intTypePromotion=3

TÀI LIỆU VỀ THÔNG TIN VÀ DỮ LIỆU - Những lĩnh vực cơ hội Nghiên cứu và Phát triển

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:0

0
44
lượt xem
5
download

TÀI LIỆU VỀ THÔNG TIN VÀ DỮ LIỆU - Những lĩnh vực cơ hội Nghiên cứu và Phát triển

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phạm vi dự án • Tập trung vào vấn đề sâu bệnh hại rừng trồng thông, keo và bạch đàn ở Việt Nam • Các chủ rừng với các qui mô khác nhau – Lâm trường quốc doanh – Lâm trường trực thuộc tỉnh – Các hộ trồng rừng • Thiết lập mạng lưới điều tra cấp quốc gia, tập trung tại Hà Nội và 3 Trung tâm vùng thuộc Viện KHLN VN (Vĩnh Phúc, Quảng Trị và Gia Lai):

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TÀI LIỆU VỀ THÔNG TIN VÀ DỮ LIỆU - Những lĩnh vực cơ hội Nghiên cứu và Phát triển

  1. XÂY DỰNG KHUNG ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI-THÚ Y CHO VIỆT NAM HỘI THẢO VỀ CHĂN NUÔI – THÚ Y TÀI LIỆU VỀ THÔNG TIN VÀ DỮ LIỆU Những lĩnh vực cơ hội Nghiên cứu và Phát triển (ARDOs) ARDO 1: Gia súc lớn ARDO 2: Gia súc nhỏ ARDO 3: Lợ n ARDO 4: Gia cầm ARDO 5: Côn trùng có ích ARDO 6: Thuốc thú y và vắc xin ARDO 7: Chế biến và bảo quản thức ăn chăn nuôi Tháng 12 năm 2007
  2. 2 ARDO 1: GIA SÚC LỚN 1. XÁC ĐỊNH ARDO 1.1 Mục tiêu quốc gia Tăng mức đóng góp của ngành chăn nuôi trong nước cho tổng nhu cầu tiêu dùng nội điạ thông qua thâm canh chăn nuôi bò thịt, bò sữa và trâu ở các vùng có lợi thế so sánh nhằm cung cấp những sản phẩm, chất lượng cao, giá trị cao, tạo việc làm trong các ngành sản xuất, chế biến và cải thiện thu nhập và đời sống của người nông dân. Các mục tiêu của sản xuất là: Trâu: đến năm 2010 có khoảng 3,07 triệu con và năm 2015 khoảng 3,23 triệu • con; số lượng thịt trâu vào khoảng 72.000 tấn năm 2010 và 88.000 tấn năm 2015. Bò thịt: năm 2010 có khoảng 7,1 triệu con và năm 2015 có khoảng 9 triệu • con; số lượng thịt bò vào khoảng 210.000 tấn và 310.000 tấn năm 2015. Sữa: năm 2010 có khoảng 200.000 con và năm 2015 có khoảng 350.000 con; • số lượng sữa tươi vào khoảng 350.000 tấn năm 2010 và 670.000 tấn vào năm 2015. Sản xuất sữa đạt mục tiêu đáp ứng 33% nhu cầu thị trường vào năm 2010 và đến năm 2015 đáp ứng 42% nhu cầu thị trường. 1.2 Phạm vi nghiên cứu và phát triển Cải tiến di truyền thông qua nhân giống và các chương trình chọn lọc để tạo ra các • giống trâu bò có năng suất cao. Nghiên cứu phát triển các công nghệ hữu ích trong nuôi dưỡng và quản lý bò thịt, • bò sữa và trâu. Nghiên cứu phát triển các tiêu chuẩn dinh dưỡng và hình thành các khẩu phần bổ • sung dinh dưỡng cân bằng cho bò thịt và bò sữa. Nghiên cứu và phát triển các chương trình quản lý chất thải động vật đối để hình • thành các hệ thống chăn nuôi bò bền vững về mặt môi trường. 1.3 Đối tượng nghiên cứu Đàn bò thịt, bò sữa và trâu trong nông hộ và trang trại. 2. SỐ LIỆU THỐNG KÊ NGÀNH 2.1. Giới thiệu Chăn nuôi gia súc nhai lại có vai trò quan trọng trong ngành nông nghiệp nói chung, đặc biệt trong ngành chăn nuôi nói riêng. Với cây lúa là cây trồng chính, con trâu đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp và trong đời sống của nông dân Việt Nam, người ta vẫn thường nói “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Con trâu là gia súc được nuôi với nhiều mục đích trong sản xuất nông nghiệp, chúng là nguồn sức kéo chính trong việc cày bừa chuẩn bị đất và trong vận chuyển ở các vùng nông thôn, đồng thời Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  3. 3 cung cấp lượng phân bón hữu cơ khổng lồ cho trồng trọt. Chúng cũng thích nghi tốt với việc sử dụng các nguồn thức ăn địa phương, đóng vai trò như phương tiện để tiết kiệm tiền bạc và là nguồn tín dụng của người nông dân. Khi quá trình cơ khí hóa nông nghiệp nông thôn phát triển, thì vai trò của con trâu trong việc cày kéo giảm đi, một phần chúng được chuyển sang với mục sản xuất thịt. Mặc dù chăn nuôi bò đã có từ rất lâu, nhưng phải đến tận những năm 1960, nhà nước mới có chính sách đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò. Để chuyển đổi từ phương thức chăn nuôi để cày kéo sang ngành chăn nuôi bò chuyên dụng thịt sữa, hiện nay Việt Nam đang tiến hành một số các dự án và các chương trình nghiên cứu nhằm cải tiến chất lượng giống bò thịt, bò sữa. Tuy nhiên chất lượng giống bò thịt, bò sữa vẫn còn rất kém, hậu quả là ngành chăn nuôi bò thịt và bò sữa n ăng suất vẫn thấp, lợi nhuận không cao. Trong hệ thống chăn nuôi, việc cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm thịt, sữa có liên quan chặt chẽ tới lợi nhuận và sự phát triển bền vững của hệ thống. Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu sản xuất thực phẩm chất lượng cao, vệ sinh và an toàn trong chăn nuôi nông hộ đòi hỏi những đầu tư thích đáng về tài chính và kỹ thuật. 2.2. Đặc điểm ngành và triển vọng 2.2.1 Số lượng gia súc Trâu Bảng 1. Số lượng trâu (2001- 2006) Đơn vị: 1000 con Vùng 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Cả nước 2.807,8 2.814,4 2.834,9 2.869,8 2.922,1 2.921,1 Đồng bắng Sông Hồng 136,9 125,8 164,9 154,6 145,9 120,6 Đông Bắc 1.263,7 1.267,7 1.224,1 1.213,1 1.226,4 1.237,7 Tây Bắc 381,2 390,3 399,3 437,8 453,1 465,1 Bắc Trung Bộ 685,4 689,3 706,9 719,4 743,4 737,7 Nam Trung Bộ 127,8 129,8 136,9 134,4 139,5 156,5 DH Miền Trung 47,4 47,6 65,9 68,7 71,9 79,0 Đông Nam Bộ 125,2 126,4 106 105,4 103,3 85,6 Đồng bằng Sông Cửu 40,2 37,2 35,8 36,4 38,8 37,8 Long Nguồn: Cục chăn nuôi -Bộ Nông nghiệp & PTNT, năm 2006 Trong 6 năm qua, tổng số trâu đã tăng 4%, tuy nhiên có một số vùng có chiều hướng • giảm nhẹ trong khi các vùng khác có chiều hướng tăng lên. Tỷ lệ trâu tương ứng ở các vùng là Đông Bắc (42%), Bắc Trung Bộ (25%), Tây Bắc • (16%), Nam Trung Bộ (5%), Đồng bằng Sông Hồng (4%), Đông Nam (3%), Duyên Hải Miền Trung (3%) và Đồng bằng Sông Cửu Long (1%). Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  4. 4 Bò thịt Bảng 2. Sự thay đổi số lượng bò thịt (2000- 2006) Đơn vị: 1000 con Vùng 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Cả nước 40127,9 3899,6 4063,1 4394,7 4907,9 5540,7 6510,8 Miền Bắc 2044,5 2029,9 2083,9 2212,9 2423,6 2696,4 3096,2 Đồng bằng Sông 488,8 339,5 350,0 542,3 604,7 685,8 793,1 Hồng Đông Bắc 507,4 667,4 696,0 578,0 618,8 675,5 782,9 Tây Bắc 158,2 173,6 182,0 193,6 209,8 224,2 272,1 Bắc Trung Bộ 890,6 849,4 855,9 899,0 990,3 1110,9 1248,1 Miền Nam 2083,4 1869,7 1979,2 1181,8 2484,3 2844,3 3414,6 Nam Trung Bộ 937,2 772,4 793,6 842,1 917,9 1007,4 1199,6 DH Miền Trung 524,9 397,9 391,0 476,0 547,1 616,9 747,9 Đông Nam Bộ 423,9 479,4 516,3 534,6 590,6 682,2 787,3 ĐB Sông Cửu Long 197,2 220,6 278,3 329,1 419,7 537,8 679,8 Nguồn: Tổng cục thống kê So với năm 2000, số lượng bò thịt đã tăng lên khoảng 58%. • Bò được nuôi ở tất cả 8 vùng kinh tế là Đồng Bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc, • Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Duyên Hải Miền Trung, Đông Nam và Đồng Bằng Sông Cửu Long. Số lượng bò thịt khác nhau giữa các vùng, các vùng miền trung (Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung) có số lượng đàn bò lớn nhất lên tới 2.488 triệu con chiếm 37,6% tổng số bò. Theo thống kê, số lượng bò thịt có sự giảm nhẹ vào giai đoạn 2001- 2002, tuy nhiên • sau đó số lượng bò thịt lại ổn định và tăng lên nhanh chóng. Đồng Bằng Sông Cửu Long có tỷ lệ gia tăng cao nhất (344%). • Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  5. 5 Bò sữa Bảng 3. Những thay đổi về số lượng bò sữa ( 2001-2006) Đơn vị: 1000 con Vùng 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Miền Bắc 6170 8216 17885 24151 26308 23335 Đồng bằng Sông Hồng 3543 5040 9033 11424 11975 10659 Đông Bắc 2613 746 2910 4832 5458 5325 Tây Bắc 14 2103 4044 5048 5058 4090 Bắc Trung Bộ 35071 327 1898 2847 3817 3261 Miền Nam 132 47632 61358 71643 77812 89880 Nam Trung Bộ 804 848 3532 5902 3014 1476 DH Miền Trung 32298 1007 1732 2119 2549 2901 Đông Nam Bộ 1837 41937 50098 56098 63939 75066 ĐB Sông Cửu Long 41241 3840 4996 6823 8310 10437 Cả nước 41.241 55.848 79.243 95.794 104.120 113.215 Tổng số bò sữa là 113.215 con, tăng 3,78 lần so với năm 2001. • Bò sữa đang được nuôi ở cả 8 khu vực sinh thái, nhưng một số vùng như Đông Bắc • và Bắc Trung Bộ ngành bò sữa chỉ mới được thành lập vào năm 2001, song đến năm 2006 đàn bò sữa của hai khu vực này tương ứng là 5.325 con và 3.261 con. Số lượng bò sữa ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long đã tăng khoảng 5,7 lần trong • thời gian từ năm 2001 đến năm 2006. Theo thống kê, số lượng bò sữa tăng nhanh nhất trong giai đoạn từ năm 2002 đến • năm 2004 do một số tỉnh, thành phố đã đưa ra các chính sách để đẩy mạnh chăn nuôi bò sữa. Tuy nhiên, điều này dẫn đến nhu cầu cao về giống bò sữa và vì vậy giá cả bò sữa giống đã bị đẩy lên cao, tạo nên một thị trường giống bò sữa ảo. Công tác lai giống được tiến hành ồ ạt giữa bò địa phương và bò HF nhằm cải thiện • giống bò địa phương đã dẫn đến hệ quả là đàn bò s ữa có năng suất thấp. Thêm vào đó, một số công ty nhập khẩu bò HF thuần và Jersey từ Mỹ, Úc và New • Zealand để bán cho các tỉnh, thành phố mà không xem xét kỹ năng suất cá thể bò và thành tích và khả năng thích nghi của các chúng với điều kiện nước ta. Vì vậy, đàn bò sữa có năng suất sữa và tỷ lệ sinh sản thấp cho nên hiệu quả kinh tế thấp. Trong thời gian từ 2004 – 2006, số lượng bò sữa tăng khoảng 8,7% /1 năm và điều • này đã phản ánh năng lực thực tế trong phát triển của ngành bò sữa Việt Nam. Tốc độ tăng của đàn bò sữa hiện nay sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các chương trình chọn lọc s âu h ơn các bò cái giống sữa, do đó sẽ mang lại nhiều lợi nhuận và sự bền vững cho ngành chăn nuôi bò sữa. Hầu hết bò sữa tập trung ở các vùng Đông Nam Bộ (66%) và Đồng bằng Sông Hồng • (21%), đây cũng là hai trung tâm kinh tế chính của Việt Nam và là những thị trường Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  6. 6 tiêu thụ sản phẩm sữa chủ yếu. Vì vậy các nhà máy chế biến sữa và các sản phẩm sữa chủ y u tập trung tại đây. Chăn nuôi bò sữa có khuynh hướng phát triển ở những vùng có thị trường lớn và có • c ác nhà máy chế biến sữa v à các sản phẩnm sữa, một số vùng có tiềm năng để phát triển sữa như Tây nguyên, vùng Tây Bắc và Đông Bắc chỉ có số lượng bò sữa nhỏ (2,6 – 4,7% trong tổng đàn cả nước) vì khá xa các thành phố lớn. 2.2.2. Giống Trâu Trâu địa phương là loại trâu Đầm lầy (các vùng khác nhau có tên khác nhau ví dụ: • trâu Ngố (có kích thước lớn) và trâu Gié (có kích thước nhỏ)) với tổng số lượng 2 loại này xấp xỉ 3 triệu con. Thông thường, trâu Đầm lầy Việt Nam có kích thước cơ thể nhỏ, tốc độ sinh trưởng chậm, thành thục muộn, khoảng cách giữa hai lứa đẻ dài và năng suất sữa kém, nhưng chúng thích nghi được rất tốt với điều kiện sinh thái của nước ta và chống chịu tốt với bệnh tật. Vào những năm 1970 trâu Murrah được nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc, Bulgaria • và Ấn Độ nhằm cải thiện khả năng sản xuất của giống trâu địa phương. Trâu Murrah đã thích nghi tốt và được nuôi ở nhiều địa phương, đồng thời đã được lai tạo với giống trâu Đầm lầy. Nhưng số lượng trâu Murrah và các con lai vẫn còn ít, chúng được nuôi nhốt ở các trại nhà nước và chỉ mới sử dụng cho nghiên cứu. Các con lai F1 đã được cải thiện về tầm vóc, tốc độ sinh trưởng, sức kéo, năng suất sữa và thành tích sinh sản nhưng hiện nay số lượng các con lai là rất ít. Bò thịt Bò địa phương hay bò vàng hiện nay chiếm khoảng 70% tổng số lượng bò thịt của cả • nước. Đây là giống bò có tầm vóc nhỏ bé, thịt xẻ thấp nhưng thích ứng tốt trong các hệ thống sản xuất nông hộ với tỷ lệ sinh sản khá cao. Tổng số con lai trên 50% máu Zebu chiếm khoảng 30% tổng đàn. Các con lai có • khối lượng cao hơn bò Vàng (cao hơn 35% khối lượng bò Vàng), tỷ lệ thịt xẻ cao hơn từ 3-5% và thích nghi tốt trong điều kiện nuôi nông hộ. Tuy nhiên, khoảng cách giữa lứa đẻ dài hơn so với bò Vàng. Các giống bò thuần kích thước lớn như Brahman và Drought Master đã, đang được • nhập và nuôi ở một vài nơi từ năm 2002. Số lượng của chúng chỉ dưới 1% so với tổng số lượng bò thịt. Bò nhập khẩu có khối lượng cơ thể lớn hơn, tốc độ sinh trưởng nhanh hơn nhưng chúng đòi hỏi các thức ăn có chất lượng tốt hơn và đòi hỏi kỹ thuật nuôi dưỡng tốt hơn so với bò địa phương. Vì thế, chúng tỏ ra không thích nghi với một số địa phương Việt Nam (ví dụ như Tuyên Quang). Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  7. 7 Bò sữa Bảng 5. Cấu trúc giống bò sữa Giống 1/2HF 3/4HF >3/4HF Bò ngoại Vùng miền Tổng số cả nước (con) 25.826 27.948 36.798 16.437 Tổng số cả nước (% tổng số) 24,2 26,1 34,4 15,4 Miền Bắc (con) 10.231 6.061 2.963 11.116 Miền Bắc (% tổng số) 33,7 20,0 9,8 36,6 Miền Nam (con) 15.631 21.887 33.835 5.321 Miền Nam (% tổng số) 20,4 28,5 44,1 6,9 Nguồn: Dự án phát triển bò sữa quốc gia (2005) 85% tổng số bò sữa là bò lai Holstein Friesian (HF) lai, trong đó trên 60% là bò lai ¾ • HF. Các giống bò sữa thuần nhập khẩu về Việt Nam như HF và Jersey hầu hết được nuôi • ở các Tỉnh Mộc Châu, Lâm Đồng, Thanh Hóa và Tuyên Quang. Tổng số lượng bò sữa nhập khẩu từ năm 2002 đến 2004 là 10.000 con. • Ngoại trừ một số Tỉnh này có truyền thống nuôi bò sữa HF thuần, các Tỉnh có khí • hậu tương đối nóng như Cần Thơ và Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng đang nuôi bò HF thuần. Tuy nhiên, sản lượng sữa của bò HF thuần nuôi tại các Tỉnh này còn thấp, mức trung bình khoảng 80- 85% so với bò HF thuần được nuôi trong điều kiện khí hậu ôn hòa như ở Mộc Châu và Lâm Đồng. Các giống bò sữa có tỷ lệ máu HF thấp hơn có khả năng chịu đựng với điều kiện • thức ăn nghèo dinh dưỡng và chống chịu với stress nhiệt tốt hơn so với các giống có tỷ lệ máu HF cao hơn hoặc HF thuần. 2.2.3. Tổng sản lượng Sản lượng thịt Bảng 6. Sản lượng thịt trâu, thịt bò và sự t ỷ l ệ trong tổng sản lượng thịt giai đoạn 2001 – 2006 (theo khối lượng thịt hơi) Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Tổng SL thịt (1,000 tấn) 1.939,3 2.146,3 2.328,9 2.505,7 2.812,1 3.073,2 Trâu Tổng lượng thịt trâu (1000 tấn) 51,380 51,811 53,061 57,457 59,800 64,317 Tốc độ tăng thịt trâu (%) 0,8 2,4 8,3 4,1 7,5 Tỷ lệ thịt trâu trong tổng lượng thịt (%) 2,6 2,4 2,3 2,3 2,1 2,1 Bò thịt Tổng lượng thịt bò (tính theo khối lượng 97,78 104,45 107,54 119,78 142,16 159,46 hơi, 1000 tấn) Tốc độ tăng của thịt bò (%) 4,3 6,9 2,9 11,4 18,7 12,16 Tỷ lệ thịt bò trong tổng lượng thịt (%) 5,03 4,64 4,59 4,75 5,05 5,19 Dân số (Triệu người) 78,7 79,7 80,9 82 83,1 84 Lượng thịt sản xuất/ người 1,24 1,28 1,33 1,45 1,71 1,90 Nguồn: Cục Chăn Nuôi (2006) Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  8. 8 Lượng thịt trâu chỉ chiếm khoảng 2% trong tổng sản lượng thịt. Tốc độ tăng sản • lượng thịt trâu hàng năm cũng thấp (0,8 – 8,3%). Điều này làm cho phần trăm thịt trâu trong tổng lượng thịt (%)giảm hàng năm. Tuy nhiên, theo FAO tổng sản lượng thịt trâu của Việt Nam đứng thứ 6 trên thế giới. • Tốc độ tăng sản lượng thịt bò hàng năm cao từ 11- 18%. Tổng số lượng thịt bò trong • năm 2006 cao hơn 70% so với năm 2000. Tuy nhiên, lượng thịt bò sản xuất hàng năm vẫn chỉ ở mức thấp, chiếm khoảng (4,6 – 5,2%) tổng lượng thịt. Tiềm năng cho thịt bò ở thị trường nội địa là rất lớn. Trâu Trâu phần lớn được sử dụng cho mục đích cày kéo, những trâu già hoặc trâu gầy • được loại thải và giết thịt. Thông thường, chúng không được vỗ béo trước khi giết mổ nên tỷ lệ thịt thấp và chất lượng không tốt. Bảng 7. Sản lượng thịt trâu ở các vùng khác nhau (2002-2006) Đơn vị: 1.000kg Vùng 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Cả nước 51.380 51.811 53.061 57.457 59.800 64.317 Đồng Bằng Sông Hồng 3.709 4.107 4.675 5.223 5.239 5.990 Đông Bắc 18.444 19.101 17.562 19.028 19.884 19.449 Tây Bắc 5.106 5.230 6.139 6.284 6.919 7.554 Bắc Trung Bộ 8.168 8.816 10.077 11.675 12.726 13.794 Nam Trung Bộ 2.147 2.016 2.225 2.380 3.246 3.377 Central Highlands 1.227 2.288 2.441 2.211 1.948 1.899 Đông Nam Bộ 8.732 8.720 8.022 8.829 8.117 10.478 Đồng Bằng Sông Cửu 3.847 1.533 1.920 1.826 1.718 1.724 Long Nguồn: Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn- 2006) Số lượng thịt trâu đang tăng lên hàng năm, trong 6 năm gần đây tăng 25% (tương • ứng 4%/năm) Bảng 8. Tỷ lệ thịt của trâu Đầm lầy địa phương Trâu già Trâu non Nội dung Đơn vị (loại thải) (24 tháng tuổi) Khối lượng cơ thể (hơi) kg 327 194 Khối lượng thịt xẻ kg 127,8 85,8 Tỷ lệ thịt xẻ % 39 44,3 Khối lượng thịt nạc kg 93,6 67,9 Tỷ lệ thịt nạc % 28,6 35,0 Nguồn: Vũ Duy Giảng và cộng sự, 1999 Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  9. 9 Rõ ràng những trâu loại thải có khối lượng thịt xẻ rất thấp. Trâu trẻ có khối lượng • thịt xẻ cao hơn và tỷ lệ thịt nạc cũng có thể được cải thỉện bởi một thời gian vỗ béo ngắn trước khi giết mổ. Bảng 9. Tăng trọng và tỷ lệ thịt của trâu Đầm lầy non được vỗ béo Nội dung Đơn vị Trung bình Tăng trong trung bình g/ngày 520 Khối lượng giết thịt Kg 219 Khối lượng thịt xẻ Kg 99.7 Khối lượng thịt nạc Kg 82.6 Tỷ lệ thịt xẻ % 45.5 Tỷ lệ thịt nạc % 37.7 Nguồn: Nguyễn Công Định và cộng sự (2007) Bò thịt Bảng 10. Tăng trọng và tỷ lệ thịt xẻ (so với khối lượng hơi) của một số giống bò Đơn Bò Bò lai Zebu Sahiwal x Brahman Bò Vàng x Bò Vàng vị Vàng Sind thuần Thông số Khối lượng sơ sinh Kg 14 20,1 22 23 27 Khối lượng lúc 6 tháng tuổi Kg 63,7 97,5 105 107,5 140 Khối lượng lúc 12 tháng tuổi Kg 85 140 160 165 215 Khối lượng lúc 12 tháng tuổi Kg 140 200 220 230 350 Khối lượng trưởng thành Kg 180 250 280 290 450 Tỷ lệ thịt xẻ (trong khối lượng % 44,2 49,6 49,5 50 55 hơi) Tốc độ tăng trọng và tỷ lệ thịt xẻ của các giống lai cao hơn so với bò Vàng. Khối • lượng trưởng thành và tỷ lệ thịt xẻ của các nhóm này từ 38,8 – 61,1% và cao hơn 5,3 – 5,8% so với các thông số này của bò Vàng. Các bò cái lai đã được lai tiếp với các bò đực giống có tiềm năng cho khối lượng thịt xẻ cao đã góp phần làm cải thiện cả chất lượng và năng xuất của bò thịt ở Việt Nam. Bò sữa Bảng 11. Sự thay đổi số lượng và sản lượng của đàn bò sữa và sản lượng sữa tính theo đầu người (2000 – 2006) 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Số lượng (1000 con) 35,0 41,2 55,9 79,2 95,8 104,1 113,2 Tổng sản lượng sữa (1000 tấn) 52,2 64,7 78,7 126,7 151,3 197,7 216,0 Dân số (Triệu người) 77,63 78,7 79,7 80,9 82 83,1 84 Lượng sữa/đầu người(kg) 0,67 0,82 0,98 1,57 1,84 2,38 2,57 Nguồn: Cục chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007) Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  10. 10 Số lượng bò sữa và sản lượng sữa của đàn bò sữa tiếp tục tăng, số lượng bò tăng 3 • lần và sản lượng sữa tăng lên 5 lần trong 6 năm qua. Sản lượng sữa tăng cao hơn so với tốc đọ tăng đàn là do con giống tốt hơn, dinh dưỡng và chế độ chăm sóc tốt hơn. Bảng 12. Năng suất sữa trung bình (tấn/con/kỳ tiết sữa) của bò thuần và bò lai HF Loại bò 2000 2002 2003 2004 2005 Lai HF 3,10 3,40 3,60 3,75 3,85 HF thuần 3,80 4,20 4,40 4,50 4,60 Nguồn: Cục chăn nuôi- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006) Năng suất sữa trung bình của bò lai HF trong năm 2005 cao hơn 24,2% so với năm • 2000 và năng suất sữa trung bình của bò HF trong năm 2005 cao hơn 21,1% đối với bò HF thuần n ăm 2000. 2.3. Giá trị và thị trường Thịt trâu, thịt bò, sữa và các sản phẩn sữa được tiêu thụ chủ yếu ở thị trường trong • nước. Mức tiêu thụ thịt đã tăng l44,58% và tiêu thụ thịt bò đã tăng 53,23% trong giai đoạn • 2001 – 2006. Tuy nhiên, tiêu thụ thịt bò vẫn chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng thịt tiêu dùng (khoảng 5-6%) Mức tiêu thụ thịt trâu thấp (0,6 – 0,7 kg/người/năm) và chỉ chiếm 2% trong tổng thịt • tiêu dùng. Mức tiêu thụ thịt bò trên đầu người ở Việt Nam bằng 45,86% và 17,78% mức tiêu • thụ thịt bò/người ở khu vực Đông Nam Á (2,95kg/người) và Châu Á (8,43 kg/ đầu người). Vì chất lượng của thịt bò ở Việt Nam tương đối thấp nên người tiêu dùng thịt này • chủ yếu là những người có thu nhập thấp và trung bình. Những thị trường cao cấp như khách sạn, nhà hàng và các siêu thị lớn thịt bò nhập • khẩu chiếm tỷ lệ lớn m ặc dù giá thường cao hơn 2,5 – 3 lần giá của thịt bò địa phương. Sản lượng sữa từ ngành chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam đáp ứng được khoảng 30% nhu • cầu sữa của thị trường sữa, tiêu dùng sữa trung bình từ năm 2000 tính theo đấu người là 5,2 kg và năm 2005 là 7,9 kg/ năm trong khi lượng sữa sản xuất năm 2005 chỉ đạt được 2,38 kg/đầu người. Giá sữa thu mua tại trại đối với sữa tươi chất lượng cao là 4500 VNĐ/kg. Giá sữa • hoàn nguyên nhập khẩu (bao gồm cả thuế nhập khẩu và thuế VAT) là 4760 VNĐ/kg (không bao gồm cước vận chuyển). 2.4. Lợi thế so sánh Theo đánh giá của FAO, xu hướng của ngành chăn nuôi gia súc trên thế giới đến • năm 2020 là các sản phẩm của ngành chăn nuôi sẽ chuyển dịch từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Điều này có thể biến Châu Á thành đại lục lớn nhất của ngành chăn nuôi. Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  11. 11 Do sản lượng thịt và sữa còn ở mức thấp so với nhu cầu của thị trường trong nước, • nên thị trường tiêu thụ trong nước còn rất lớn. Người nông dân Việt Nam có câu “lấy công làm lãi” vì thế giá cả của các sản phẩm • chăn nuôi tương đối linh động và có sức cạnh tranh cao. Năng suất sữa của bò sữa Việt Nam tương đương với năng suất sữa của bò sữa của • một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan (3,2 tấn/chu kỳ) và Indonesia (3,1 tấn/chu kỳ). Bò có thể sử dụng các phế phụ phẩm công nông nghiệp và các bãi cỏ nhỏ nghèo dinh • dưỡng đồng thời người nông dân coi chăn nuôi đại bò như việc kinh doanh đầu tư hàng ngày tối thiểu, rủi do thấp hơn so với các gia súc khác. Với tư cách là thành viên của tổ chức thương mại quốc tế (WTO) nên có khả năng là • cạnh tranh với thịt bò nhập khẩu và các sản phẩm sữa từ nhiều quốc gia có giá thành sản xuất 1kg sản phẩm thấp hơn và chất lượng sản phẩm cao hơn sẽ tăng mạnh. 2.5. Chính sách của Nhà nước Quyết định 167/2001/QĐ – TTg được Thủ tướng ban hành về các chính sách và biện • pháp phát triển ngành chăn nuôi bò sữa giai đoạn từ 2001 – 2010. Quyết định này kết hợp với một số chính sách như cung cấp miễn phí trang thiết bị và vật liệu thụ tinh nhân tạo, cung cấp miễn phí vacxin ngăn ngừa một số bệnh truyền nhiễm, cho các hộ chăn nuôi bò sữa vay vốn không lãi suất hoặc lãi suất thấp, đào tạo tập huấn cho nông dân, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào chăn nuôi bò sữa đã được ban hành. Nghị định 142/2005/NĐ – CP do Thủ tướng ban hành ngày 14 tháng 11 năm 2005 về • hợp đồng cho thuê đất và nguồn nước phục vụ ngành chăn nuôi gia súc. Nghị Quyết NQ 3/2000- NQ-CP, 09/2000-NQ-CP và Quyết định 167/2001/QĐ – • TTg được Chính phủ ban hành khuyến khích các địa phương sử dụng một phần diện tích đất trồng trọt để trồng cỏ cho bò và cho phép những người sản xuất sữa có thời gian thuê đất lâu dài để xây dựng chuồng trại và phát triển đồng cỏ, bãi chăn cho gia súc. 3. PHÂN TÍCH NGÀNH 3.1. Cơ cấu Nông hộ và quy mô nông hộ Trâu Trâu vẫn đang được phân bố rộng rãi ở các nông hộ nhỏ, hầu hết chỉ có 1 hoặc 2 con. • Tuy nhiên, ở miền núi nhiều gia đình nuôi từ 5 đến 10 con. Hàng năm, một số lượng lớn trâu từ miền núi được chuyển đến các nông hộ ở vùng • đồng bằng. Hai trang trại của Nhà nước nuôi một số lượng nhỏ trâu giống, chủ yếu phục vụ mục • đích nghiên cứu. Một số nơi thương lái thu mua trâu gầy và trâu già để nuôi vỗ béo và giết thịt hoặc • nuôi vỗ béo rồi bán, nhưng số lượng vẫn chưa có nhiều. Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  12. 12 Bò thịt và bò sữa Chăn nuôi bò nói chung và chăn nuôi bò sữa nói riêng phần lớn ở các nông hộ nhỏ, • qui mô từ 1 – 5 con/nông hộ. Trong năm 2005, có 3404 trại chăn nuôi bò thịt thương mại trong cả nước, trong số • đó 1064 trại ở phía Bắc (31,26%) và 2340 trại ở phía Nam (68,74%). Các trại chăn nuôi bò thịt thường trồng các cây khác để khai thác, tận dụng hiệu quả các sản phẩm từ các cây trồng này làm nguồn thức ăn thô cho gia súc. Tổng số trại chăn nuôi bò sữa là 19.639 (trung bình 5,3 con/hộ), trong số đó 12.626 • trại (64,3%) thuộc miền Nam (6,3 con/hộ) và 7.013 trại (35,7%) thuộc miền Bắc (3,7 con/hộ). Số lượng các trại có từ 1 – 5 con là 17.676 (chiếm 90% tổng số), số lượng bò /trại đang thay đổi theo hướng tăng số lượng các nông hộ có quy mô từ 5 – 10 con và giảm các hộ có quy mô ít hơn 5 con. Bảng 4. Phân bố số trại theo qui mô đ àn ở Việt Nam (số liệu năm 2006) Bò thịt Bò sữa Quy mô Số lượng trang trại Quy mô Số lượng trang trại (con/trại) (con/trại) Số lượng % Số lượng % 50-100 1269 78,33 10-20 313 15,56 100-150 230 14,20 20-50 1624 80,75 150-200 93 5,74 50-100 52 2,58 200-500 23 1,42 100-150 10 0,50 > 500 5 0,31 150-200 0 0 200-500 11 0,55 > 500 1 0,06 Tổng số 1620 100 2011 100 Nguồn: Cục Chăn nuôi – Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn (2006) 92% số đàn bò thịt có quy mô dưới 200 con và 96% số đàn bò sữa có quy mô dưới • 50 con. Số lượng các trang trại có trên 500 con rất ít (0,31% đối với bò thịt và 0,06% đối với • bò sữa). Như vậy, quy mô của cả hai loại trang trại này vẫn còn khá nhỏ và cẩn phải mở rộng nếu ngành chăn nuôi bò trở thành một ngành sản xuất thịt bò và sản phẩm sữa có chất lượng cao theo hướng thị trường. Quy mô chăn nuôi ph ù hợp để sản xuất hàng hoá theo hướng thị trường sẽ cho phép đầu tư áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào ngành này có hiệu quả kinh t ế. 3.2. Hệ thống cơ sở hạ tầng Trung tâm giống gia súc lớn Moncada: trung tâm được xây dựng năm 1972 và gần • đây đã được cải tạo, nâng cấp (dự án JICA 2001 – 2005), hiện nay Trung tâm đang áp dụng công nghệ, phương pháp của Nhật Bản để sản xuất tinh đông lạnh bò. Hệ thống thụ tinh nhân tạo được thiết lập vào năm 1972 (do Cuba giúp đỡ) cung cấp • dịch vụ thụ tinh nhân tạo cho bò sữa ở các tỉnh, các thành phố trên khắp đất nước. Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  13. 13 Hiện nay, phương pháp thụ tinh nhân tạo được áp dụng cho hầu hết bò sữa nhưng ở bò thịt phương pháp thụ tinh nhân tạo được áp dụng ít hơn. Một số Công ty giống bò thịt ở Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Khánh Hòa, Sơn La và • Tuyên Quang. 4 Công ty giống bò sữa ở các tỉnh Sơn La (Mộc Châu), Lâm Đồng, Thanh Hóa và • Tuyên Quang. Hai cơ sở giết mổ bò thịt với công suất lớn ở Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh và • rất nhiều cơ sở giết mổ nhỏ ở các tỉnh thành khác. Các Công ty chế biến sữa bao gồm Dutch Lady ở Bình Dương, Nestle ở Hà Tây, • Hanoimilk ở Hà Nội, Vinamilk (có nhiều cơ sở chế biến với đầy đủ trang thiết bị ở Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Bình Định, Nghệ An và Hà Nội), Nhà máy chế biến sữa của Công ty mía đường Lam Sơn – Thanh Hóa và Công ty sữa Mộc Châu. 3.3. Xu thế thị trường trong tương lai và những vấn đề cần quan tâm Toàn bộ thịt bò và các sản phẩm sữa được sản xuất ở Việt Nam để cung cấp cho thị • trường trong nước, vì hiện nay Việt Nam nhập khẩu một lượng lớn các sản phẩm này. Mức tiêu thụ sữa và các sản phẩm sữa đang gia tăng do thu nhập tăng. Ước tính tiêu • dùng sữa sẽ tăng 8 – 9% mỗi năm nếu GDP tiếp tục tăng ở khoảng 7%. Hiện nay, Việt Nam vẫn nhập khẩu khoảng 470.000 tấn sữa hàng năm, sữa nhập • khẩu có thể tăng đến 710.000 tấn vào năm 2010. Sữa được sản xuất ở Việt Nam cũng chỉ đáp ứng được 33% nhu cầu của thị trường. Như vậy, vẫn còn một thị trường khổng lồ cho sữa và các sản phẩm sữa. Theo FAO, tính trên toàn thế giới cứ 4,7 người có 1 bò và tiêu thụ thịt bò là 5,5 kg/ • người. Ở Việt Nam, cứ 12,9 người mới có 1 bò và tiêu thụ thịt bò chỉ ở mức 1,9 kg/người. Thịt bò chỉ chiếm 5,19% tổng thịt tiêu dùng và giá thịt bò ổn định hơn so với giá thịt gia cầm và các động vật có vú khác. Chi phí sản xuất thịt bò và sữa phụ thuộc vào giá của thức ăn nhập khẩu có thể sẽ • tăng lên đáng kể vì giá ngũ cốc tăng do tă ng việc sản xuất nhiên liệu sinh học. Nhu cầu về các sản phẩm thịt, sữa chất lượng cao và an toàn có khả năng tăng lên vì • mức tiêu dùng tăng lên đi liền với tăng số lượng người có mức thu nhập cao hơn. 4. THÔNG TIN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN 4.1. Những lĩnh vực nghiên cứu chính Thiết lập các bảng nhu cầu dinh dưỡng ở các độ tuổi khác nhau, khối lượng cơ thể và • mức sản xuất khác nhau. Thống nhất các bảng thức ăn cho bò sữa, bò thịt và trâu. Phát triển và ứng dụng các phương pháp, kỹ thuật mới hoặc cải tiến để có năng suất • cao hơn, chế biến và sử dụng nguồn thức ăn thô và nguồn thức ăn bổ sung, cải tiến nuôi dưỡng, quản lý đàn và sức khoẻ gia súc. Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  14. 14 Xây dựng các trang trại chăn nuôi trâu, bò thịt và bò sữa với quy mô lớn và vừa, để • tăng sản xuất thịt cho thị trường tiêu thụ thịt trong nước và xuất khẩu trong tương lai. Các dự án nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn, chăn nuôi và thú y, và các dự án • nhằm (1) nâng cao chất lượng giống bò thịt và bò sữa; (2) tăng cường thiết bị nghiên cứu; (3) tập huấn và đào tạo cho cán bộ khuyến nông và nông dân. Tiến hành các hoạt động nghiên cứu về thị trường và hệ thống bán hàng để phát triển • các chiến lược thích hợp đối với sản xuất và buôn bán thịt bò và các sản phẩm sữa. Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến như cắt phôi, cấy chuyển phôi, kỹ thuật di • truyền phân tử và các phương pháp truyền thống trong việc chọn lọc và tạo ra giống bò thịt, bò sữa mới với năng suất, chất lượng cao. 4.2. Những cơ quan nghiên cứu chính Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (MARD) Viện thú y • Viện Chăn nuôi (NIAH) • Trung tâm Nghiên cứu và phát triển chăn nuôi nuôi miền núi (NIAH) • Các trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi Thành phố Hồ • Chí Minh và Duyên Hải miền Trung (NIAH) Trung tâm Nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì (NIAH). • Viện Khoa học kỹ thuật và nông nghiệp miền Nam. • Viện Khoa học Nông Lâm Tây Nguyên – Tỉnh ĐăkLăk. • Viện Nghiên cứu Nông – Lâm nghiệp khu vực Miền núi phía Bắc – Tỉnh Phú Thọ. • Viện Thú y • Các trường Đại học nông nghiệp Đại học Nông nghiệp 1 Hà nội • Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh • Đại học Nông lâm Huế • Đại học Nông lâm Thái Nguyên • Đại học Nông lâm Tây Nguyên • Cơ quan khác Cục Chăn nuôi • Trung tâm giống vật nuôi ở các tỉnh/ thành phố. • Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam • 4.3. Nguồn tài chính Trâu: Tổng số ngân sách cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển năm 2006 • khoảng 3 tỷ đồng. Bò thịt và bò sữa: Trong năm 2006, Trung ương và chính quyền địa phương khoảng • 6 tỷ đồng, các Tổ chức quốc tế khoảng 3 tỷ đồng, tổng cộng khoảng 9 tỷ đồng. Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  15. 15 4.4. Kết quả chính về nghiên cứu và phát triển Trâu Tăng số lượng và cải tiến chất lượng thịt trâu phù hợp với các nhu cầu của người tiêu • dùng. Sử dụng các nguồn thức ăn sẵn có của địa phương như bột sắn, lá sắn, bột lá keo dậu, • rỉ mật đường, rơm ủ urê và thân cây ngô ủ chua để vỗ béo trâu non (18 – 21 tháng tuổi). Chọn lọc những đực giống có ngoại hình lớn và những con mẹ tốt để cải thiện ngoại • hình, khối lượng cơ thể của trâu địa phương. Trâu Đầm lầy Việt Nam có khối lượng cơ thể nhỏ, tốc độ tăng trọng thấp, thành thục chậm, khoảng cách hai lứa đẻ dài và năng suất sữa thấp nhưng thích nghi tốt với điều kiện sinh thái của Việt Nam đồng thời chúng có khả năng chống chịu tốt đối với bệnh tật. Việc sử dụng những trâu đực có khối lượng cơ thể lớn (500 – 600 kg) lai tạo với các trâu địa phương nhỏ đã làm tăng 10% khối lượng cơ thể của trâu địa phương ở tất cả các độ tuổi (từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi). Lai với trâu đực Murrah để cải thiện kích thước cơ thể và khả năng cho thịt. Lai trâu • cái Đầm lầy với trâu đực Murrah tạo ra con lai F1 có khối lượng cơ thể cao hơn 20%. Sau khi vỗ béo, giết mổ ở 24 tháng tuổi khối lượng giết mổ cũng như tỷ lệ thịt của trâu lai F1 cao hơn so với trâu Đầm lầy địa phương. So với trâu Đầm lầy địa phương (trâu non), khối lượng thịt của trâu lai F1 cao hơn 50%. Sử dụng nguồn thức ăn sẵn có ở địa phương như bột sắn, lá sắn, bột lá keo dậu, rỉ • mật đường, rơm ủ urê và thân cây ngô ủ để vỗ béo trâu non (18 – 21 tháng tuổi). Đối với trâu, khối lượng cơ thể khoảng 200 kg, kh â ẩu ph â ần c ó 5,5 đến 6,0 kg vật chất khô, trong đó 20 -25% từ các thức ăn tinh và 75 – 80% thức ăn thô. Thức ăn được bổ sung có hàm lượng protein thô 500 – 600g và năng lượng trao đổi là 50 – 55MJ. Sau 2 tháng vỗ béo, tăng trọng trung bình 500 – 700 g/ngày và tỷ lệ thịt móc hàm và tỷ lệ thịt nạc cũng tăng lên. Bò thịt và bò sữa Cải tiến khối lượng cơ thể và tỷ lệ thịt xẻ của bò Vàng. Con lai giữa bò cái địa • phương và bò đực Zebu: con lai F1 có khối lượng cơ thể nặng hơn 35 – 40%, tỷ lệ thịt xẻ cao hơn 5 – 8% và tỷ lệ nạc tăng nên 3 – 5%. Lai tạo bò thịt chuyên dụng thịt. Nghiên cứu về năng suất thịt và năng suất của các • con lai giữa bò địa phương đã cải tạo và bò đực Bos indicus và Bos Taurus chuyên thịt. Kết quả cho thấy các con lai sinh ra từ việc lai giống giữa bò cái địa phương và Brahman, Brangus, Limousine, Santa Gertrudis, Charolais và Simental cho tốc độ tăng trọng cao, khối lượng sống (khối lượng cơ thể) cao hơn, khối lượng thịt sẻ và chất lượng thịt cao hơn so với bò Vàng hoặc bò Lai Sind. Kết quả cũng chỉ ra rằng F1 Charolais x LaiSind là con lai có thành tích cao nhất. Khối lượng trung bình của các con lai này là 360 kg ở 24 tháng tuổi với tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ nạc tương ứng là 52% và 44%. Các con lai này cũng hiền lành và có khả năng thích nghi trong điều kiện thức ăn • nghèo dinh dưỡng và điều kiện thời tiết nóng ẩm. Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  16. 16 Lai tạo bò sữa chuyên dụng. Lai giữa bò cái Lai Sind với bò đực HF thuần, HF và • Brown Swiss cho thấy lai giữa bò đực HF thuần với bò cái Lai Sind thích hợp nhất trong điều kiện Việt Nam. Những kết quả từ các chương trình nghiên cứu sau đó từ những năm 1980 chỉ ra rằng các con lai với 75% máu HF, đạt được năng suất sữa trung bình ≥ 4000 kg/ chu kỳ, chúng lại thích hợp nhất với điều kiện nuôi dưỡng ở nông hộ nhỏ ở tất cả các vùng miền, khu vực sinh thái của Việt Nam. Nghiên cứu nhằm cải thiện chất lượng sữa và khả năng sản xuất của đàn HF thuần • nuôi trong nước bằng cách sử dụng các con đực và cái nhập từ Mỹ cho thấy chúng có năng suất sữa trung bình là 6036 kg trong kỳ tiết sữa đầu tiên, 6546 kg cho kỳ tiết sữa thứ 2, khoảng cách giữa hai lứa đẻ thứ nhất và thứ 2 là 14,3 tháng , giữa hai lứa đẻ thứ 3 là 12,9 tháng. Xây dựng các khẩu phần cân bằng dinh dưỡng cho bò thịt và bò sữa ở các thời kỳ • phát triển khác nhau và các mức sản xuất khác nhau. Sắp xếp và cập nhật các bảng thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thức ăn gia súc, tỷ lệ tiêu hóa của thức ăn cho động vật nhai lại và bảng khẩu phần ăn cho bò thịt và bò sữa. Phát triển các phương pháp chế biến, bảo quản và sử dụng các thức ăn thô, phụ phẩm • công nông nghiệp và giới thiệu các chiến lược nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý bò thịt, bò sữa Công nghệ sinh học: Sản xuất tinh bò cọng rạ và các thủ tục cấy truyền phôi. Công • nghệ thụ tinh trong ống nghiệm, cắt phôi và chuẩn đoán giới tính của phôi sớm cũng đang được đầu tư và nghiên cứu, nhưng kết quả vẫn còn hạn chế. 5. PHÂN TÍCH SWOT (điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức) Điểm mạnh Điểm yếu Khí hậu nhiệt đới gió mùa là điều kiện thuận lợi Thiếu thức ăn trầm trọng trong mùa khô • • cho sự phát triển của cỏ và các cây thức ăn cho Thời tiết nóng và khí hậu ẩm ướt gây stress • gia súc, đặc biệt trong mùa mưa. cho bò sữa có máu HF và năng suất cao, Nguồn phế phụ phẩm công nông nghiệp dồi dào đặc biệt bò có máu HF cao > 75%. • và có thể là nguồn thức ăn có giá trị cho gia súc Quy mô nhỏ của các trang trại chăn nuôi • nhai lại. bò đã tạo nên nhiều khó khăn trong việc Các giống gia súc địa phương, giống lai và trâu cải tiến giống và kế hoạch sản xuất và bảo • Đầm lầy đã thích nghi tốt với địa lý và điều kiện quản thức ăn thô trong mùa khô.. khí hậu. Các cây cỏ nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng • Nguồn lao động dồi dào có hiểu biết cao ở các thấp và tỷ lệ cây họ đậu trên đồng cỏ còn • vùng nông thôn sẽ góp phần vào việc đưa tiến bộ thấp, đặc biệt trong đồng cỏ tự nhiên. kỹ thuật tiên tiến vào ngành chăn nuôi bò Sở thích của nông dân về màu nâu sẫm của • Sự trợ giúp mạnh mẽ từ chính phủ cho phát lông, u và yếm bò rộng (lớn) có thể tác • triển ngành chăn nuôi bò thịt, bò sữa và tín dụng động đến quá trình cải tiến khả năng sản và các khoản vay để phát triển ngành chăn nuôi xuất của đàn bò. bò đã sẵn sàng và dễ tiếp nhận đối với người Các giống bò địa phương có kích thước • chăn nuôi. nhỏ và do đó khối lượng cơ thể và năng Các tổ chức quốc tế cũng đưa ra nhiều giúp đỡ suất thấp. • Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  17. 17 tích cực cho các dự án phát triển chăn nuôi bò Hiểu biết và các kỹ năng của nông dân vẫn • nông hộ còn bị hạn chế. Nông dân vẫn chữa chuyên • Có thị trường khổng lồ và ổn định cho thịt bò và nghiệp trong chăn nuôi bò thịt và trong sản • các sản phẩm sữa. suất sữa. Con trâu là nguồn cung cấp sức kéo chính cho Mạng lưới (hệ thống) chuyển giao tiến bộ • • chồng trọt (chuẩn bị đất) và chuyên chở ở các kỹ thuật đến nông dân còn yếu. vùng nông thôn, đồng thời cung cấp nguồn phân Các hệ thống quản lý chăn nuôi bò còn khá • chuồng khổng lồ cho trồng trọt. yếu. Tiến trình cơ khí hóa đang phát triển và vai trò Hợp tác xã và hiệp hội bò thịt và bò sữa • • của con trâu trong cày kéo đã giảm đi, một số vẫn còn yếu và không đủ khả năng bảo hộ lượng trâu được chuyển sang nuôi lấy thịt. quyền và lợi ích cho người chăn nuôi chống lại những gian lận từ tư thương, những người thu mua và chế biến sữa. Không có cơ quan phân cấp và định loại • chất lượng thịt bò vì vậy sự khác nhau về giá giữa thịt chất lượng cao, thịt chất lượng trung bình là rất nhỏ. Hệ thống quản lý chất lượng sữa và các sản • phẩm từ bò sữa quốc gia còn tương đối nghèo nàn. Cơ hội Thách thức Có tiềm năng khổng lồ để phát triển thị trường Tính cạnh tranh của ngành chăn nuôi bò • • nội địa cho thịt bò, thịt trâu và các sản phẩm sữa. thịt và bò sữa ở Việt Nam còn thấp, một Cơ hội lớn cho các nghiên cứu phát triển hệ phần do qui mô nhỏ. • thống quản lý và sản xuất thức ăn hiệu quả hơn Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế • gồm cả dự trữ thức ăn để vượt qua các vấn đề giới (WTO) và sự giảm thuế nhập khẩu đối trong mùa khô. với sản phẩm chăn nuôi sẽ làm tăng tính Cải tiến sản xuất thông qua phát triền các đàn cạnh tranh ở thị trường nội địa do nhập • bò thịt và bò sữa nuôi thâm canh hơn khẩu. Những cải tiến về thú y và hệ thống chăn nuôi Bệnh tật, đặc biệt là Lở mồm nong móng • • thông qua sự phát triển hệ thống giám sát tại trại. sẽ có tác động đến sản xuất chăn nuôi và Cải tiến chất lượng thịt bò và các sản phẩm sữa vận chuyển gia súc. • thông qua cải tiến tốc độ tăng trọng, hệ thống thu gom, vận chuyển sữa và hệ thống giết mổ, và xử lý trước giết mổ. Cải tiến giá trị di truyền thông qua phương pháp • nhân giống, chọn lọc v à phát triển h ệ thống ghi chép gia súc. Nhân nhanh các vật nuôi có tiềm năng di truyền • ưu việt thông qua sử dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, sự phát triển của hệ thống kiểm tra đời sau và xa hơn nữa là kỹ thuật cấy chuyển phôi Hoạt động hợp tác để cải thiện sản xuất và tỷ lệ • tiêu hóa của thức ăn thô xanh và cây họ đậu. Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  18. 18 ARDO 2: GIA SÚC NHỎ 1. XÁC ĐỊNH ARDO 1.1. Mục tiêu quốc gia Nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm ngành chăn nuôi dê cừu và đa dạng hoá sản phẩm sữa, thịt dê cừu qua chế biến nhằm tăng khả năng cạnh tranh hướng tới thị trường xuất khẩu góp phần nâng cao GDP ngành chăn nuôi quốc gia. Mục tiêu: Tính đến năm 2010, tổng đàn dê và cừu đạt được là 4,2 triệu con, cung cấp 1,26 triệu tấn sữa và 25,36 triệu tấn thịt dê/cừu. Sản phẩm thịt dê và cừu sẽ được xem như là sản phẩm sạch cho tiêu dùng. 1.2. Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển: Nghiên cứu: (i) Cải thiện giống dê thông qua công tác chọn lọc và lai tạo nhằm nâng cao năng suất sữa và thịt; (ii) Quản lý tốt hệ thống chăn nuôi phù hợp với điều kiện của từng khu vực; (iii) Xác định những loại dịch bệnh, phương pháp điều trị và phòng chống nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của dịch bệnh; (iv) Nâng cao sản lượng thức ăn chăn nuôi, bảo quản và sử dụng nguồn thức ăn địa phương nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt và sữa; (v) Cải thiện công tác chế biến thịt và sữa quy mô nhỏ từ đó đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và chuỗi cung ứng; (vi) Phát triển mô hình tài chính chăn nuôi nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Phát triển: (i) Ứng dụng kỹ thuật mới phù hợp và (ii) tác động của các yếu tố xã hội đến việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi dê cừu vào hệ thống sản xuất nông nghiệp trong các vùng sinh thái khác nhau 1.3. Đối tượng nghiên cứu - Nhóm giống dê cừu bản địa: Dê Cỏ (Co), Bách Thảo (BT), Cừu Phan Giang. - Nhóm giống dê cừu nhập nội: Babary (Ba), Jumnapari (Jum), Beetal (Be), Boer (Bo), Alpine (Alp), Saanen (Sa). - Nhóm dê lai hướng thịt: Bach Thao*Co (BTCo); Boer*Bachthao (Bo*BT); Boer*Jumnapari (Bo*Jum); Boer* Beetal (Bo*Be) 2. SỐ LIỆU THỐNG KÊ NGÀNH 2.1 Giới thiệu chung Ngành chăn nuôi dê cừu là ngành sản xuất chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nông hộ Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  19. 19 (chiếm 90%), là ngành sản xuất ra sản phẩm thịt và sữa trực tiếp phục vụ cho con người. Phát triển chăn nuôi dê và cừu là định hướng phù hợp cho các hộ nông dân nghèo bởi lẽ chăn nuôi dê và cừu cần ít vốn, quay vòng vốn nhanh, tận dụng được lao động và điều kiện tự nhiên ở mọi vùng sinh thái và ít tiểm ẩn rủi ro kinh tế hơn so với ngành chăn nuôi gia súc lớn. Tuy nhiên, hiên nay chăn nuôi dê cừu trong nước còn nhỏ lẻ, chủ yếu dựa vào nguồn thức ăn sẵn có, do đó năng suất và chất lượng sản phẩm thấp. Hiện cả nước có 5 nơi cung cấp dê giống (sữa và thịt). Được biết, trong số dê giống có bao gồm dê được nhập từ Úc (giống Dorper và White Suffolk), song số lượng loại giống dê này còn ít. 2.2 Đặc điểm và triển vọng của ngành Phân bố Bảng 1. Phân bố đàn dê và cừu (2001-2006) Đơn vị tính: nghìn con 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Khu vực 44.023 46.003 58.500 64.667 70.803 60.677 Đồng bằng sông Hồng 173.613 182.594 214.495 250.724 290.189 330.833 Tây Bắc bộ 81.579 95.256 112.614 141.386 169.825 180.714 Đông Bắc 108.102 93.652 124.342 161.586 200.500 207.628 Duyên hải Bắc trung bộ 36.591 29.464 32.308 39.430 61.924 67.550 Duyên hải Nam trung bộ 35.666 39.460 47.599 68.776 98.579 116.138 Tây nguyên 67.671 95.035 120.558 175.307 247.741 356.432 Đông Nam bộ 25.203 40.449 69.978 118.320 174.628 205.288 Đồng bằng sông Cửu long 572.448 621.913 780.354 1.020.196 1.314.189 1.525.260 *Cả nước Nguồn: Viện Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT (2006) Năm 2005, tỷ trọng chăn nuôi dê, cừu chiếm 3,49% so với tổng đàn vật nuôi và • 13,29% so với tổng đàn gia súc lớn Trong vòng 6 năm qua, tổng đàn dê và cừu tăng 116% (gấp 3,71 lần so với bò) với • tốc độ tăng trưởng hàng năm là 27,6. Trong đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất (62,24%), vùng tăng trưởng chậm nhất là Đồng bằng Sông Hồng (12,61%) Gần 53% tổng đàn dê và cừu của cả nước tập trung ở 10 tỉnh (bao gồm Hà Giang, • Ninh Thuận, Nghệ An, Sơn La, Thanh Hóa, Bình Thuận, Bến Tre, Tiền Giang, Bắc Cạn, và Đăklắk) Tỷ lệ dê và cứu hướng thịt chiếm 98,84% trong khi đó tỷ lệ lấy sữa chỉ chiếm 0,15%. • Hiện tại đàn cừu chỉ tập trung ở 7 tỉnh và Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, • Hà Tây. Tổng đàn cừu đã tăng đáng kể từ 4000 con trong năm 1976 lên 56.827 con năm 2005. Trong đó, tỷ lệ đàn cừu lớn nhất là tỉnh Ninh Thuận (42.000 con) Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin
  20. 20 Mục tiêu phát triển đàn cừu đến năm 2010 là 2,48 triệu con và 4,18 triệu con trong • năm 2015, tập trung chủ yếu ở các vùng Đông Bắc, Đông Nam bộ và Bắc Trung Bộ. Tổng số cừu và dê lai chiếm 45% trên tổng đàn năm 2010 và 50% năm 2015 Giống Tên giống Số lượng con năm 2005 Tỷ lệ % trên tổng đàn TT Giống dê 1 Cỏ 618.862 49,21 2 Bách Thảo 165.000 13,12 3 Ấn độ 20.000 1,59 4 Boer 1500 0,12 5 Saanen 1000 0,08 6 Alpine 1000 0,08 7 Giống lai 450.000 35,79 Tổng 1.257.362 100 Giống cừu 1 Giống cừu Phan Rang 51.767 91,10 2 Giống cừu Úc 60 0,10 3 Giống cừu địa phương 5.000 8,79 Tổng 56.827 100 Giống dê địa phương là giống Cỏ và Bách Thảo. Trong thập kỷ 90, giống nhập nội chủ • yếu nhập từ Ấn Độ (Jumnapari, Barbari và Beetal). Những giống dê nhập này thích hợp với điều kiện địa phương và được dùng để lai với giống dê địa phương nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Ba loại giống khác là Boer, Saanen, Alpine được nhập từ Mỹ. Những giống dê này thích • hợp với điều kiện tự nhiên địa phương. Khi lai giống này với giống địa phương, giống mới đem lại năng suất sữa cũng như thịt tốt. Hiện tại có 5 vùng sản xuất giống dê lai: Hà Tây- Hoà Bình sản xuất giống dê thịt • sữa; Thanh Hóa- Ninh Bình có giống dê hướng thịt; Ninh Thuận- Bình Định có giống dê hướng thịt và sữa; Sông Bé – Tây Ninh và TP Hồ Chí Minh – Bình Phước có giống dê hướng thịt và sữa; Tiền Giang – Trà Vinh - Hậu Giang có giống dê lai hướng thịt và sữa. Sản lượng thịt Sản lượng thịt dê và cừu (2001-2005) Khu vực 2001 2002 2003 2004 2005 Tổng sản lượng thịt (1.000 tấn) 1.939,3 2.146,3 2.328,9 2.505,7 2.812,1 Tổng sản lượng thịt dê và cừu (1.000 kg) 3.686 4.179 5.462 7.427 9.567 Tốc độ phát triển đàn dê và cừu (%) 13,4 13,1 13,6 12,9 Tỷ lệ thịt dê và cừu trên tổng lượng thịt (%) 0,19 0,19 0,23 0,29 0,34 Tổng đàn dê và cừu (con) 572.448 621.913 780.354 1.020.196 1.314.189 Số lượng lò giết mổ dê và cừu 160.285 174.136 218.499 285.655 367.973 Mức độ tiêu thụ thịt trên đầu người (kg) 0,046 0,052 0,067 0,090 0,115 Nguồn: Viện Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT (2006) Hội thảo xác định ưu tiên Chăn nuôi – Thú y. Bản dữ liệu và thông tin

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản