh giá bài giải của học sinh. Phần sử dụng và khai thác thế mạnh của sơ đồ tóm tắt bài toán trong quá trình phân tích đề toán cho học sinh, phần này giáo viên thực hiện còn nhiều hạn chế. Giáo viên chưa giúp học sinh có thói quen sử dụng, vận dụng sơ đồ vào giải toán. 6- Phương pháp mới khắc phục những sai lầm của học sinh. Thông qua việc quản lý công tác chuyên môn của trường Tiểu học An Tảo, qua thực tế giảng dạy kết hợp với việc tham khảo ý kiến của những giáo viên có nhiều kinh nghiệm và những giáo viên dạy ở tổ 4;5 của trường, tôi chủ động đưa ra và áp dụng một số biện pháp khi dạy dạng toán điển hình "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó": 1. Tìm hiểu đề bài. Công đoạn này có ý nghĩa rất quan trọng đối với học sinh. Nó giống như một chiếc chìa khoá để mở cửa giúp cho học sinh có hướng đúng để giải bài toán. Nên giáo viên phải cho học sinh đọc kỹ, nhập tâm, hiểu đề bài toán. Giáo viên cần chuẩn bị trước một số câu hỏi để đàm thoại với học sinh khi vừa đọc đề vừa tóm tắt bài toán. Rồi cho học sinh nhìn vào sơ đồ tóm tắt bài toán, yêu cầu đọc lại đề bài toán (không cần học sinh phải đọc thuộc lòng) để giáo viên kiểm tra việc nắm đề bài của học sinh. 2. Hướng dẫn học sinh cách nhận dạng bài toán bằng cách, phân tích kỹ đề toán và nhấn mạnh hai yếu tố " tổng của hai số "và" tỷ số của hai số". Đối với "tổng" thì dễ nhận ra, nhưng đối với "tỷ" học sinh rất khó nhận thấy, nên giáo viên cần khắc sâu và cho học sinh hiểu được đâu là "tỷ số" của hai số. "tỷ số" là sự hơn kém nhau về số lần, hay số này bằng bao nhiêu phần của số kia. Nhiều khi "tỷ số" còn tiềm tàng, ẩn nấp dưới dạng khác hoặc những yếu tố khác của bài toán - ta thường gặp ở những bài toán nâng cao của dạng toán này. Giáo viên cũng cần giúp học sinh phân biệt để tránh nhầm lẫn với dạng toán trước đó đã học "Tìm hai số khi biết tổng và hiệu số của hai số đó" Cho học sinh nhắc lại nhiều lần cách giải dạng toán trên, so sánh các bước giải của hai dạng toán "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó”
  11. và "Tìm hai số khi biết tổng và hiệu số của hai số đó" rồi sửa sai và nhấn mạnh lại cách giải chung. Đặt các câu hỏi để học sinh xác định: trong bài toán thì " tổng" là số nào? "tỷ số" là bao nhiêu? Hai số cần tìm là những số nào? 3. Giúp học sinh vẽ sơ đồ bài toán từ việc xác định được hai yếu tố cơ bản là "tổng" và "tỷ số" của bài toán. Muốn vậy giáo viên phải chuẩn bị được hệ thống câu hỏi hợp lý khi hướng dẫn học sinh phân tích đề bài toán để tìm ra đâu là "tổng", đâu là "tỷ số", từ đó giúp học sinh tóm tắt bài toán. Vẽ một đoạn thẳng chia số phần bằng số phần ở tử số (của phân số biểu thị tỷ số) và một đoạn thẳng chia số phần bằng số phần ở mẫu số. 4. Hướng dẫn học sinh giải bài toán. Giáo viên cần giúp học sinh cách phân tích bài toán dựa vào sơ đồ tóm tắt và các yếu tố dữ liệu khác để tìm ra tổng số phần, từ đó tìm ra giá trị của một phần và tìm ra hai số đó. Giáo viên lưu ý học sinh, trong quá trình tính toán, chú ý tránh nhầm lẫn giữa đơn vị phần với đơn vị của số cần tìm. Cuối cùng, khi dạy lý thuyết, giáo viên nhất thiết phải nhấn mạnh công thức (các bước) giải bài toán dạng nêu trên. 7- Bộ Text hậu trắc nghiệm và bảng thống kê kết quả sau khi tác động phương pháp mới vào nhóm thực nghiệm. Bộ Text hậu trắc nghiệm, được soạn thảo (dưới dạng một bài kiểm tra), dùng cho cả hai nhóm, nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Mục đích của việc sử dụng bộ Text này là để nắm hiệu quả của việc sau khi đã tác động phương pháp, các biện pháp dạy học mới tích cực vào nhóm 1 - nhóm thực nghiệm. Đồng thời kiểm tra, đánh giá chất lượng làm bài của học sinh nhóm 2 - nhóm đối chứng. Nội dung bộ Text yêu cầu học sinh giải 4 bài toán, thời gian học sinh làm bài là 40 phút. Giáo viên đánh giá trên thang điểm 10. Đề bài: Bài 1: Trong vườn cây của xã có 120 cây vừa na vừa hồng. Số cây hồng nhiều gấp 3 lần số cây na. Tính số cây mỗi loại? Bài 2: ở một trại chăn nuôi có 350 con vừa trâu vừa bò. Số bò nhiều gấp 4 lần số trâu. Hỏi trại chăn nuôi có bao nhiêu con trâu, bao nhiêu con bò? Bài 3: Một cửa hàng bán được 30 mét vải vừa vải trắng, vừa vải hoa. Số mét vải trắng bán được bằng 2/3 số mét vải hoa. Hỏi cửa hàng đã bán được bao nhiêu mét vải mỗi loại? Bài 4: Đặt đề toán theo sơ đồ tóm tắt dưới đây rồi giải. ? kg Số gạo nếp: ____
  12. ?kg 48kg Số gạo tẻ : ____________________ Thang điểm cho bộ Text hậu trắc nghiệm. - Bài 1: (1,5 điểm) + Vẽ được sơ đồ và tóm tắt đúng : 0,25 điể + Giải bài toán đúng theo các bước : 0,75 điểm + Các câu trả lời đúng : 0,25 điểm + Đặt tính , tính toán , đơn vị, đáp số đúng: 0,25 điểm - Bài 2: (2,0 điểm) + Vẽ sơ đồ tóm tắt đúng : 0,25 điểm + Giải bài toán đúng theo các bước : 1,0 điểm + Các câu trả lời đúng : 0,25 điểm + Đặt tính, tính toán, đơn vị, đáp số đúng: 0,5 điểm - Bài 3: (3,0 điểm) + Vẽ sơ đồ tóm tắt đúng : 0,75 điểm + Giải bài toán đúng theo các bước : 1,5 điểm + Các câu trả lời đúng : 0,25 điểm + Đặt tính, tính toán, đơn vị, đáp số đúng: 0,5 điểm - Bài 4: (3,5 điểm) + Đặt đề toán đúng về nội dung và hình thức: 0,75 điểm + Giải bài toán đúng : 1,5 điểm + Các câu trả lời đúng : 0,5 điểm + Đặt tính, tính toán, đơn vị, đáp số đúng: 0,75 điểm Soạn thảo xong bộ hậu trắc nghiệm và thang điểm trên, tôi đã cho học sinh của cả hai nhóm cùng tiến hành làm bài kiểm tra. Sau khi chấm - đánh giá, tôi đã thu thập được những số liệu về những sai lầm cơ bản của học sinh ở hai nhóm: nhóm 1 - nhóm thực nghiệm, nhóm được tác động phương pháp và những biện pháp dạy học mới, tích cực. Còn nhóm 2 - nhóm đối chứng, nhóm không được tác động phương pháp dạy học mới. Kết quả thu được như sau: BẢNG THỐNG KÊ NHỮNG SAI LẦM CỦA HỌC SINH * Nhóm 1: Nhóm thực nghiệm Dạng sai sót Số HS mắc sai Tính % Dạng 1: Học sinh không nhận ra dạng 2 8.0 toán
  13. Dạng 2: Học sinh nhận ra dạng toán 10 40.0 nhưng khi áp dụng vào giải lại sai Dạng 3: Học sinh vẽ sơ đồ tóm tắt bị 1 4.0 sai * Nhóm 2: Nhóm đối chứng Dạng sai sót Số HS mắc sai Tính % Dạng 1: Học sinh không nhận ra dạng 11 44.0 toán Dạng 2: Học sinh nhận ra dạng toán 12 48.0 nhưng khi áp dụng vào giải lại sai Dạng 3: Học sinh vẽ sơ đồ tóm tắt bị 3 12.0 sai * Nhận xét, đánh giá chung: Nhìn vào hai bảng thống kê những sai lầm của học sinh thường mắc phải của cả hai nhóm (nhóm 1 - nhóm thực nghiệm và nhóm 2 - nhóm đối chứng), ta thấy: Những sai lầm của học sinh ở nhóm 1 - nhóm thực nghiệm giảm đi rõ rệt. Còn nhó 2 - nhóm đối chứng, do không có sự tác động của phương pháp dạy học mới nên số lượng và tỷ lệ học sinh mắc phải những sai lầm cơ bản hầu như vẫn giữ nguyên (có sự thay đổi nhưng không đáng kể). Thực tế này khẳng định kết quả của nhóm thực nghiệm hơn hẳn kết quả của nhóm đối chứng. Điều đó chứng tỏ rằng, sự tác động của phương pháp dạy học mới có tác dụng rõ rệt. Những đánh giá trên đây cũng đồng nghĩa với nhận xét: Chất lượng bài làm của học sinh nhóm 1 - nhóm thực nghiệm hơn hẳn chất lượng làm bài của học sinh nhóm 2 - nhóm đối chứng là vì: ở nhóm thực nghiệm có sự tác động của phương pháp dạy học mới, tích cực, còn ở nhóm đối chứng chúng ta không có sự tác động phương pháp dạy học mới. Mặc dù kết quả chuyển biến chưa cao, song cũng phản ánh được phần nào tính ưu điểm cũng như hiệu quả của việc tác động phương pháp mới vào dạy dạng toán điển hình "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó" ở khối lớp 4, trường Tiểu học An Tảo.
  14. PHẦN III KẾT LUẬN I - KẾT LUẬN CHUNG: Quá trình tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu vấn đề "Dạy giải toán - dạng điển hình: tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó ở lớ 4 trường Tiểu học An Tảo". Tôi rút ra những kết luận sau: Dạng toán điển hình nêu trên là dạng toán hay, học và tìm hiểu, chinh phục được là việc làm rất lý thú, nhưng lại rất mới mẻ, xa lạ đối với học sinh lớp 4. Xét về mặt kiến thức giáo viên cũng đánh giá là dạng toán khó dạy, học sinh khó tiếp thu. Song để đạt được yêu cầu về kiến thức kỹ năng cơ bản Bộ yêu cầu đối với học sinh lớp 4 cũng như để đáp ứng nhu cầu của người dạy, chúng ta cần phải xem xét, điều chỉnh một số "nét" trong khi dạy của giáo viên và cách học của học sinh về dạng toán trên mới mong có kết quả tốt được. Hiện nay, các nhà trường đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc vận dụng, đổi mới phương pháp giảng dạy nói chung và đổi mới phương pháp giảng dạy môn Toán nói riêng và đã đạt được những thành tích cao. Việc sử dụng và tích cực đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học không những giúp cho chất lượng dạy - học trong trường được nâng cao mà còn góp phần phát triển tư duy, khả năng nhận thức, khả năng giao tiếp… tốt hơn ở học sinh. Tuy nhiên, trong thực tế, còn có nơi xem nhẹ việc cải tiến, sử dụng phương pháp dạy học mới, giáo viên còn ngại khi dạy, khiến các tiết dạy - học trở nên hời hợt, không sâu, kém phần hấp dẫn đối với người học đã phần nào làm giảm sút, hạn chế chất lượng học toán của học sinh. Thông qua việc quản lý chung và đặc biệt là chuyên môn ở trường Tiểu học An Tảo, qua việc thăm lớp dự giờ, trực tiếp tham gia giảng dạy ở khối lớp 4, qua trao đổi với các đồng chí giáo viên, tôi thấy: Khi dạy dạng toán nêu trên, giáo viên chưa có những biện pháp hữu hiệu để dạy học sinh tuân thủ theo trình tự các bước giải bài toán dạng "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó", đôi khi còn dạy theo kiểu riêng mang tính áp đặt, nên quá trình nhận thức của học sinh còn bị động, nhiều khi học sinh chưa kịp nhận dạng bài, chưa hiểu được bản chất của vấn đề đã phải bắt tay vào luyện tập một cách máy móc, dẫn đến bài làm sai. Mặt khác qua khảo sát thực tế và trong qúa trình tìm hiểu nghiên cứu, tôi thấy, nếu giáo viên dạy theo cách bình thường thì kết quả nhận thức đại trà trong học sinh sẽ thấp. Vì vậy, khi dạy dạng toán điển hình nêu trên, giáo viên cần được nghiên cứu trước, soạn kỹ bài giảng, vận dụng khoa học, hợp lý phương pháp dạy học mới nhằm đạt kết quả cao.
  15. II- Ý KIẾN ĐỀ XUẤT. 1. Tôi đề nghị vận dụng toàn bộ những biện pháp, phương pháp dạy học đã được nêu trên và đã được áp dụng trong quá trình tôi thực hiện đề tài. Nhấn mạnh khâu chuẩn bị kỹ bài giảng trước khi giáo viên lên lớp. Đó là sự lựa chọn các phương pháp dạy học, chuẩn bị hệ thống câu hỏi chính xác, khoa học, ngắn gọn nhưng học sinh dễ hiểu, chuẩn bị giáo cụ trực quan, đồ dùng giảng dạy của giáo viên, đồ dùng học tập của học sinh … đầy đủ trước khi lên lớp. 2. Quá trình dạy giải dạng toán điển hình "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó", yêu cầu giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện nghiêm các bước đã được khát quát hoá khi giải bài toán. Học sinh phải được nắm chắc khái niệm "tổng" và "tỷ số của hai số đó", từ đó nhận được dạng bài toán và có lời giải thích hợp. 3. Giúp học sinh nắm vững công thức chung khi giải bài toán dạng nêu trên, bằng cách luyện tập (kể cả tăng cường thời lượng luyện tập cho học sinh khi cần thiết). 4. Đối với các cấp quản lý giáo dục, nên mở các chuyên đề chuyên môn để bồi dưỡng, bổ túc cho giáo viên về phương pháp dạy các dạng toán điển hình như dạng toán "Tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó". Để đề tài mang tính khả thi cao và tiếp tục phát triển, tôi có ý định tiếp tục tìm hiểu tổng két kinh nghiệm cho việc "Dạy giải dạng toán điển hình: tìm hai số khi biết tổng và tỷ số của hai số đó cho đối tượng học sinh giỏi của trường". III- KẾT LUẬN: Vấn đề trên đây, tôi tìm hiểu, nghiên cứu là rộng lại bó gọn trong một thời gian hẹp, nên việc tổ chức thực hiện, viết thành văn bản chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Tôi mong các đồng chí đọc, theo dõi văn bản và thực tế làm việc của tôi để đóng góp ý kiến giúp cho việc ứng dụng thực tế của đề tài đạt hiệu quả cao. Tôi chân thành cảm ơn! Hưng Yên, tháng 2 năm 2013 Người thực hiện Đỗ Thị Phấn
  16. MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài …….. trang 1 1. Cơ sở lý luận …….. 1 2. Cơ sở thực tiễn …….. 2 3. Nhận thức của cá nhân …….. 2 II. Nhiệm vụ đề tài …….. 3 III. Phương pháp, đối tợng phạm vi nghiên cứu …….. 3 1. Phương pháp nghiên cứu …….. 3 2. Đối tợng nghiên cứu …….. 3 3. Phạm vi nghiên cứu …….. 3 PHẦN NỘI DUNG I. Đặc điểm tình hình trường ……… 4 II. Nghiên cứu và điều tra thực tế ……… 5 1. Mô hình nghiên cứu ……… 5 2. Điều tra thực tế và các bớc thực hiện ……… 6 3. Yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cơ bản với HS ……… 6 4. Bộ Text tiền trắc nghiệm ……… 7 5. Thống kê, nguyên nhân và những sai lầm của HS ……… 8 6. Phương pháp mới khắc phục những sai lầm ……… 11 7. Bộ Text hậu trắc nghiệm và bảng thống kê… ……… 12 8. Nhận xét đánh giá chung ……… 15 PHẦN KẾT LUẬN I. Kết luận chung ……… 16 II. ý kiến đề xuất ……… 17 III. Kết luận ……… 18
  17. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Toán lớp 4 - Sách giáo viên - Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan… Nhà xuất bản giáo dục, năm 1998 2. Toán nâng cao lớp 4, Tập 1 và Tập 2- Đỗ Trung Hiệu, Nguyễn Danh Ninh, Vũ Dương Thuỵ. Nhà xuất bản giáo dục, năm 1996 3. Các kiến thức cần ghi nhớ của Đỗ Trung Hiệu, Vũ Dương Thuỵ. Nhà xuất bản giáo dục, năm 1996. 4. Các bài toán luyện tập của Đỗ Trung Hiệu, Vũ Dương Thuỵ. Nhà xuất bản giáo dục, năm 1996. 5. Tạp chí giáo dục tiểu học; các số phát hành thường kỳ.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản