intTypePromotion=3

SKKN: Phương pháp học và làm bài thi tốt nghiệp môn Sinh học đạt kết quả cao

Chia sẻ: Lê Thị Diễm Hương | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:14

0
87
lượt xem
16
download

SKKN: Phương pháp học và làm bài thi tốt nghiệp môn Sinh học đạt kết quả cao

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đưa ra cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu bài củng như rèn luyện kỹ năng làm bài thi trắc nghiệm đạt hiệu quả tốt nhất trong kỳ thi tốt nghiệp sắp tới. Mời quý thầy cô tham khảo sáng kiến “Phương pháp học và làm bài thi tốt nghiệp môn Sinh học đạt kết quả cao".

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Phương pháp học và làm bài thi tốt nghiệp môn Sinh học đạt kết quả cao

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP HỌC ÔN VÀ LÀM BÀI THI TỐT NGHIỆP MÔN SINH HỌC ĐẠT KẾT QUẢ CAO
  2. A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lời mở đầu Môn Sinh học vừa có đặc thù của một môn khoa học tự nhiên với những hệ thống lý thuyết tổng quát, với những công thức và hệ thống bài tập tương đối phức tạp vừa mang đặc thù của một môn khoa học thực nghiệm, có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực nghiệm. Ở cấp độ phổ thông, đó là sự kết hợp giữa hệ thống lý thuyết và hệ thống bài tập vận dụng tương ứng. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, đặc biệt là ở cấp Phổ thông việc gắn giữa lý thuyết và thực nghiệm ít được chú trọng, rất nhiều bài thực hành bị bỏ qua do vậy đối với rất nhiều học sinh, việc học môn Sinh chỉ đơn thuần là học thuộc lòng một “mớ” lý thuyết nên dễ gây nhàm chán và khô khan . Mặt khác ,đa số các em học sinh còn xem đó là “môn phụ” và cho rằng thi trắc nghiệm bộ môn này nên không đầu tư thời gian và công sức học tập nhiều như các môn học khác ;không cần phải học bài kỹ, chỉ cần thuộc đáp án có sẵn trong đề cương ôn tập trắc nghiệm là đủ .Một số không ít học sinh còn bỏ hẳn bộ môn này từ đầu năm nên việc ôn tập bây giờ trở nên rất khó khăn. Tuy nhiên học sinh rất mong muốn được điểm cao trong kỳ thi, như vậy nếu giáo viên bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học tốt chấc chắn sẽ tạo hứng thú cho học sinh. Ngoài ra hình thức thi trắc nghiệm là một hình thức tuy đơn giản nhưng đòi hỏi phải có một số kĩ năng cơ bản trong làm bài , vì ta biết rằng nhiều em học sinh học tốt nhưng khi làm thi trắc nghiệm vẩn mắc những sai sót không đáng có, đến cuối cùng điểm không được như mong muốn. Vậy làm thế nào để ôn tập nhanh nhất và tốt nhất môn sinh trong thời gian chỉ còn hai tháng? Vì những lí do trên, cùng với sự trăn trở với nghề, lòng nhiệt tình mong muốn các em học sinh luôn hứng thú và say mê bộ môn Sinh học nhiều hơn, cũng như giúp các em học và làm bài tốt môn Sinh trong kì thi tốt nghiệp sắp tới, tôi xin trình bày" Phương pháp học và làm bài thi tốt nghiệp môn Sinh học đạt kết quả cao" 1. Mục đích nghiên cứu. Đưa ra cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu bài củng như rèn luyện kỹ năng làm bài thi trắc nghiệm đạt hiệu quả tốt nhất trong kỳ thi tốt nghiệp sắp tới. 2. Đối tượng nghiên cứu. Học sinh khối 12 trường THPT Nguyễn Đình Liễn 3. Phương pháp nghiên cứu. Đưa đề tài vào áp dụng với các lớp đang giảng dạy và tổng hợp để đối chứng với các lớp không được sử dụng đề tài. Từ đó so sánh bằng thực nghiệm giữa hai nhóm đối tượng để rút ra kết luận.
  3. 4 .Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu. Đề tài được thực hiện từ năm học 2008 - 2009, và hằng năm có thu thập thêm thông tin để củng cố thêm. Với phương thức chia các lớp đã dạy ra các nhóm khác nhau để thực hiện theo các phương án khác nhau, tổng hợp kết quả rút ra nhận xét và đi đến kết luận. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lí luận của vấn đề. Kiến thức sinh học , đặc biệt là sinh học 12 rất nhiều cả về lí thuyết và bài tập. Vậy phải học như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất trong các kỳ thi sắp tới. Phương pháp học ngày nay được quan niệm là phương pháp lĩnh hội, "cách học" tìm ra tri thức. Phương pháp học có tính chất lập trường tương đối, nhưng chịu sự chi phối của phương pháp dạy. Với loại kiến thức ôn thi tốt nghiệp, học như thế nào để nhớ, hiểu và vận dụng được kiến thức đó. Trước hết phải hiểu ôn: nghĩa là học lại kiến thức nhằm khắc sâu nắm vững được cấu trúc, thành phần của kiến thức . Kiến thức Sinh học 12 tương đối nhiều. Vì thế ôn phải có hệ thống, phân loại kiến thức thành từng dạng. Kiến thức sinh học 12 với ba chủ đề chính: Chủ đề 1: Di truyền học Chủ đề 2: Tiến hóa Chủ đề 3: Sinh thái học Như vậy ôn lại những kiến thức trền nhằm hoàn thiện những kiến thức đã học giúp học sinh tự nghiên cứu để lĩnh hội tri thức mới mở rộng tri thức. Rèn luyện có hiệu quả các kĩ năng nghiên cứu thực hành bộ môn. Khi đã học tốt thì làm bài như thế nào cho hiệu quả là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Kỳ thi tốt nghiệp đang đến gần kết quả của thi quyết định đến nhiều vấn đề của bản thân mỗi học sinh. Làm bài thi là việc thực hiện các thao tác trên phiếu trả lời và đây là kết quả của quá trình ôn và học của học sinh. Vậy thực tế của hai vấn đề trên như thế nào. II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu. Ở trường chúng tôi, chất lượng đầu vào của học sinh rất thấp. Trong trường hợp này học sinh yếu cả về năng lực và phương pháp tự học cũng như các kĩ năng làm bài. Trong nhiều năm qua bản thân cá nhân và cả đội ngũ đã tìm tòi, học hỏi mong tìm ra cách thức để học sinh nêu cao ý thức tự học từng bước nâng cao kiến thức cơ bản. Với phương pháp học cũ, chúng tôi dạy lí thuyết bằng cách truyền thụ kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa. Chỉ dành thời gain ôn tập ở những tiết có trong phân phối chương trình. Đến cuối tháng 03 hằng năm, khi công bố môn thi tốt nghiệp, chúng tôi mới bắt đầu tổ chức ôn thi cho học sinh. Chủ yếu với phương pháp nhắc lại các kiến thức cơ bản( vì thời gian có hạn). Với phương pháp này thì
  4. trong khoảng thời gian ngắn cũng đã phần nào giúp học sinh cũng cố lại kiến thức, tuy nhiên phương pháp này chưa rèn luyện được kĩ năng cho học sinh làm bài và trong một khoảng thời gian ngắn vì thế học sinh nhồi nhét , chưa có thời gian vận dụng các kiến thức, đặc biệt là các bài tập sinh học. Và kết quả chúng tôi thu được từ các phương pháp trên rất khiêm tốn, năm học 2008 -2009 tỉ lệ tốt nghiệp môn Sinh khoảng 80% thấp hơn rất nhiều so với tỉ lệ chung của cả Sở về bộ môn, ngoài ra năm học 2009 - 2010 chúng tôi đã thăm dò kết quả của phương pháp này trên toàn học sinh khối 12 kết quả chúng tôi chỉ có khoảng 73% học sinh đạt từ điểm 5 trở lên và học sinh phạm các lỗi trong làm bài trắc nghiệm cũng rất cao. Chúng tôi nhận định ngoài chất lượng đầu vào của học sinh thì một phần phương pháp ôn và học bài cũ chưa phù hợp, kĩ năng làm bài thi trắc nghiệm một phần chưa được bồi dưỡng đúng mức và có thời gian. Vậy học sinh thường khó khăn và mắc những lỗi nào trong làm bài thi trắc nghiệm môn Sinh. Cụ thể: khi tô đáp án chưa tô kín cả vòng tròn, đầu chì nhọn quá làm rách giấy, làm quăn góc phiếu trả lời, để sót câu ... Ngoài ra trong quá trình làm bài còn chưa biết cách phân bố thời gian hợp lí . Cứ sau mỗi đợt thi trong năm học này thì biểu hiện của một số vấn đề về kĩ năng làm bài thi tốt nghiệp rất lớn. Chúng tôi đã thống kê trong hai đợt thi thử tốt nghiệp vừa rồi: có trên 40 học sinh chưa viết tên thí sinh bằng chữ in hoa có dấu, 30% thí sinh còn bỏ sót một số câu không làm, tô số báo danh và mã đề chưa chính xác. Điều nay chứng tỏ kĩ năng làm bài thi tốt nghiệp của học sinh cần phải được bồi dưỡng một cách hiệu quả đến từng đối tượng. III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết. 1. Phương pháp học ôn thi tốt nghiệp. Đầu tiên học sinh cần có thái độ nghiêm túc trong học tập: Phải xác định việc học là của bản thân mình, kết quả cuối cùng do mình chịu trách nhiệm. Có thái độ học nghiêm túc khi đó mới có được phương pháp học đúng đắn. Cần có kế hoạch học sớm ngay từ đầu và học thường xuyên, vì môn sinh chỉ là một môn trong các môn thi tốt nghiệp vì thế không có kế hoạch thì sẽ phân bố thời gian không hợp lí và từ dó ảnh hưởng đến chất lượng bài thi. a. Phương pháp học trên lớp. Khi trên lớp phải chú ý tập trung cao độ nghe giáo viên dạy, ghi chép bài đầy đủ, tuyệt đối không không bỏ bất kỳ bài học nào. Ở trên lớp yêu cầu phải ghi bài thật nhanh theo cách hiểu của mình, phải thật tập trung. Khi học môn Sinh thì chỉ tập trung vào bài mình đang học , những vấn đề chưa hiểu, còn thắc mắc cần hỏi giáo viên hoặc các bạn ngay tại lớp và trong buổi đó. Tuyệt đối tránh tình trạng chưa hiểu không hỏi mà bỏ qua luôn. Bộ môn Sinh học kiến thức luôn lôgic và trình tự, vì thế học sinh phải luôn trong tâm trạng chủ động. Nếu bỏ qua bất kỳ bài nào thì bài giảng sau sẽ rất khó tiếp thu. Khi hiểu bài thì học sinh mới có cách ghi đúng, đủ và nhanh.
  5. Cách ghi bài: Chỉ cần ghi những gì mà bản thân thấy thật cần thiết. Ghi theo cách hiểu của mình. Ghi để có thể tự học được, có thể ghi theo kí hiệu riêng của bản thân. Với những phần giáo viên nhắc lại nhiều lần và chốt lại học sinh cần gạch chân hoặ ghi băng mực khác màu. Cần lưu ý trong quá trình ghi bài luôn có hai bút khác nhau(thường một bút mực màu đỏ) và tận dụng triệt để hiệu quả. Dùng bút đỏ, để ghi lại những gì mình còn chưa hiểu hoặc những kiến thức mình phân tích hoặc suy luận ra. Với mức độ các đề tốt nghiệp học sinh cần chú ý nhiều tới các khái niệm. Đây là phần kiến thức thường được đề cập. Ghi khái niệm không phải ghi một mạch liền mà tách ra các ý nhỏ như vậy khi học nhớ mấy ý và từ đó suy ra. Ví dụ: Khi ghi khái niệm quần thể nhớ 3 ý - Là tập hợp các cá thể cùng loài - Sống trong khoảng thời gian xác định - Giữa các cá thể có thể giao phối với nhau sinh ra thế hệ mới Như vậy để dễ nhớ dễ học thường phải ghi theo cách định lượng bằng cách mở ngoặc phía sau nội dung đó. Nội dung gồm mấy ý, ghi như vậy rất dễ tái hiện. Mỗi lần ghi theo phương pháp riêng như vậy bản thân người ghi đã sáng tạo một lần và cứ như vậy thì cách ghi mang tính chất cá nhân này sẽ đem lại cho học sinh phương pháp mới. Lưu ý trong phương pháp đánh giá của giáo viên lấy hiệu quả và sự sáng tạo của học sinh làm tiêu chí cơ bản. Không thể bắt học sinh ghi bài theo cách rập khuôn mà để học sinh ghi theo cách hiểu của riêng mình. Khi kiểm tra kiến thức cũ, giáo viên hãy để học sinh trình bày lên bảng với mục đích: rèn luyện chữ viết, cách trình bày một văn bản, phát hiện ra nhưng sai sót của học sinh để điều chỉnh kịp thời ... Với cách ghi bài như trên sẽ tạo ra một tâm lí muốn tự hoàn thiện tác phẩm của mình chắc chắn học sinh sẽ hứng thú hơn trong việc ôn bài ở nhà. b. Phương pháp học ôn ở nhà Ôn thi tốt nghiệp yêu cầu thật hiệu quả, trong thời gian ngắn phải nắm rõ và đầy đủ các nội dung cần đạt được. Để ôn tập hiệu quả, tránh tập trung nhiều vào các phần mà bản thân ưa thích. Đầu tiên phải nghiên cứu cấu trúc đề th tốt nghiệp của năm đó, sau đó lấy mục lục của sách giáo khoa ghi rõ số câu sau mỗi chương, mỗi phần. Với động tác này sẽ giúp học sinh phân bố thời gian hợp lí cho mỗi phần kiến thức. Đây là thời gian mà hầu hết các trường đã tổ chức ôn tập cho học sinh. Vì thế học sinh nhất thiết phải tham gia đầy đủ các buổi ôn tập và ghi chép thật cẩn thận những lưu ý của giáo viên. Để học lí thuyết nhanh học sinh phải hội tụ đủ 3 yếu tố cần: Hiểu bài. Lập dàn ý chi tiết cho mỗi bài bằng cách vạch ra các ý chính và nắm chắc kiến thức cốt lõi đó, trong mỗi ý chính tìm ra các ý phụ ...
  6. Xây dựng mối liên hệ giữa các bài, các chương thành hệ thống phân loại kiến thức bằng cách lập sơ đồ, qua đó cũng cố được kiến thức cơ bản vừa tránh được sự nhầm lẫn kiến thức. Vậy để hiểu được bài cách tốt nhất là tái hiện lại kiến thức: Sau khi nghe giáo viên giảng, ghi chép đầy đủ. Về nhà sau một thời gian nghỉ ngơi ăn nuống học sinh ngồi vào bàn tái hiện lại kiến thức ngay (nghe buổi sáng, tái hiện lại buổi chiều, nghe buổi chiều tái hiện ngay buổi tối), với bài tập che bài giải của giáo viên, để giải lại. Ở đây cần đề cao phương pháp tự học ở nhà nghĩa là không phải học thuộc lòng mà phải tự mình trả lời câu hỏi, giải bài tập trong phiếu in sẵn trên cơ sở kiến thức đã tiếp từ sách "biến đổi" thành vốn liếng của mình. Nhìn chung đề thi tốt nghiệp thi theo hình thức trắc nghiệm những năm gần đây bám rất sát chương trình sách giáo khoa, vì thế để hiểu và nhớ sách giáo khoa, học sinh phải khái quát, tổng kết về chương trình sinh 12, nắm vững ý chính của từng bài. Điều này sẻ giúp hệ thống hóa kiến thức của mình và không mông lung, rối lên vì nhiều kiến thức. Để hệ thống hóa kiến thức, thí sinh có thể làm các bước sau: - Nắm vững 10 chương của chương trình sinh học 12 - Nắm vững số bài trong một chương(Ví dụ: Chương I - Cơ chế di truyền và biến dị có 7 bài). - Nắm vững ý chính trong 1 bài(Ví dụ: Bài 3 - Điều hòa hoạt động gen có 2 ý). - Nắm vững số ý phụ trong 1 ý chính(Ví dụ: Điều hòa hoạt động gen ở sinh vật nhân sơ có 2 ý) - Nắm vững các ví dụ trong sách giáo khoa. Sau khi lập dàn ý chi tiết cho chương trình. Tiếp theo phải phân loại kiến thức để tìm cách học cho phù hợp. Với bộ môn sinh học nói chung và Sinh học 12 nói riêng kiến thức chia làm 3 nhóm: - Kiến thức về các khái niệm sinh học - Kiến thức về các quá trình sinh học - Kiến thức về các quy luật sinh học Kiến thức khái niệm yêu cầu học sinh phải nhớ chính xác, vì thế phương pháp học kiến thức về các khái niệm sinh học là dùng phương pháp tái hiện là chủ yếu. Ghi ra giấy nhiều lần sau đó phân tích xem có mấy ý cần nhớ. Ví dụ: Khái niệm quần thể(có 3 ý cần nhớ rõ) Là tập hợp cá thể: + cùng loài + sống trong khoảng không gian và thời gian nhất định + giao phối với nhau sinh ra thế hệ mới. Trong chương trình sinh học 12 và đề thi tốt nghiệp, kiến thức về khái niệm chiếm một tỉ lệ tương đối lớn. Vì thế việc hệ thống ra kiến thức khái niệm và học để hiểu và nhớ kiến thức về khái niệm là cực kỳ cần thiết, ngoài ra phải biết liên hệ giữa các khái niệm với nhau để xâu chuổi thành một hệ thống có các quá trình khác nhau.
  7. Ví dụ: Khái niệm quần thể Quần xã Hệ sinh thái Kiến thức về các quá trình sinh học là loại kiến thức không phản ánh một sụ kiện, hiện tượng riêng lẽ mà nó phản ánh một chuỗi các sự kiện liên tiếp xảy ra theo một trình tự chặt chẽ, có tính định hướng rõ rệt. Khi học loại kiến thức này học sinh phải lập được dàn ý. - Diễn ra ở đâu, tại cơ quan nào? - Các thành phần tham gia ? - Diễn biến(mấy giai đoạn)? - Kết quả Ví dụ: Qúa trình nhân đôi ADN - Diễn ra trong nhân tế bào. - Các thành phần tham gia: ADN gốc, các loại enzim, nucleotit của môi trường - Diễn biến(3 giai đoạn ) + Duỗi, tháo xoắn phân tử ADN + Tổng hợp: mạch liên tục diễn ra như thế nào Mạch gián đoạn diễn ra như thế nào. + Kết thúc quá trình nhân đôi - Kết quả: Tạo 2 ADN mới giống nhau và giống ADN ban đầu Kiến thức qúa trình không khó nhưng không thể nhớ thuộc lòng và máy móc như khái niệm. Mà phải nhớ có hệ thống và liên hệ mật thiết với nhau. Ví dụ: muốn có quá trình dịch mã trước đó phải có quá trình phiên mã. Loại kiến thức thứ 3 là kiến thức về các quy luật sinh học là kiến thức phản ánh xu thế vận động tất yếu của các sự vật, hiện tượng và mối liên hệ bản chất giữa các mặt khác nhau của một sự vật hiện tượng hoăc giữa các sự vật hiện tượng khác nhau, trong đó đặc biệt quan trọng là mối quan hệ nhân quả. Khi học loại kiến thức về quy luật học sinh phải nắm được các ý chính sau: - Thí nghiệm tiến hành để tìm ra quy luật - Nội dung quy luật - Bản chất quy luật - Ứ ng dụng công thức. Ví dụ: Quy luật phân ly. - Thí nghiệm(Đối tượng: Đậu hà lan, Cách tiến hành) - Nội dung: Sự phân li đồng đều của hai alen trong cặp NST tương đồng - Bản chất: Do các NST phân li đồng đều. Ứng dụng: Để chứng minh các quy luật sau, cách viết giao tử cho các kiểu gen khác nhau. Như vậy kiến thức quy luật học sinh phải luyện tập trực tiếp, rèn luyện bài tập vận dụng ngay sau khi học lí thuyết một cách nhuần nhuyễn. Vậy bài tập sinh học 12 có thể chia ra 2 loại sau:
  8. Với bài tập cơ sở vật chất di truyền và biến dị, bài tập về cấu trúc di truyền quần thể: là những dạng bài tập thuộc khoa học chính xác. Do đó, các em phải nắm vững công thức mới giải được. Tuy nhiên không nên năm công thức một cách máy móc sẽ rất nhanh quên, điều cơ bản là các em phải nắm được bản chất và hình thành ra công thức đó. Trên cơ sở đó phải biết vận dụng các công thức một cách linh hoạt trong khi giải bài tập trên lớp và ở nhà. Riêng bài tập quy luật di truyền(bài tập lai) thuộc khoa học thực nghiệm, phải sử dụng lí thuyết đã học để giải thích kết quả thí nghiệm theo đề bài(biện luận và viết sơ đồ lai). Vì vậy để biện luận một bài tập lai(dạng toán nghịch) ta tiến hành các bước sau: - Xác định tính chất di truyền của tính trạng(tính trội, lặn) - Quy ước gen - Xác định quy luật di truyền chi phối phép lai - Xác định kiểu gen của bố mẹ - Viết sơ đồ lai( nếu có hoán vị gen thì phải tính tần số hoán vị gen trước khi viết sơ đồ lai) Sau khi làm xong các em nên kiểm tra với tỉ lệ kiểu hình qua sơ đồ lai, nếu đúng với đề bài cho thì ta đã biện luận chính xác. Trong đề thi tốt nghiệp các bài tập cho tương đối đơn giản, có thể làm ngay không cần các bước trên nhưng để hiểu được bản chất và tìm ra kết quả nhanh thì phải giải trình tự các bước trên. Nhưng lưu ý không đầu tư quá nhiều thời gian vào các tiết bài tập vì bài tập trong đề thi chỉ chiếm khoảng 20% tổng số câu mà có rất nhiều dạng khác nhau. Sau khi tiến hành các công việc trên, học sinh cần kiểm tra kiến thức của mình. Đó là dùng các đề thi năm trước, các đề thi của giáo viên cung cấp và các câu trắc nghiệm trong sách bài tập sinh học 12, tự làm bằng cách không xem đáp án, sau đó đối chiếu với kết quả của từng câu, những câu làm sai phải xem xét tại sao mình chọn đáp án sai, từ đó củng cố lại phần kiến thức chưa chắc chắn. Với những đề thi của các năm trước học sinh cần phô tô phiếu trả lời thành nhiều bản để tự làm, khi làm cần phải tính thời gian và sau đó đối chiếu với kết quả để tự chấm điểm cho bản thân. Đây là bước tập duyệt và củng cố kiến thức để bước vào mùa thi có nhiều kết quả tốt đẹp. Trong trường hợp này yêu cầu học sinh nêu cao tinh thần tự học, tự làm các đề thi trắc nghiệm. Vậy thi trắc nghiệm đòi hỏi phải có những kĩ năng gì? 2. Kĩ năng làm bài thi trắc nghiệm sinh học Đề thi trắc nghiệm được áp dụng cho việc kiểm tra đánh giá với một số bộ môn, trong đó có bộ môn sinh học. Đây là hình thức thi ngày càng chiếm ưu thế và phổ biến. Vậy khi thi trắc nghiệm phải có một số kĩ năng cơ bản. Đầu tiên khi nhận phiếu trả lời trắc nghiệm cần phải giữ cho phiếu luôn phẳng, không bị rách bị gập các góc, bị quăn mép giấy vì đây là bài làm của thí sinh được
  9. chấm bằng máy. Sau đó điền các thông tin từ mục số 1 đến mục số 9, luôn nhớ" viết bằng bút mực, tô bằng bút chì". Ghi tên của thí sinh bằng chử in hoa có dấu. Tô số báo danh thật chính xác. Một số lưu ý khi làm bài . - Đừng gọt đầu chì quá nhọn: Đầu bút chỉ gọt bằng dao, để có đầu bút dẹt, rộng và phẳng sẻ nhanh chóng bôi đen vòng tròn bằng một vài gạch. Chú ý luôn có 2 bút chì cùng loại đã gọt sẵn. - Giữ đầu bút chì thẳng đứng khi bôi đen vòng tròng: Với bút chì như trên và cách cầm bút thẳng đứng sẻ nhanh chóng bôi đen ô tròng. - Hãy sử dụng cả hai tay trong quá trình làm bài: Để phiếu trả lời ở phía tay thuận và câu hỏi ở phía tay còn lại. Để hạn chế việc tìm câu hỏi tay trái sẽ ghi nhận câu mình đang trả lời, tay phải giữ bút chì ở vị trí tương ứng trên phiếu trả lời và động tác này củng hạn chế tình trạng trả lời nhầm trên phiếu trả lời. - Hãy trả lời tất cả các câu hỏi: Do tại thời điểm này, việc trả lời sai đáp án chưa bị trừ điểm, do đó phải trả lời tất cả các câu hỏi để tối đa hóa cơ may giành điểm, trả lời tất cả 40 câu hỏi, tuyệt đối không để trống đáp án của câu nào. Các bước giải quyết các câu hỏi trong đề thi trắc nghiệm. Ngay sau khi nhận đề cần tuân thủ một số lưu ý: Ghi ngay mã đề thi và tô mã đề thi vì nếu để quên điều này có thể dẫn đến quên mã đề và toàn bộ bài làm sẽ không được chấm. Làm câu nào tô ngay câu đó tránh tình trạng ghi đáp án ra giấy nháp dẫn đến tô nhầm đáp án của câu này sang câu khác. Ngoài ra trong đề thi tốt nghiệp các câu hỏi với các mức độ khó dễ khác nhau, nên việc làm bài phải có sự tính toán để tạn dụng một cách hiệu quả thơi gian. Thông thường trong đề thi có 4 loại câu hỏi: Câu hỏi nhớ: là dạng câu hỏi khá dễ chỉ dòi hỏi nắm kiến thức cơ bản và khi đọc câu hỏi có thể ghi ngay ra câu trả lời. Trong để thi tốt nghiệp thì loại câu hỏi này chiếm số lượng tương đối nhiều, vì thế cần phải tận dụng triệt để tuy nhiên cần chú ý vì càng dễ càng làm cho bạn mất cảnh giác. Dạng câu hỏi suy luận hoặc tính toán. Dạng này khó hơn dạng trên. Mặc dầu nắm được bài, làm chủ được công thức nhưng câu trả lời không thể có ngay mà đòi hỏi phải có một thời gian ngắn để suy nghĩ và tính toán trước khi lựa chọn. Với dạng câu hỏi này các em phải có khả năng tính toán nhanh chóng, chính xác và biết cách suy diễn hợp lí trên nền kiến thức cơ bản. Trong đề thi lượng câu hỏi này cũng thường xuyên gặp, đặc biệt các bài tập. Dạng câu hỏi mơ hồ: Đây là dạng câu hỏi cảm thấy phân vân nữa như đã học , nữa như chưa học. Thực tế câu hỏi này không phải khó đối với tất cả học sinh vì có thể kiến thức không được củng cố hoặc vì một lí do nào đó mà học sinh cảm giác không chắc chắn khi đi tìm câu trả lời. Với những câu hỏi này học sinh nên sử dụng phương pháp loại suy.
  10. Dạng câu hỏi không trả lời được. Là dạng câu hỏi vượt mọi khả năng, cố gắng của học sinh, mọi phương pháp suy luận đều vô ích. Đây là dạng câu mà trả lời một cách may rủi. Tuy nhiên trong đề thi tốt nghiệp dạng câu hỏi này hầu như không có. Vì nếu học sinh chỉ cần học lực trung bình khá là đã có thể làm được hầu hết các câu hỏi. Sau khi phân loại các câu hỏi như trên, học sinh bước vào làm bài thi với quy trình 4 vòng như sau: Vòng 1: Đọc đề câu hỏi một lượt, những câu có thể trả lời ngay, tô liền vào phiếu trả lời, khi gặp câu hỏi lúng túng không thể trả lời được ngay mà cần phải có thời gian suy luận hoặc tính toán hãy đánh dấu câu đó trên tập câu hỏi, chuyển ngay sang câu khác và cứ như thế cho đến câu cuối cùng. Vòng 2: Quay lại từ đầu để giải quyết câu hỏi mà trong vòng 1 chưa làm. Vòng này sẽ giải quyết câu hỏi trong khả năng của mình, dù có mất một chút thời gian để suy luận hay tính toán. Nhũng câu hỏi mà cảm giác khó quá hay hoàn toàn xa lạ thì chuyển ngay sang vòng sau. Vong 3: Với câu hỏi quá khó thi ta áp dụng kỉ thuật loại suy để chọn may rủi 1 trong 4 đáp án, chỉ có 25% cơ may để trúng, thông thường trong 4 đáp án sẽ có 1 đáp án nhìn vào thấy sai ngay nếu để ý kĩ lúc này cơ may tăng lên 33% và cứ như vậy dùng phương pháp loại suy tiếp theo thi cơ hội 50% để có điểm cho câu hỏi này. Vì đề thi tốt nghiệp không có câu hỏi quá khó. Vòng 4: Là những câu hỏi mà không thể dùng phương pháp loại suy hay phương pháp khác, lúc này em chỉ chọn cách may rủi. Cần lưu ý: Với câu hỏi khẳng định thì đáp án thường nằm ở câu trả lời dài nhất, hoặc đáp án cả A, B, C hoặc tất cả đều đúng. Với câu phủ định, đáp án thường nằm ở những câu trả lời ngắn nhất. Tuy nhiên khi đánh các câu trống còn lại nên đánh cùng một đáp án, hoặc A hết hoặc B hết... như vậy xác suất cao hơn rất nhiều khi đánh ngẫu nhiên. Lưu ý khi trống đánh hết giờ thì bài thi phải tô đủ đáp án 40 câu. Lúc này hãy ra soát các thông tin như số báo danh, họ tên, mã đề trước khi nộp bài cho giám thị. IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ở 4 lớp 12 năm học 2008 - 2009. Năm học 2010 - 2011, chúng tôi tiếp tục mạnh dạn áp dụng với các lớp 12A, 12B, 12G, 12H trong các bài thi tại trường. Sau đó tổng hợp kết quả so sánh với các lớp không áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm này, nhận ra: Kết quả thi tốt Mức điểm Các lớp áp dụng SKKN Các lớp không áp dụng SKKN nghiệp Thi tốt nghiệp dưới 5 51/ 200 25.5% 97/203 47.8% 2008 - 2009 5-7 123/200 61.5% 87/203 42.8% trên 7 42/200 21% 19/203 9.4% Thi thử TN dưới 5 35/197 17.8% 54/101 53.5% 2010 - 2011 5-7 112/197 57.9% 42/101 41.6%
  11. trên 7 50/197 25.3% 5/101 4.9% Như vậy chất lượng đầu vào của các lớp của trường chúng tôi đa số như nhau, rõ ràng kết quả với những lớp bản thân dạy mà không áp dụng đề tài này đều cho kết qủa kém hơn với các lớp mà bản thân dạy và có áp dụng đề tài này, điều này thể hiện rằng hướng nghiên cứu và áp dụng sáng kiến kinh nghiệm của chúng tôi có một số tác dụng cụ thể. Ngoài ra khi kiểm tra các lỗi thi trắc nghiệm của các năm theo con số thống kê của Sở thì kết quả ngày càng giảm, cụ thể. Năm học Số học sinh áp SKKN bị lỗi so với tỉ lệ % tổng số học sinh mắc lổi của toàn trường 2008 - 2009 22/67 32.8% 2009 -2010 6/42 14.3% Qua đợt thi thử vừa rồi số học sinh mắc các lỗi trong thi tốt nghiệp có giảm đáng kể, khi chúng tôi đã tập duyệt kĩ năng thi trắc nghiệm trước học sinh toàn trường. C. KẾT LUẬN 1.Ý nghĩa của đề tài. Rõ ràng kết quả giảng dạy và học tập của học sinh được thể hiện qua tỉ lệ học sinh đậu ở các kỳ thi. Chúng tôi chỉ cần bỏ ra một ít thời gian trong mỗi tiết day để hướng dẫn cho học sinh cách ghi chép, cách học mỗi bài mỗi dạng... thì kết quả ta thu được sẽ rất khả quan. Học sinh biết cách ghi chép, biết cách tự học, tự ôn ở nhà và quan trong hơn chúng ta tập duyệt cách làm một bài thi trắc nghiệm cho thât hiệu quả. Nhằm hạn chế những sai sót không đáng có, để tỉ lệ học sinh tốt nghiệp bộ môn ngày càng cao. Sáng kiến kinh nghiệm này chỉ là những kinh nghiệm của bản thân trong thực tiễn giảng dạy trên lớp. Đối tượng áp dụng của đề tài, chủ yếu là những học sinh có lực học trung bình hoặc dưới trung bình. Vì thế những kinh nghiệm này chỉ có thể áp dụng ở một số lớp mà năng lực và khả năng tự học của học sinh chưa cao, với những học sinh đã có phương pháp học hiệu quả thi không nhất thiết cần áp dụng đề tài này. Trên đây chỉ là những nhận định chủ quan của bản thân chắc chắn còn nhiều thiếu sót, hy vọng bản thân ngày càng tích lũy nhiều kinh nghiệm để đề tài hiệu quả và áp dụng rộng rãi hơn. 2. Ý kiến đề xuất. Đề tài của tôi chỉ là kinh nghiệm giảng dạy của bản thân tích luỹ trong thời gian và kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế nên còn một số nội dung chưa thực sự phổ biến, một số phần chưa thật hiệu quả, rất mong các đồng chí góp ý để tôi hoàn thành đề tài tốt hơn. Đối với đề tài của tôi xin kiến nghị và đề xuất một số vấn đề như sau:
  12. - Đề tài này tuy đã cố gắng hoàn thiện nhưng do điều kiện khách quan và chủ quan nên chỉ áp dụng trong phạm vi trường chúng tôi. Nên rất mong BGH tạo điều kiện phổ biến rộng rãi trong toan trường. - Với những học sinh khá thì cần những trao đổi để có phương pháp phù hợp hơn, đề tài này chỉ áp dụng với học sinh ôn thi tốt nghiệp - Khi sử dụng cần có thêm các ví dụ cụ thể sát với thực tế hơn để kích thích hứng thú cho học sinh. Xuất phát từ tâm nguyện và nhu cầu của người giáo viên đang từng ngày đứng trên bục giảng tôi xin kiến nghị với cấp trên về vấn đề đánh giá và ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm như sau: - Cần có những động viên kịp thời với những người có những sáng kiến kinh nghiệm hay thiết thực và hiệu quả công tác giảng dạy và thi cử - Sở giáo dục cần công bố và đưa các sáng kiến kinh nghiệm tốt lên mạng internet để giáo viên tham khảo và ứng dụng vào giảng dạy. Tôi xin chân thành cảm ơn
  13. TÀI LIỆU THAM KHẢO TT Tài liệu tham khảo Tác giả Năm Nhà xuất bản 1 Lí luận phương pháp dạy học Sinh Nguyễn Quang Vinh 2001 Giáo dục học 2 Trắc nghiệm Sinh học Nguyễn Viết Nhân 2010 Y học 3 Ôn luyện Sinh học Huỳnh Quốc Thành 2011 Đại học Sư phạm 4 Phương pháp giải các bài tập sinh học Trần Dũng Hà 2010 Đại học quốc gia Hà Nội trọng tâm Nguyễn Hải Tiến Giáo dục 5 Cấu trúc đề thi các môn Toán, Lí, Cục khảo thí 2009 Hoá, Sinh 6 Đề thi các môn Toán, Lí, Hoá, Sinh Sở giáo dục & đào tạo Hà Tĩnh 2010
  14. Mục lục Mục Nội dung Trang A. Đặt vấn đề 1 I. Lời mở đầu 1 1. Mục đích nghiên cứu 1 2. Phương pháp nghiên cứu 1 3 Đối tượng nghiên cứu 1 4 Phạm vi nghiên cứu 1 B Giải quyết vấn đề 2 I. Cơ sở lí luận và giải pháp thực hiện 2 II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 2 III. Các biện pháp đã tiến hành thực hiện 3 IV. Hiệu quả của sang kiến kinh nghiệm 8 C. Kết luận 9 1. Ý nghĩa của đề tài 9 2. Kiến nghị và đề xuất 9 Tài liệu tham khảo 10

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản