intTypePromotion=1
ADSENSE

SKKN: Ứng dụng CNTT vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS

Chia sẻ: Trần Thị Tan | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:15

31
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu của đề tài là Vận dụng CNTT trong dạy học nhằm cải tiến phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng đào tạo. Trong đó, việc tích cực vận dụng CNTT và các thiết bị dạy học hiện đại là nhân tố có tác động quan trọng nhất đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong thời gian qua.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Ứng dụng CNTT vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS

  1. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS  A. PHẦN MỞ ĐẦU I­ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Khi công nghệ  thông tin ( CNTT) càng phát triển thì việc phải  ứng dụng  CNTT vào tất cả  các lĩnh vực là một điều tất yếu.  Trong lĩnh vực giáo dục đào   tạo, CNTT bước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý, một số nơi đã đưa  tin học vào giảng dạy, học tập. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn hiện nay, việc   ứng dụng CNTT trong giáo dục  ở  các trường nước ta còn rất hạn chế. Chúng ta  cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng ta   không nên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh vực CNTT mang lại, chúng ta nên biết   cách tận dụng nó, biến nó thành công cụ  hiệu quả  cho công việc của mình, mục  đích của mình.          Hơn nữa, đối với Giáo dục và Đào tạo, CNTT có tác dụng mạnh mẽ, làm  thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học. CNTT là phương tiện để  tiến tới “xã  hội học tập”. Mặt khác, Giáo dục và Đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự  phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT. Bộ giáo  dục và Đào tạo cũng yêu cầu “đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo ở  tất cả  các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng dẫn học CNTT như  là một   công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn”.          Thực hiện tinh thần chỉ đạo của Bộ giáo dục – Đào tạo và của Sở giáo dục ­   Đào tạo Bình Thuận, tôi nhận thức được rằng, việc ứng dụng CNTT phục vụ cho   việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong những hướng tích cực nhất, hiệu   quả nhất trong việc đổi mới phương pháp dạy học và chắc chắn sẽ được sử dụng   rộng rãi trong nhà trường phổ thông trong một vài năm tới, tôi đã mạnh dạn học tập  và đưa CNTT vào giảng dạy ba năm nay.       Nhưng làm thế nào để ứng dụng CNTT hiệu quả trong các tiết dạy, đặc biệt  là đối với bộ môn Vật lí đó là vấn đề mà bất cứ một giáo viên nào cũng gặp phải  khi có ý định đưa CNTT vào giảng dạy. Trong sáng kiến kinh nghiệm  “Ứng dụng   CNTT vào giảng dạy Vật lí  ở  trường THCS”, tôi sẽ  đưa ra những ý kiến, kinh  nghiệm của cá nhân mình đã thử  nghiệm trong thời gian vừa qua để  cùng các bạn   đồng nghiệp thảo luận tìm ra những giải pháp tốt nhất cho những tiết dạy của   mình và các hoạt động ngoại khóa của bộ môn Vật lí. II­ MỤC ĐÍCH: Sáng kiến kinh nghiệm “Ứng dụng CNTT vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS,  giúp: ­ Vận dụng CNTT trong dạy học nhằm cải tiến phương pháp dạy học để  nâng cao chất lượng đào tạo. Trong đó, việc tích cực vận dụng CNTT và các thiết  bị  dạy học hiện đại là nhân tố  có tác động quan trọng nhất đối với việc nâng cao   chất lượng đào tạo của nhà trường trong thời gian qua.  Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  2. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS ­ Vận dụng CNTT và các thiết bị dạy học hiện đại để đổi mới phương pháp  dạy học đối với tất cả  các môn học  ở  trường phổ  thông, qua thực tế  của trường   THCS Thuận Qúy, đã chứng minh đều có tác dụng nâng cao chất lượng đào tạo rõ   rệt.  B­ NỘI DUNG I­ CƠ SỞ LÝ LUẬN: Trong thời đại ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật  và công nghệ thông tin, làn sóng vĩ đại của công nghệ đang tổ chức lại một cách cơ  bản đời sống xã hội của con người về mọi mặt từ kinh tế đến văn hoá. Việc đào  tạo ra những con người có năng lực, có trình độ  nhận thức cao đang là mục tiêu   hàng đầu của nhân loại trong thế kỉ XXI. Xu thế chung đã đưa Giáo dục trở thành quốc sách hàng đầu, thành lĩnh vực   được nhiều quốc gia chú trọng đầu tư. Đảng và nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ  của giáo dục là nhằm “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài xây   dựng những con người mới năng động sáng tạo”. Cùng với những cuộc cải cách toàn diện về kinh tế, xã hội yêu cầu cải cách  giáo dục cũng đã được đặt ra. Người ta đề  cập nhiều đến chất lượng giáo dục,   đến chương trình sách giáo khoa cho các cấp, đến đổi mới phương pháp dạy học. Nghị quyết TW 2, khoá VIII đã xác định mục tiêu của việc đổi mới phương   pháp giáo dục đào tạo là nhằm:  “khắc phục lối truyền thụ  một chiều, rèn luyện   thành nếp tư  duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp   tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian   tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học.”  Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học các   môn nói chung, phương pháp dạy học Vật lí nói riêng đã được đặt ra và thực hiện  một cách cấp thiết cùng với xu hướng đổi mới giáo dục chung của thế giới. Luật  giáo dục sửa đổi đã chỉ  rõ: “phương pháp giáo dục phổ  thông phải phát huy tính   tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,   từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự  học, rèn luyện kỹ  năng vận dụng kiến   thức đã học vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học   tập cho học sinh”. Trong một thập niên trở lại đây, nhiều quan niệm, phương pháp dạy học mới  đã và đang được nghiên cứu, áp dụng  ở  trường phổ  thông như:  dạy học nêu vấn   đề, dạy học tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dạy học theo dự án, dạy   học với sự hỗ trợ của công nghệ… . Tất cả đều nhằm mục đích tích cực hoá hoạt   động của học sinh, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Đặc biệt việc sử dụng   công nghệ tin học để xây dựng bài giảng điện tử (hay giáo án điện tử) các môn nói  chung, dạy học  Vật lí  nói riêng, được xem là một trong những công cụ  đem lại  hiệu qủa tích cực trong việc đổi mới việc dạy và học. Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  3. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS II­ CƠ SỞ THỰC TIỄN: Trường THCS Thuận Quý nằm ở  vùng ven biển, phần đông học sinh là con  em các gia đình làm nghề  biển và nông nghiệp, điều kiện kinh tế  cũng ngày càng  khá giả. Do vậy, phụ huynh học sinh rất quan tâm đầu tư cho con em, nhiều nhà đã  mua máy vi tính cho con em phục vụ học tập. Trường THCS Thuận Quý luôn được cấp trên và các mạnh thường quân quan  tâm. Hiện nay trường có một phòng máy vi tính gồm 10 máy, một máy chiếu đa  năng và trên 50% giáo viên có Laptop riêng nên thuận lợi trong việc  ứng dụng   CNTT vào dạy học. Từ năm học 2008­2009, nhà trường đã tiến hành dạy nghề môn  Tin học cho học sinh.           Qua việc tiếp cận CNTT tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi, học hỏi các bạn, đồng  nghiệp cũng như  tìm hiểu về  tư  liệu CNTT. Đặc biệt   làm thế  nào để   ứng dụng  trong dạy học có hiệu quả.           Dưới sự  chỉ  đạo của Phòng GD­ĐT, Ban giám hiệu nhà trường tôi đã mạnh  dạn và cố  gắng áp dụng CNTT trong dạy học. Trong năm học vừa qua tôi đã sử  dụng CNTT vào hội thi giáo viên giỏi huyện và đạt được kết quả tốt, nên phần nào  cũng phấn khởi trong việc sử dụng CNTT vào giảng dạy. III­ SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ: 1/ Ý nghĩa của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học vật lí: Hiện nay CNTT đang phát triển với tốc độ  như  vũ bão. Các nhà bác học   khẳng định:        ­ Chưa có một ngành khoa học công nghệ nào lại phát triển nhanh chóng, sâu  rộng và có nhiều ứng dụng như tin học.          ­ Việc  ứng dụng tin học trong nhà trường rất đa dạng và phong phú, tin học  trong dạy học có thể tiếp cận nhiều phương tiện, là công cụ tiện ích trong các môn  học nói chung và môn Vật lí nói riêng.         ­ Trên thế  giới  ứng dụng CNTT vào giáo dục đã trở  thành mối  ưu tiên hàng  đầu của nhiều nước. a/ Trực quan hóa:         ­ Trực quan hóa là biểu diễn thông tin có tính cấu trúc dưới dạng có thể nhìn  thấy được.           ­ Trực quan hóa tăng cường khả năng tư duy của học sinh khi tiếp nhận với   những tri thức trừu tượng. Ví dụ: Chuyển động quay của trái đất quanh mặt trời,  sự chuyển động của các electron tự do tro dây dẫn…           ­ Nhờ CNTT mà khi đưa ra mô hình giáo viên có thể phóng to, thu nhỏ, làm   nhanh, làm chậm để  học sinh thấy rõ được bản chất của quá trình. Do đó CNTT  giúp học sinh hiểu sâu hơn về bản chất của các quá trình và đặc biệt là nắm vững  những khái niệm trừu tượng trong Vật lí.              b/ Kích thích tính tò mò và hứng thú của học sinh: Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  4. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS          ­ Để kiểm tra bài cũ, giáo viên có thể đưa ra ô chữ liên quan đến những kiến  thức đã học và tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi một cách bổ ích.           ­ Tạo tình huống có vấn đề  bằng các đoạn phim ngắn, kích thích tính tò mò  của học sinh, đặt ra nhiệm vụ theo dõi bài học để giải quyết tình huống.          ­ Trong quá trình dạy có thể có những hình ảnh động mang tính hài hước liên   quan đến bài học nhằm giải toả tâm lý căng thẳng trong giờ học. c/ Quản lý và xử lý thông tin:           ­ Khi làm việc trên máy tính học sinh có cơ  hội để  đọc và thu thập dữ  liệu,   rèn luyện tư duy.   ­ Rèn luyện cho học sinh kỹ năng tra cứu tài liệu trên mạng và xử lý thông tin   một cách có trọng  tâm. ­ Cung cấp thông tin nhanh chóng, chính xác với nhiều hình thức khác nhau.  Giáo viên có thể quản lý tài liệu một cách có trật tự và theo ý muốn của mình. Khi   cần, tra cứu và lấy thông tin rất nhanh. d/ Điều chỉnh hoạt động học tập:           ­ Khi tiếp xúc với CNTT hiện đại, buộc học sinh phải điều chỉnh lại cách  nhận thức và học tập của mình.        ­ Với những hình  ảnh sống động thể  hiện ngay trên máy tính làm cho học   sinh hứng thù và tò mò để phát hiện ra các kiến thức mới.          ­ Với sự  giúp đỡ  của máy tính học sinh dễ  dàng trắc nghiệm lại kiến thức  của mình sau đó tự điều chỉnh lại cho phù hợp. e/ Mô hình hoá:        ­ Không phải mọi quá trình vật lí xảy ra trong tự nhiên đều dễ dàng quan sát,  có những hiện tượng, quá trình v quá  ật lí không thể quan sát bình thường, có quá trình  xảy ra nhanh, có quá trình xảy ra chậm, có đối tượng quan sát rất nhỏ...          ­ Vì vậy, trong dạy học cần phải phóng đại, làm nhanh, làm chậm lại các quá   trình đó, do đó cần phải có mô hình và máy tính can thiệp. Ví dụ  quá trình hoạt   động trong nguyên tử, từ trường, điện trường, vật ném xiên, ném ngang.... f/ Thiết kế: Bài giảng điện tử  là các bài giảng được soạn và giảng trên máy tính kết hợp máy  chiếu, nó có nhiều ưu điểm:        ­ Giờ giảng hiệu quả hơn: dễ hiểu, hấp dẫn, kiến thức toàn diện hơn.           ­ Phát huy được các ưu điểm của phương pháp truyền thống.           ­ Có thể tự động hoá công việc dạy học hoặc một khâu nào đó trong quá trình  dạy học, làm cho giáo viên có nhiều thời gian quan tâm hơn đến học sinh.           ­ Bài giảng được lồng ghép với thí nghiệm ảo, các đoạn phim minh hoạ các   hiện tượng vật lí xảy ra trong thưc tế làm tăng thêm sự hấp dẫn của bài giảng.            ­ Cùng một thời gian khối lượng kiến thức được truyền đạt nhiều hơn. g/ Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh:  ­ Nếu sử dụng đúng cách, CNTT có thể có tầm ảnh hưởng làm biến đổi  hệ  thống giáo dục, nó có xu hướng đánh giá lại vai trò của giáo viên và học sinh. Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  5. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS ­ Phương pháp giáo dục hiện đại thì người giáo viên là người hướng dẫn và  cộng tác viên, không còn đơn thuần là người truyền đạt thông tin.  ­ Học sinh dựa trên các đề  án, tự  học, tự  tìm hiểu, tự  quản lý và có trách   nhiệm đối với chất lượng học tập của mình. ­ Vì vậy mở  rộng được không gian học tập ra phạm vi ngoài lớp học. Giúp  học sinh tích cực chủ động và không thụ động trong học tập. h/ Kiểm tra đánh giá khách quan: ­ CNTT đặc biệt là máy tính có thể  sử  dụng các phần mền để  làm các câu   hỏi trắc nghiệm, các phần mềm phân tích và đánh giá các kiểm tra. ­ Trong kiểm tra trắc nghiệm máy tính có thể  đóng vai trò vừa là thiết bị  kiểm tra vừa là thiết bị đánh giá, tổng hợp, thống kê… 2/ Sử dụng phần mềm PowerPoint vào việc xây dựng bài giảng điện tử  môn  vật lí ở trường THCS: a/ Giới thiệu khái quát về phần mềm PowerPoint:   Để thiết kế bài giảng điện tử trong dạy học các bộ môn ở trường phổ thông,   giáo viên có  thể  chọn lựa nhiều phần mềm khác nhau như: Flash, PowerPoint,  Violet (tiếng Việt)… kết hợp với các phần mềm bổ trợ khác. Tuy nhiên, xuất phát  từ đặc trưng, yêu cầu của bộ môn Vật lí cũng như khả năng tiếp cận của giáo viên,  việc lựa chọn phần mềm PowerPoint qua thực tế sử dụng đã khẳng định được ưu  thế so với các phần mềm khác.    PowerPoint là phần mềm đồ  họa diễn hình có trong bộ  Microsoft Office.   Phần mềm PowerPoint hầu như đã hiện diện sẵn trong hầu hết máy tính của người   sử dụng Việt Nam và giao diện của nó cũng rất quen thuộc khi phần lớn giáo viên   biết sử dụng Word để đánh văn bản.   Phần mềm PowerPoint có thể đáp ứng tốt nhiều yêu cầu khác nhau trong dạy  học Vật lí ở trường phổ thông: từ việc xây dựng bài giảng điện tử nghiên cứu kiến   thức mới, cho đến khâu củng cố, ôn tập, sơ kết, tổng kết, kiểm tra đánh giá và cả  hoạt động ngoại khóa. Xây dựng bài giảng điện tử bằng PowerPoint đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời  gian và công sức nhưng khi tiến hành bài giảng điện tử  trên lớp lại rất dễ  dàng,   thuận tiện. Giáo viên chỉ  cần dùng remote của máy chiếu điều khiển, click chuột,   nhấn phím Enter hay phím Ò là có thể trình chiếu lần lượt nội dung của bài giảng  đã được thiết kế  trước đó trên PowerPoint. Điều này cho phép giáo viên trình bày   nội dung bài học một cách đa dạng, phong phú, sinh động nhưng vẫn tiết kiệm  được thời gian mà giáo viên bỏ  ra cho việc ghi chép, kẻ, vẽ.… trên bảng đen theo   lối dạy truyền thống. Chú ý: Sử dụng bài giảng thiết kế  trên PowerPoint nâng cao được hiệu quả  giờ  dạy. Sự  hỗ  trợ  của hình  ảnh, âm thanh và nghệ  thuật giảng dạy của người   thầy làm bài giảng sinh động hơn. Tuy nhiên khi ứng dụng tiện ích của PowerPoint   vào việc thiết kế bài giảng điện tử người giáo viên cần phải chú ý đến những hạn   chế dễ mắc phải, đó là:   Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  6. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS ­ Không nên quan niệm trong tiết dạy sử dụng giáo án điện tử  là không cần   sử  dụng bảng, phấn. Những phần trình chiếu chỉ  là phương tiện hỗ  trợ  giáo viên  điều khiển tiến trình dạy học trên lớp có hiệu quả  hơn, phần ghi bảng của thầy   luôn giúp học sinh hệ thống được kiến thức bài giảng.    ­ Cần bố  cục mỗi trang trình diễn hợp lý về  cỡ  chữ, màu chữ, màu nền.  Thông thường với phòng học sáng thì nên dùng nền sáng và chữ màu tối.    ­ Không nên lạm dụng các hiệu ứng hiển thị, điều này gây mất tập trung của   học sinh vào nội dung bài giảng. ­ Diễn giảng không nên nhanh quá, khi đưa ra các tình huống trên máy chiếu   cần có đủ thời gian để học sinh suy nghĩ. ­ Không nên thay thế trình diễn thí nghiệm ảo bởi thí nghiệm học sinh phải  tiến hành trên lớp để  hình thành kiến thức. Vật lí học là bộ  môn khoa học thực   nghiệm, hình thành phương pháp thực nghiệm, rèn luyện những kỹ năng thực hành  cho học sinh là một trong những mục tiêu của môn học ­ Một hạn chế  khác mà giáo viên thường hay mắc phải là ít chú ý tính hệ  thống của kết cấu bài giảng (cách trình bày bảng đen truyền thống thường bảo   đảm được yêu cầu này cho đến khi kết thúc tiết học), nội dung trình bày trên các  slide  gần như  độc lập nên khi trình chiếu sang một đề  mục mới thì các đề  mục   trước đó hầu như  không còn xuất hiện nữa khiến cho nhận thức của học sinh dễ  rơi vào sự tản mạn thiếu tính hệ thống. b/ Qui trình xây dựng một bài giảng điện tử: Để  đạt được một bài học Vật lí hiệu quả, GV cần tuân thủ  quy trình xây  dựng bài giảng điện tử gồm các bước sau:  Xây dựng giáo án: bao gồm chuẩn bị nội dung, sưu tập tài liệu điện tử. ­ Xác định rõ mục đích yêu cầu của bài học ­ Xác định những kiến thức cơ bản, trọng tâm học sinh cần nắm trong tiết học. ­ Sưu tầm, chọn lọc các phần mềm, tranh  ảnh, băng ghi âm có liên quan đến   những kiến thức cơ  bản đã được xác định. Xử  lý, số  hoá các tài liệu đã chọn lọc   sau đó đóng gói vào trong một Folder và đặt file name phù hợp để dễ tìm.   Thiết kế bài giảng: sử dụng phần mềm PowerPoint để thiết kế bài giảng. Xây dựng kế hoạch thiết kế cụ thể của các Slide trình diễn. Dự kiến số slide thích  hợp với số  lượng đối tượng được lựa chọn để  trình diễn và tương  ứng với kế  hoạch cụ thể mà giáo án lên lớp đã xác định.  Kiểm định sự hoàn thiện của bài giảng: trình chiếu thử, phát hiện lỗi. ­ Tiến hành thiết kế và chạy thử  từng phần rồi toàn bộ  các slide (có đối chiếu  với trình tự  các hoạt động được trình bày trong giáo án), chỉnh sửa nội dung, hình  thức các slide, kiểu và thứ tự trình bày các hiệu ứng… cho hợp lý hơn với mục tiêu,  kế hoạch sư phạm mà giáo án đề ra. ­ Ghi lại tập tin PowerPoint của bài giảng điện tử  lên đĩa CD, USB, thẻ nhớ…  để lưu trữ, sử dụng trên lớp và phòng tránh tình trạng máy tính có tập tin lưu trữ bị  Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  7. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS gặp sự cố. (Lưu ý: phải ghi lại các tập tin có liên kết, nhất là các tập tin âm thanh,   video có sử dụng trong bài giảng điện tử.) 3/ Khai thác tài nguyên trên Internet phục vụ bài giảng vật lí:  Những tài nguyên được lựa chọn sẽ  làm cho bài giảng trở  nên phong phú,  sống động, hấp dẫn hơn, học sinh sẽ tiếp thu bài giảng một cách tự nhiên. Internet  là một thành tựu có tính đột phá của nhân loại cuối thế  kỷ  XX mà lịch sử  sẽ  ghi   nhận có vai trò tương đương với việc phát minh ra lửa, máy hơi nước, điện năng  hay năng lượng hạt nhân, là một công cụ  vô cùng hiệu quả  cho việc khai thác tài   nguyên phục vụ cho các bài giảng Vật lí. a/ Một số yêu cầu và điều kiện để khai thác Internet:       Là một công cụ  rất hiệu quả  và một kho thông tin vô tận, nhưng Internet  cũng đòi hỏi giáo viên phải được trang bị những kiến thức, kỹ năng và những điều  kiện nhất định. Điều cần thiết đầu tiên là ngoại ngữ. Tuy các nội dung tiếng Việt   đang phát triển với tốc độ rất nhanh nhưng nguồn thông tin lớn nhất và phong phú   nhất trên Internet là bằng tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Trung Quốc. Nếu không có  ngoại ngữ, giáo viên bị hạn chế khá nhiều.  Thứ hai, những hiểu biết cơ bản dù chỉ  ở  mức đại cương như  truy cập vào  Internet thế  nào? làm thế  nào để  sử  dụng những công cụ  tra cứu tìm kiếm?.... sẽ  giúp ích rất nhiều cho việc tìm kiếm tài nguyên. Ngoài những thông tin có thể  tìm  kiếm trực tiếp trên website, việc liên lạc trực tiếp bằng thư tín điện tử (e­mail) với  các đồng nghiệp ở xa, các viện nghiên cứu có thể tìm thấy trên Internet có thể giúp  cung cấp những tài nguyên quý.  Điểm cuối cùng cũng rất quan trọng đó là muốn khai thác Internet thì cần  phải truy cập được vào Internet bằng cách nào đó. Vấn đề này đã trở  nên dễ  dàng   hơn với các điểm truy cập Internet được mở   ở  nhiều nơi, và hầu hết các trường   cũng đã kết nối mạng Internet. Dễ dàng tìm kiếm được những tư liệu Vật lí cần thiết trên Internet Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  8. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS b/ Lựa chọn tài nguyên như thế nào cho phù hợp với nội dung bài giảng: ­ Khi tìm kiếm: lựa chọn tài nguyên cho bài học điều quan trọng nhất là tính phù  hợp, liên quan đến nội dung bài giảng; có nội dung, hình thức đa dạng (thông tin,  hình ảnh,...) và được chọn lọc; lượng thông tin bổ  sung vừa đủ  không ít quá, cũng  không nhiều quá làm loãng nội dung. ­ Về nội dung: tài nguyên phải liên quan đến nội dung bài giảng một cách trực tiếp  hoặc gián tiếp nhằm hướng tư duy học sinh đến các nhận định, bài học. ­ Về  hình thức: nếu đã có một tài nguyên là văn bản hay kiến thức thì tài nguyên  khác nên được cung cấp dưới dạng ảnh. ­ Về dung lượng: hiển nhiên thông tin và tài nguyên chỉ được chiếm một tỷ lệ vừa   đủ cả về thông tin và thời gian cung cấp thông tin. Tài nguyên không thể lấn át nội   dung chính của bài giảng mà nó bổ  sung, làm cho kiến thức được cung cấp được  hấp thụ dễ dàng và toàn diện hơn. 4/ Giới thiệu một số Website: ­ Bộ Giáo Dục và Đào Tạo:  http://www.edu.net.vn ­ Website hỗ trợ giáo viên: http://www.giaovien.net.vn ­ Thư viện bài giảng ­ Bài giảng điện tử: http://www.baigiang.bachkim.vn ­ Thư viện Vật lí: http://www.thuvienvatly.com ­ Vật lí và tuổi trẻ: http://www.vatlytuoitre.com ­ Vật lí sư phạm: http://www.vatlysupham.hnue.edu.vn ­ Viện Vật lí và Điện tử: http://www.iop.vast.ac.vn ­ Viện khoa học Vật lí Việt Nam: http://www.vatlyvietnam.org ­ Tra cứu thiên văn: http://www.thienvanvietnam.com ­ Trường đại học sư phạm Hà Nội: http://www.dhsphn.edu.vn ­ Thư viện trường đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh: http://lib.hcmup.edu.vn IV­ MINH HOẠ MỘT SỐ PHẦN SOẠN GIẢNG TRÊN POWERPOINT: 1. Hình ảnh được trình  chiếu   trên   PowerPoint   khác  với một tranh tĩnh, bên cạnh  sự  phong phú của những lựa  chọn phù hợp, còn có thể mô  tả chi tiết và đưa ra lần lượt  những   chỉ   dẫn   cần   thiết  minh hoạ cho bài giảng. Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  9. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS Cấu tạo của chuông điện 2. Sử  dụng PowerPoint để  mô  phỏng quá trình Vật lí mà tranh  ảnh  thường không thể diễn tả được bản  chất  của hiện tượng. Ví dụ  về  sự  điều tiết của mắt, có thể thiết kế để  quan sát được sự  thay đổi đồng thời  vị  trí của vật khi tiến dần tới mắt   người quan sát với sự thay đổi độ tụ  của   thuỷ   tinh   thể   để   ảnh   của   vật  vẫn hiện trên võng mạc.  Hình ảnh động mô tả sự điều tiết của mắt 3. Một trong những  ưu điểm của PowerPoint là có thể  đưa vào những đoạn  video, ảnh flash dùng mô tả hiện tượng Vật lí mà không thể hoặc khó thực hiện thí  nghiệm trên lớp như  hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, chuyển động Browno,  tương tác của các vật mang điện, hiện tượng sét, sự dịch chuyển của ảnh qua thấu   kính...  Đoạn video về hiện tượng nhật thực 4. Đặt câu hỏi nêu vấn đề cho  bài   giảng,   hay   những   câu   hỏi   tình  huống để hình thành kiến thức thì sự  Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  10. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS kết hợp của kênh chữ, hình ảnh và âm thanh trên trang trình diễn sẽ tập trung được   sự chú ý của học sinh hơn. 5.  Trò   chơi   ô   chữ   thường  được   đưa   ra   sau   mỗi   chương   ở  sách giáo khoa Vật lí THCS nhằm  hệ thống kiến thức theo hình thức  mới.  6.  Trong các tiết thực hành  Vật lí, giáo viên có thể  sử  dụng những trang trình diễn để  mô tả  các bước thực   hành cho học sinh, những lưu ý khi tiến hành thí nghiệm, cách xử  lý số  liệu đo và   đặt câu hỏi cho học sinh về nội dung bài thí nghiệm... Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  11. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS V­ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:      Nhà trường đã tổ  chức chuyên đề  cho mọi người cách sử  dụng các thiết bị  hiện đại, sử dụng phần mềm PowerPoint và một số phần mềm khác theo đặc trưng  của từng bộ môn. Tùy theo đặc trưng của mỗi bộ môn và khả  năng của từng giáo   viên mà nhấn mạnh hướng dẫn các nội dung khác nhau của CNTT, hoặc các tiện   ích khác nhau của các thiết bị dạy học.     Kết quả là đến nay, tất cả giáo viên đã soạn giáo án vi tính, hầu hết thầy cô  có thể  dùng PowerPoint kết hợp cùng nhiều phần mềm khác để  tự  soạn giáo án   điện tử. Nhiều giáo viên đã biết scan và xử  lý  ảnh tốt, biết vào Internet tìm kiếm  thông tin, hình ảnh, hình mẫu đưa vào minh họa trong bài giảng...           Bắt đầu từ năm học 2010­2011 trường đã đưa vấn đề soạn giảng bằng điện   tử vào xếp loại thi đua cuối năm, mỗi học kì mỗi thầy cô giáo soạn giảng ít nhất 2   tiết bài giảng điện tử  thao giảng, chuyên đề. Các tổ  chức đoàn thể  sử  dụng máy  chiếu, bài soạn điện tử  vào các hoạt động ngoại khoá, sinh hoạt… Tuy chuẩn bị  cho một tiết dạy bằng giáo án điện tử tốn nhiều thời gian và công sức hơn nhưng  giáo viên ở tất cả các bộ môn đều hăng hái đăng ký. Kết quả từ đầu năm học đến  nay đã có rất nhiều tiết dạy bằng phương pháp dạy học mới với việc vận dụng   CNTT và các thiết bị dạy học hiện đại ở hầu hết các môn học.  Trong thực tế, việc dạy học theo phương pháp hiện đại cũng còn có nhiều   vấn đề phải bàn bạc. Có môn học, có bài học thuận lợi, đạt hiệu quả  cao. Nhưng  cũng có môn học, có tiết học khó khăn, đạt hiệu quả  thấp. Tuy nhiên, nhà trường   đã mạnh dạn để cho tất cả mọi người, mọi môn học tích cực thực hiện việc dạy   học theo phương pháp này, cốt để  giáo viên thành thạo, vượt qua được những e   ngại ban đầu. Khi mọi người đều đã có thực tế trong giảng dạy, nhà trường sẽ  tổ  chức rút kinh nghiệm.  Khảo sát hiệu quả từ phía học sinh cho thấy, nếu sử dụng phương pháp dạy   học truyền thống với phấn trắng bảng đen thì hiệu qua mang lại chỉ có  50%, trong  khi hiệu quả  của phương pháp multêmedia (nhìn ­ nghe) lên đến  80%.  Phần lớn  học sinh đều thích những giờ học dạy bằng giáo án điện tử với rất nhiều hình ảnh,  âm thanh minh họa đẹp mắt, sinh động đã làm cho các em hứng thú, say mê học  tập. Cùng một thời lượng như nhau nhưng số lượng kiến thức và kỹ  năng các em  thu nhận được lại nhiều hơn, cụ  thể, sinh động, sâu sắc và chắc chắn hơn. Số  lượng bài tập thực hành của các em cũng được rèn luyện nhiều hơn, thành thục   hơn.  Hầu như  tất cả  các giờ  học được dạy theo phương pháp này không có một  học sinh nào tỏ  ra chán nản, lười biếng học tập hoặc học với tâm trạng đối phó,   thụ động, mà ngược lại các em đều rất thích thú. Rõ ràng học tập đối với các em đã  trở thành một niềm vui lớn.  C­ KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ: I­ KẾT LUẬN:  Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  12. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS Sự  bùng nổ  của CNTT nói riêng và Khoa học công nghệ  nói chung đang tác  động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội. Trong  bối cảnh đó, nếu muốn nền giáo dục phổ  thông đáp  ứng được đòi hỏi cấp thiết   của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nếu muốn việc dạy học  theo kịp cuộc sống, chúng ta nhất thiết phải cải cách phương pháp dạy học theo  hướng vận dụng CNTT và các thiết bị dạy học hiện đại phát huy mạnh mẽ tư duy  sáng tạo, kỹ  năng thực hành và hứng thú học tập của học sinh để  nâng cao chất  lượng đào tạo. Đối với giáo dục và đào tạo, CNTT có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội   dung, phương pháp, phương thức dạy và học. CNTT là phương tiện để  tiến tới  một “xã hội học tập”. Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc  đẩy sự  phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT.  Bộ  Giáo dục ­ Đào tạo cũng đã yêu cầu: “Đẩy mạnh  ứng dụng CNTT trong giáo   dục và đào tạo  ở  tất cả  các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử  dụng   CNTT như  là một công cụ  hỗ  trợ  đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng  dạy, học tập ở tất cả các môn học”  Vận dụng CNTT và các thiết bị dạy học hiện đại để  đổi mới phương pháp   dạy học đối với tất cả  các môn học  ở  trường phổ  thông, qua thực tế  đã chứng   minh đều có tác dụng nâng cao chất lượng đào tạo rõ rệt. II­ KIẾN NGHỊ:  Ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung và môn Vật lí  ở  trường phổ  thông   nói riêng là công phu thật. Có lẽ vì thế mà một số  trường đã thực hiện nhưng chỉ  mang tính hình thức và dừng lại  ở các tiết học thao giảng, chuyên đề. Phải chăng  có nhiều rào cản trong việc áp dụng phương pháp mới này? Đó là do cơ së vật chất  hay do sự ngại ngùng của một số giáo viên khi làm quen với các kỹ thuật tin học để  phục vụ cho môi trường giảng dạy mới?  Vì vậy tôi xin có kiến nghị như sau: Thứ nhất, với đội ngũ giáo viên Tin học hiện có trong nhà trường, chỉ cần tổ  chức một số  buổi chuyên đề  về  cách sử  dụng máy chiếu, thiết lập các hiệu  ứng   trong PowerPoint cho toàn thể các giáo viên các bộ môn để họ có thể tự mình thiết   kế cho mình một giáo án điện tử riêng cho mình.  Thứ  hai, Phòng GD­ĐT nên khuyến khích và hổ  trợ  kinh phí cho các trường  để  mua máy tính, máy chiếu đa năng, Trường nên kết nối mạng Internet và đảm   bảo đường truyền tốt để  khai thác tối đa CNTT áp dụng vào dạy học nhằm nâng  cao chất lượng. Thứ  ba, trong các đợt tập huấn chuyên đề  nên lồng ghép tập huấn cho giáo   viên làm quen với việc  ứng dụng CNTT của từng bộ môn, từng phương pháp dạy   học mới. Thứ tư, Phòng GD­ĐT cần có kế hoạch tổ chức thi thiết kế giáo án điện tử ở  tất cả các bộ  môn để  khuyến khích và đẩy mạnh phong trào dạy học bằng CNTT  và làm tư liệu bài giảng hay để giáo viên tham khảo và học tập. Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  13. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS Thuận Qúy, ngày 18 tháng 05 năm 2012                 Người viết       ĐINH DƯƠNG KHƯƠNG                                                                             Ý kiến đánh giá, xếp loại của HĐKH trường ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… Xếp loại:……………………. CHỦ TỊCH HĐKH                                                         Lưu Văn Lâm Ý kiến đánh giá, xếp loại của HĐKH Phòng Giáo dục­Đào tạo ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ..……………………………………………………………………………………….. …………………………………………………………………………………………. ..……………………………………………………………………………………….. …………………………………………………………………………………………. Xếp loại:………………….. CHỦ TỊCH HĐKH Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  14. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS Ý kiến đánh giá, xếp loại của HĐKH huyện ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… Xếp loại:…………………….. CHỦ TỊCH HĐKH TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Tin học (NXB Đại học sư phạm Hà Nội ­ 2003) 2. Hướng dẫn thiết kế bài giảng trên máy vi tính (NXB Giáo dục ­ 2006) 3. Công nghệ thông tin với việc đổi mới phương pháp dạy học (Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Đức – Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học) Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
  15. Ứng dụng Công Nghệ Thông Tin vào giảng dạy Vật lí ở trường THCS 4. Tài liệu: tập huấn ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học vật lí   ở trường THCS ( Hoàng Phụng Hịch – Phan Anh –  Nguyễn Văn Tuấn – Vương Ngọc Hiếu. 11/2007) 5. Tìm kiếm thông tin trên Internet (Vụ Trung học phổ thông ­ Bộ GD­ĐT) 6. http://www.edu.net.vn (Website của Bộ GD­ĐT) 7.  http://www.giaovien.net.vn (Website hỏ trợ giáo viên) 8. Phương pháp dạy học Vật lí ở trường THCS 9. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Vật lí (Bộ GD ­ ĐT, NXB Giáo dục) Đinh Dương Khương Trường THCS Thuận Qúy
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2