intTypePromotion=1

Tiểu luận: Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam

Chia sẻ: Phạm Tiên | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:28

0
81
lượt xem
21
download

Tiểu luận: Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận: Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam gồm có 3 chương. Trong đó, chương 1 - Cơ sở lý luận về các công cụ phái sinh trên TTCK; chương 2 - Thực trạng phát triển các CCPS tại Việt Nam; chương 3 - Nhận xét và đánh giá môn học.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam

  1. MỤC LỤC CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN .......................................................................................4 1.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ PHÁI SINH (CCPS) ........................................... 4 1.1.1 Khái niệm ............................................................................................................................... 4 1.1.2 Sự ra đời và phát triển của các công cụ phái sinh .................................................................. 4 1.1.3 Vai trò của các công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán ............................................. 4 1.1.4 Các lợi thế về hoạt động và tính hiệu quả .............................................................................. 5 1.1.5 Hạn chế khi áp dụng công cụ phái sinh .................................................................................. 5 1.2 CÔNG CỤ PHÁI SINH CHỦ YẾU TRÊN THị TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 5 1.2.1 Căn cứ vào phương thức giao dịch trên thị trường................................................................ 5 1.2.2 Căn cứ vào điều kiện của hợp đồng ....................................................................................... 5 1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CCPS TRÊN TTCK 8 1.3.1 Xuất phát từ nhà đầu tư (NĐT) .............................................................................................. 8 1.3.2 Môi trường kinh tế ................................................................................................................ 8 1.3.3 Môi trường pháp lý................................................................................................................. 8 1.3.4 Các định chế tài chính khi tham gia vào TTCK ..................................................................... 8 1.3.5 Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin (CNTT) ........................................................................... 9 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG CỤ PHÁI SINH TẠI VIỆT NAM..............................................................................................................................10 2.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ............................................................................ 10 2.1.1 Vài nét về thị trường chứng khoán Việt Nam ...................................................................... 10 2.1.2 Thực trạng định hướng phát triển CCPS tại Việt Nam ........................................................ 16 2.2 GIAO DỊCH CCPS TỒN TẠI TRÊN TTCK VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CCPS ............................................................................................................ 17 2.2.1 Giao dịch CCPS tồn tại trên TTCK ...................................................................................... 17 2.2.2 Định hướng phát triển CCPS trên TTCK ............................................................................. 18 2.3 NHẬN XÉT TỔNG QUÁT ................................................................................ 19
  2. Khoa Quản Trị Kinh Doanh 2.3.1 Thuận lợi .............................................................................................................................. 19 2.3.2 Khó khăn .............................................................................................................................. 20 2.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN CCPS TRÊN TTCK VIỆT NAM ... 21 2.4.1 Giải pháp chung ................................................................................................................... 21 2.4.2 Giải pháp cụ thể.................................................................................................................... 23 CHƢƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC ........................................25 3.1 GIẢNG DẠY MÔN HỌC .................................................................................. 25 3.1.1 Tính hữu ích thiết thực ......................................................................................................... 25 3.1.2 Cơ sở vật chất ....................................................................................................................... 25 3.1.3 Giáo trình, tài liệu học tập, giảng viên ................................................................................. 25 3.2 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ...................................................................................... 25 Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 1
  3. Khoa Quản Trị Kinh Doanh MỞ ĐẦU 1. Mục tiêu nghiên cứu đề tài Thứ nhất, trên thực tế, em là một sinh viên chuyên ngành marketing nên bộ môn thị trường chứng khoán chưa được đào tạo sâu dẫn đến tầm hiểu biết về thị trường này chỉ ở mức non kém. Tuy nhiên, vì sự hứng thú về thị trường phái sinh nói riêng cũng như thị trường chứng khoán nói chung nên em đã cố gắng nghiên cứu để tăng thêm nguồn kiến thức cho bản thân. Thứ hai, với sự bức xúc của bản thân vì Việt Nam là một trong số những quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu nông sản với danh mục sản phẩm đa dạng từ cà phê, cao su, đến hạt điều, đậu tương... nhưng trên thực tế kinh doanh nông sản Việt Nam trong những năm qua đã không ít lần phải chứng kiến cảnh các địa phương, các doanh nghiệp do không ổn định đầu ra nên sản xuất còn tự phát, còn nông dân thì bị cuốn vào vòng luẩn quẩn “trồng – chặt – trồng” và “được mùa mất giá, mất mùa được giá” khiến việc lập kế hoạch sản xuất - kinh doanh, định giá rất bị động, thu nhập người sản xuất và kinh doanh nông sản đều không ổn định. Hơn nữa, do không có sở giao dịch hàng hóa đúng nghĩa và liên thông với thị trường quốc tế nên nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam thường phải bán dưới giá bình quân thế giới. Từ thực ti n trên e càng mong muốn tìm hiểu cũng như mong muốn thị trường phái sinh s sớm được đưa vào hoạt động tại Việt Nam một cách đúng nghĩa nh m giúp các doanh nghiệp quản l rủi ro biến động giá hàng hóa, tạo điều kiện cho cả doanh nghiệp và những người sản xuất tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi với chiến lược phát triển dài hạn, đảm bảo sự bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia cuộc cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp nước ngoài trong bối cảnh thị trường hàng hóa liên tục biến động. Cuối cùng, vì yêu cầu ngày càng cao của xã hội về các loại sản phẩm và những yêu cầu từ những sản phẩm nh m hạn chế rủi ro khi đầu tư vào TTCK cũng như khi tham gia xuất nhập khẩu hàng hóa, tạo cơ hội để Việt Nam thu hút vốn đầu tư từ thị trường bên ngoài, dường như có thể khẳng định r ng thị trường phái sinh là rất cần thiết cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Với mong muốn được góp chút tri thức cá nhân để xác định phương hướng, đẩy nhanh tiến trình của sự xuất hiện thị trường phái sinh, em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam”. 2. Đối tƣợng nghiên cứu Đề tài nghiên cứu tổng quát về thực trạng TTCK nói chung cũng như TTPS nói riêng. Đặc biệt, đi sâu vào 3 CCPS chính (hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai) và đưa ra những định hướng để có thể hoàn thiện các CCPS và những vấn đề liên quan nh m mục đích sớm đưa thị trường phái sinh chính thức xâm nhập vào Việt Nam một cách toàn diện. 3. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu một đề tài không thuộc chuyên ngành và có phần phức tạp, em đã đi vào thực tế tìm hiểu (làm thêm trong công ty buôn bán sản phẩm phái sinh) để có thể hiểu được cơ bản về thị trường này; ngoài ra, đa phần thông tin cũng như số liệu trong bài là do em Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 2
  4. Khoa Quản Trị Kinh Doanh tham khảo trên mạng. Bên cạnh đó, sách giáo khoa của trường ĐH Công Nghiệp cũng là nơi cung cấp khá nhiều l thuyết cơ sở. Đề tài chủ yếu chú trọng vào định hướng để đưa thị trường phái sinh sớm xuất hiện tại Việt Nam. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài có sử dụng các phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, dẫn chứng và phân tích từ tổng quát đến chi tiết dựa trên mối quan hệ biện chứng giữa các đối tượng nghiên cứu, để từ đó đưa ra kết luận và giải pháp thực ti n. 5. Kết cấu đề tài Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm ba chương Chương 1 : Cơ sở lý luận về các công cụ phái sinh trên TTCK Chương 2 : Thực trạng phát triển các CCPS tại Việt Nam Chương 3 : Nhận xét và đánh giá môn học Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 3
  5. Khoa Quản Trị Kinh Doanh CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ PHÁI SINH (CCPS) 1.1.1 Khái niệm Có nhiều quan niệm khác nhau về CCPS như sau :Theo John Downes và Jordan Elliot Goodman thì “CCPS là một hợp đồng có giá trị phụ thuộc vào kết quả hoạt động của một tài sản, tài chính gốc, một chỉ số hoặc các công cụ đầu tư khác.” Trong giáo trình đào tạo của học viện chứng khoán Australia thì “CCPS là một hợp đồng có xác định thời gian thực hiện cụ thể để mua hoặc bán một hàng hóa cụ thể (như lúa mì hoặc len…) hoặc một công cụ tài chính (như cổ phiếu, chỉ số…)” 1.1.2 Sự ra đời và phát triển của các công cụ phái sinh Hợp đồng kỳ hạn đầu tiên có từ thời Trung cổ, được hình thành nh m đáp ứng nhu cầu cho những người nông dân và những thương gia. Nó được hình thành để nối cung và cầu giữa người nông dân và nhà buôn. Sở mậu dịch Chicago (CBT) là SGD CCPS lớn nhất trên thế giới, thành lập năm 1848, tại đó các hợp đồng kỳ hạn trên các loại hàng hóa khác nhau được chuẩn hóa về số lượng và chất lượng để đưa vào giao dịch. Năm 1898 các nhà buôn bơ và trứng đã rút khỏi SGD hàng hóa Chicago để thành lập CBEC. Năm 1919, CBEC đổi tên thành CME và đã được cơ cấu lại để giao dịch hợp đồng tương lai. CME giao dịch hợp đồng tương lai dựa trên chỉ số chứng khoán S&P 500 Hợp đồng quyền chọn đầu tiên được giao dịch ở Châu Âu và Mỹ vào khoảng thế kỷ 18. Đầu những năm 1900, một nhóm các Công ty đã thành lập Hiệp hội các nhà môi giới và tự doanh quyền chọn nh m tạo ra một cơ chế để người mua và người bán có thể gặp được nhau. Tuy nhiên Thị trường quyền chọn của Hiệp hội các nhà môi giới và tự doanh có hai nhược điểm: - Không có thị trường thứ cấp. - Không có cơ chế đảm bảo r ng người phát hành quyền s tôn trọng hợp đồng Vào năm 1973, CBT đã thành lập SGD quyền chọn Chicago với mục tiêu giao dịch các quyền chọn cổ phiếu. Từ đó các thị trường quyền chọn ngày càng trở nên phổ biến với các nhà đầu tư. Vào những năm 1980, các thị trường cũng phát triển các hợp đồng quyền chọn ngoại tệ, quyền chọn chỉ số cổ phiếu và các quyền chọn hợp đồng tương lai. PHLX là SGDCK đầu tiên giao dịch các quyền chọn ngoại tệ. SGD quyền chọn Chicago giao dịch các quyền chọn dựa trên chỉ số S&P 100 và S&P 500. 1.1.3 Vai trò của các công cụ phái sinh trên thị trƣờng chứng khoán Sử dụng CCPS để phòng ngừa rủi ro có những ưu điểm nổi bật hơn so với các công cụ tài chính khác như : Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 4
  6. Khoa Quản Trị Kinh Doanh - CCPS giúp các NĐT có thể tiết kiệm được một phần chi phí, giảm thiểu rủi ro. Chứng khoán phái sinh được niêm yết trên SGD và SGD đóng vai trò là trung gian giữa bên mua, bên bán đảm bảo việc thực thi các điều khoản của hợp đồng - CCPS là phương tiện giúp các NĐT bảo vệ được lợi nhuận, giảm bớt các khoản lỗ có thể xảy ra đối với tài sản của mình, CCPS giúp những người tham gia giao dịch trên thị trường chứng khoán phái sinh có thể chuyển rủi ro đối với tài sản của mình sang những người sẵn sàng chấp nhận rủi ro. 1.1.4 Các lợi thế về hoạt động và tính hiệu quả - Chi phí giao dịch thấp hơn.Điều này làm cho việc chuyển hướng từ các giao dịch giao ngay sang phái sinh ngày càng d dàng và hấp dẫn hơn. - Tính thanh khoản trên thị trường cao hơn hẳn so với thị trường giao ngay - Các giao dịch bán khống được thực hiện d dàng hơn. - TTPS giúp các tín hiệu thị trường khó bị bóp méo. - Công cụ tài chính phái sinh là sản phẩm của nền kinh tế hiện đại, Kỹ thuật tài chính này đòi hỏi một trình độ hiểu biết và phát triển nhất định của bất kỳ nền kinh tế nào. 1.1.5 Hạn chế khi áp dụng công cụ phái sinh CCPS được xem như phương tiện để các NĐT sử dụng cho các mục đích bất chính như trốn thuế, làm sai lệch báo cáo tài chính, tránh né các chuẩn mực kế toán, hoặc quy chế giám sát tài chính. Với hình thức mở một tài khoản bảo chứng khoảng 1% so với giá trị hợp đồng cần mua thì một doanh nghiệp có thể khống chế số lượng hợp đồng hơn 100 lần. d dẫn đến xáo trộn trên thị trường. Khi NĐT đầu tư vào CKPS thì chỉ có được và mất mà không có giá trị tăng thêm, chính vì vậy mà đi kèm với khả năng sinh lời chính là những rủi ro rất lớn của các NĐT. Giá trị danh nghĩa quá lớn dẫn đến rủi ro thua lỗ lớn mà NĐT không thể bù đắp được. Đòn bẩy nợ trong nền kinh tế. D xảy ra tình trạng đầu cơ trục lợi, tạo biến động thị trường nếu không có giám sát tốt, khả năng biến các sàn giao dịch thành nơi thao túng giá là điều khó tránh khỏi Khi áp dụng các CCPS vào TTCK tạo ra nguy cơ mất thanh khoản rất cao đối với một số loại chứng khoán. Quy mô thị trường phát triển đến một mức độ nào đó mới áp dụng được CCPS. 1.2 CÔNG CỤ PHÁI SINH CHỦ YẾU TRÊN THị TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1.2.1 Căn cứ vào phƣơng thức giao dịch trên thị trƣờng Căn cứ vào phương thức giao dịch trên thị trường CCPS được chia thành CCPS OTC (over the counter) và CCPS niêm yết. 1.2.2 Căn cứ vào điều kiện của hợp đồng Hợp đồng quyền chọn: Là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với một mức giá xác định trước. Quyền lựa chọn là một Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 5
  7. Khoa Quản Trị Kinh Doanh bản hợp đồng mang tính thỏa thuận nhưng ràng buộc về mặt pháp lý, trong đó có ba bên tham gia : - Bên thứ nhất : Người mua quyền lựa chọn - Bên thứ hai : Người viết quyền lựa chọn đồng thời là người bán quyền. - Bên thứ ba : Cơ quan quản l , đảm bảo cho giao dịch nêu trong hợp đồng s được thực hiện đúng. Đặc điểm của hợp đồng quyền chọn : - Vị thế mua là người mua quyền có quyền thực hiện hay không thực hiện quyền, còn vị thế bán phải có nghĩa vụ thực hiện quyền khi bên mua yêu cầu. - Người mua quyền phải trả cho người bán quyền một khoản phí được xem như giá của quyền chọn. - Ngày thực hiện quyền do người mua quyền quyết định ở trong kỳ hạn. Mục đích sử dụng quyền chọn : - Phòng ngừa rủi ro do biến động của giá cả tài sản cơ sở trong tương lai. - Đầu cơ : tìm kiếm lợi nhuận dựa trên sự biến động giá của tài sản cơ sở trong tương lai. - Kinh doanh chênh lệch giá : Tận dụng các cơ hội chênh lệch giá để tìm kiếm lợi nhuận. - Những yếu tố cấu thành một quyền chọn : - Tên của hàng hoá cơ sở và khối lượng được mua theo quyền - Loại quyền - -Mức giá thực hiện theo Những mức giá liên quan đến một quyền chọn : - Có nhiều mức giá và nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến giá của một quyền chọn : Giá hiện hành của chứng khoán nguồn - Giá thực hiện - Thời gian cho đến khi hết hạn - Lãi suất ngắn hạn phi rủi ro trong suốt thời hạn của quyền. - Mức dao động dự đoán của các mức lãi suất trong suốt thời hạn của quyền. Giao dịch hợp đồng quyền chọn : - Được tổ chức thực hiện trên các sàn giao dịch hợp đồng tương lai và quyền chọn một cách chuyên nghiệp. - Việc thực hiện hợp đồng được hỗ trợ bởi sàn giao dịch. - Mọi nhu cầu mua và bán được thể hiện trên bảng điện tử, đối tác là vô danh - Những quy định hoạt động của giao dịch luôn được đảm bảo sự công b ng, công khai và minh bạch. - Đảm bảo trật tự trong hoạt động của thị trường, đặc biệt trong những điều kiện giao dịch sôi động. - Trên thị trường OTC. Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 6
  8. Khoa Quản Trị Kinh Doanh Thực hiện quyền chọn : Hiện này đang tồn tại hai dạng quyền ở trong kỳ hạn và do người mua quyền quyết định, việc xác định dạng quyền thực hiện này cũng s dẫn đến mức phí khác nhau khi mua bán quyền chọn. - Quyền chọn kiểu Mỹ - Quyền chọn kiểu châu Âu Lợi nhuận và rủi ro của hợp đồng quyền chọn : Đối với vị thế mua : Mua quyền chọn mua tạo lợi nhuận tiềm năng không giới hạn nếu giá chứng khoán tăng trong khi khoản lỗ do rủi ro giá cổ phiếu giảm xuống chỉ trong phạm vi giới hạn khoản phí đã trả trước cho việc mua quyền chọn. Tương tự, mua quyền chọn bán s mang lại khoản lợi nhuận không giới hạn nếu giá cổ phiếu giảm xuống trong khi khoản lỗ tối đa khi giá cổ phiếu tăng lên chỉ b ng phần phí quyền chọn ban đầu. Đối với vị thế bán : Người bán hợp đồng quyền chọn mục tiêu cơ bản của người bán hợp đồng là kiếm thêm tiền b ng phí quyền chọn do người mua trả. Số lợi tức này đôi khi có thể cộng vào tổng số lợi nhuận trong danh mục đầu tư. Tất cả người bán hợp đồng quyền chọn có thể mua ngăn chặn hay chấm dứt. Hợp đồng kỳ hạn : Hợp đồng kỳ hạn là một thỏa thuận trong đó một người mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch hàng hóa với khối lượng xác định tại một thời điểm xác định trong tương lai với mức giá giao dịch được ấn định vào ngày hôm nay. Lợi nhuận và rủi ro của hợp đồng kỳ hạn : Theo hợp đồng này thì chỉ có hai bên tham gia vào việc ký kết. Như vậy, b ng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình. Vì chỉ có hai bên tham gia vào hợp đồng, cho nên mỗi bên đều phụ thuộc duy nhất vào bên kia trong việc thực hiện hợp đồng. Điểm khác nhau giữa hợp đồng kỳ hạn và giao dịch giao ngay : Hợp đồng giao ngay, hàng hóa được trao đổi và việc thanh toán được tiến hành ngay lập tức hoặc trong vòng 2 ngày giao dịch kể từ khi ký kết hợp đồng. Đối với hợp đồng kỳ hạn, thời hạn kết thúc giao dịch được để lùi lại một khoảng thời gian trong tương lai. Hợp đồng tƣơng lai: Hợp đồng tương lai là một cam kết b ng văn bản về việc chuyển giao một tài sản cụ thể hay chứng khoán vào một ngày nào đó trong tương lai với mức giá đã thỏa thuận ở thời điểm hiện tại. Điểm khác biệt mà hợp đồng tƣơng lai có thể khắc phục đƣợc những nhƣợc điểm của hợp đồng kỳ hạn là: Niêm yết tại SGD, xoá bỏ rủi ro tín dụng, tiêu chuẩn hoá, điều chỉnh việc đánh giá Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 7
  9. Khoa Quản Trị Kinh Doanh theo mức giá thị trường Điểm khác nhau giữa hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn. - Hợp đồng tương lai là những hợp đồng được chuẩn hóa, hợp đồng kỳ hạn không được chuẩn hóa. - Hợp đồng tương lai được thỏa thuận và mua bán qua người môi giới còn hợp đồng kỳ hạn - được thỏa thuận và mua bán trực tiếp giữa hai bên k hợp đồng. - Hợp đồng tương lai được mua bán trên TTCK tập trung. Hợp đồng kỳ hạn được mua bán trên thị trường phi tập trung. - Mua đi bán lại trên thị trường, điều chỉnh lãi lỗ theo giá trị thị trường, giảm rủi ro - Kiểm soát rủi ro thanh toán Căn cứ vào tài sản cơ sở Căn cứ vào tài sản cơ sở các CCPS được chia thành : - CCPS hàng hóa : là các CCPS có tài sản cơ sở là hàng hóa. - CCPS tài chính : là các CCPS có tài sản cơ sở là các công cụ tài chính 1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CCPS TRÊN TTCK 1.3.1 Xuất phát từ nhà đầu tƣ (NĐT) Nhu cầu đầu tư, mục đích đầu tư, năng lực tài chính, hiểu biết của các nhà đầu tư đối với CCPS có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển các CCPS trên TTCK, khi nói đến nhu cầu đầu tư là nói đến sự cần thiết phải có một sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của xã hội, và là khởi nguồn của mọi quá trình phát triển. 1.3.2 Môi trƣờng kinh tế Môi trường kinh tế được đề cập đến như : Tình hình thu nhập quốc dân, tốc độ tăng trưởng kinh tế, chu kỳ tăng trưởng kinh tế, tình hình lạm phát, việc làm, vai trò của chính phủ trong việc ổn định kinh tế vĩ mô. 1.3.3 Môi trƣờng pháp lý Một hệ thống pháp lý hoàn chỉnh và chặt ch thì hệ thống pháp lý đó phải đảm bảo các yêu cầu sau: Bảo vệ NĐT; đảm bảo thị trường công b ng, ổn định và hiệu quả; đảm bảo sự phát triển của thị trường; giảm rủi ro hệ thống. 1.3.4 Các định chế tài chính khi tham gia vào TTCK Định chế tài chính là một doanh nghiệp mà tài sản chủ yếu của nó là các tài sản tài chính hay còn gọi là các hình thức trái quyền như: cổ phiếu, trái phiếu và khoản cho vay. Định chế tài chính cho khách hàng vay hoặc mua chứng khoán. Định chế tài chính chủ yếu xuất hiện trong TTCKPS như : NHTM, Công ty tài chính, CTCK, Công ty tư vấn tài chính, Công ty quản lý quỹ và các quỹ đầu tư, các tổ chức định mức tín nhiệm… Từ những lập luận ở trên cho thấy được vai trò quan trọng của các định chế tài chính Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 8
  10. Khoa Quản Trị Kinh Doanh khi tham gia vào TTCKPS, đóng vai trò trong việc tạo lập thị trường, các tổ chức định chế tài chính có nhiệm vụ duy trì lệnh mua, lệnh bán với các mức giá để đảm bảo thị trường phát triển ổn định, hay đúng hơn là bình ổn thị trường. Để một định chế hoàn thành tốt thì các định chế cũng phải tự trang bị cho mình những điều kiện cần thiết như : Quy mô, năng lực về tài chính, chất lượng nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường… Bên cạnh những vai trò của các định chế tài chính trong nước thì cũng phải đề cập đến vai trò của các định chế nước ngoài trong xu thế hội nhập như hiện nay. 1.3.5 Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin (CNTT) Cơ sở hạ tầng CNTT phục vụ thị trường đóng vai trò quan trọng, then chốt, quyết định sự thành công của việc xây dựng và phát triển CCPS. Cơ sở hạ tầng CNTT phát triển đồng bộ tạo thuận tiện đối với các NĐT khi tiếp cận thị trường và thị trường đó luôn đảm bảo tuyệt mật, an toàn và minh bạch. Chính vì vậy khi đưa giao dịch trực tuyến vào giao dịch trên thị trường nghĩa là áp dụng hệ thống CNTT hiện đại có chuẩn bị đầy đủ từ cơ sở vật chất đến trình độ của người vận hành, làm hiện đại hóa các khâu trong giao dịch, đảm bảo giao dịch được thực hiện nhanh chóng, chính xác và tăng tính thanh khoản trên thị trường Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 9
  11. Khoa Quản Trị Kinh Doanh CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG CỤ PHÁI SINH TẠI VIỆT NAM 2.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG 2.1.1 Vài nét về thị trƣờng chứng khoán Việt Nam Năm 2006 vốn hóa của TTCK chiếm khoảng 22,7% GDP, năm 2007 vốn hóa của TTCK chiếm khoảng 40% GDP, năm 2008 do những biến động bất ổn của TTTC toàn cầu nói chung làm cho di n biến của TTCK trong năm này có những sụt giảm mạnh, mức vốn hóa của thị trường năm 2008 chiếm khoảng 19,76% GDP. Trong năm 2009 TTCK thế giới nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng vẫn có những di n biến hết sức phức tạp, chỉ số chứng khoán của Việt Nam (Vn-index) giảm thấp nhất xuống còn 234 điểm vào ngày 24/2 và tăng lên 633,21 điểm vào ngày 23/10 mức vốn hoá toàn thị trường là 620 nghìn tỷ đồng (36 tỷ USD) chiếm khoảng 42% GDP, Số lượng Công ty niêm yết là 457 Công ty, tăng 120 Công ty so với thời điểm cuối năm 2008, Số lượng tài khoản NĐT là 793 nghìn tài khoản, tăng 243 nghìn tài khoản so với cuối năm 2008. Tổng quan thị trƣờng chứng khoán Việt Nam năm 2012: Tính đến thời điểm 14/12, VN-Index tăng 11,6% so với cuối năm 2011 trong khi HNX- Index giảm 7,6%. HNX-Index đã liên tục phá đáy lịch sử trong những ngày giao dịch của tháng 11/2012, với mức đáy kỷ lục thiết lập ngày 6/11 là 50,33 điểm. Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 10
  12. Khoa Quản Trị Kinh Doanh Hình 2.1: Biến động của VN-Index và HN X-Index 5 tháng đầu năm 2012: Thị trường bứt phá trong những ngày đầu năm 2012 như một lò xo nén sau một quãng thời gian dài giảm điểm của năm 2011. Các thông tin đẩy thị trường tăng vọt trong giai đoạn nửa đầu năm 2012 bao gồm:  Thông tin Thủ tướng Chính phủ k ban hành 3 văn bản thúc đẩy hoạt động và tăng cường quản l TTCK Việt Nam.  Sự ra đời của chỉ số VN30-Index.  Động thái cắt giảm lãi suất nhanh và mạnh từ 14%/năm xuống 9%/năm.  Kéo dài thời gian giao dịch buổi chiều. Các thông tin này khiến VN-Index đã tăng gần 40%, HNX-Index tăng 44% trong vòng 5 tháng so với cuối năm 2011 và trở thành một trong những TTCK tăng ấn tượng nhất trên thế giới. Tuy nhiên thành quả này đã bị đánh mất hoàn toàn sau ngày 9/5/2012. Nửa năm cuối thất bại của thị trƣờng Nợ xấu tăng cao, thị trường gần như bị “shock” sau thông báo chính thức của NHNN về Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 11
  13. Khoa Quản Trị Kinh Doanh tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống lên tới 10% thay vì 4% như các NHTM báo cáo. Những bất ổn vĩ mô và hệ thống ngân hàng bắt đầu xuất hiện. Niềm tin thị trường lung lay sau “quả bom” Habubank công bố tình hình tài chính bi bét đã được che đậy với tỷ lệ nợ xấu lên tới 13% và cần được giải cứu. Việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng được đẩy mạnh, SHB tham gia vào tái cơ cấu Habubank. Thị trường trở nên thiếu tiền trầm trọng, mặc dù lãi suất giảm mạnh song các doanh nghiệp không tiếp cận được vốn vay do các ngân hàng phải xử l nợ xấu. Tình hình trở nên bi đát hơn sau ngày 21/8 – ngày được coi là “ngày thứ ba đen tối” của TTCK Việt Nam khi ông Nguy n Đức Kiên – Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập của ngân hàng ACB bị bắt. Tiếp theo đó, lãnh đạo ngân hàng ACB bị khởi tố, Chủ tịch STB bị điều tra đã khiến lòng tin vào thị trường ngày càng lung lay. Cổ phiếu ngân hàng bị bán sàn liên tiếp, bị cắt margin khiến thị trường gần như lao dốc không phanh. So với đỉnh thiết lập tháng 5, mặc dù đã hồi phục khá nhiều trong tháng 12 song VN- Index vẫn giảm 20% và HNX-Index giảm 36%. Các lệnh thỏa thuận hàng nghìn tỷ đồng được thực hiện từ tháng 6/2012 đến tháng 12/2012 đặc biệt tập trung vào nhóm cổ phiếu ngân hàng đã khiến ủy ban chứng khoán phải thanh tra hoạt động ủy thác đầu tư từ các NHTM đến các công ty quản l quỹ. Thanh khoản giảm mạnh và gần như cạn kiệt trong những ngày giao dịch tháng 11, bình quân 2 sàn giao dịch khớp lệnh 300 tỷ đồng/phiên, tuy nhiên nếu tính tổng thể cả năm 2012, quy mô giao dịch bình quân mỗi phiên đạt 1.316 tỷ đồng, tăng 28% so với năm 2011 nhờ kéo dài thời gian giao dịch buổi chiều. Hình 2.2: Giá trị bình quân 1 phiên trên 2 sàn Về giá, 50% số mã niêm yết sàn HoSE (157 mã) và 70% mã niêm yết sàn Hà Nội (281 mã) giao dịch dưới mệnh giá, trong đó 75 mã sàn HoSe và 131 mã sàn Hà Nội có giá dưới 5.000 đồng/cp, con số này đã giảm đáng kể so với tháng 11, thậm chí SME trước khi hủy Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 12
  14. Khoa Quản Trị Kinh Doanh niêm yết đã có lúc giao dịch ở mức giá 3.000 đồng. Trong khi đó, một số mã vẫn tăng gấp đôi thị giá trong năm 2012 như HSG, DRC, Hình 2.3: Giá trị vố hóa sàn Hose năm 2012 Tháng 4/2012, GAS niêm yết nâng vốn hóa sàn HoSe tăng thêm 77.500 tỷ đồng Hình 2.4: Giá trị vố hóa sàn Hà Nội Năm 2012 Thành quả Cung hàng hóa trên thị trường : Từ khi TTCK bắt đầu đi vào hoạt động khi đó chỉ có 2 tổ chức niêm yết đến hết năm 2009 trên TTCK Việt Nam đã có 457 tổ chức niêm yết. Cầu đầu tư chứng khoán : Số lượng tài khoản giao dịch của các NĐT trong nước và nước ngoài liên tục tăng, thể hiện nhu cầu đầu tư của xã hội đối với TTCK Việt Nam, tính đến hết năm 2009 TTCK Viêt Nam đã có hơn 739 nghìn tài khoản của các NĐT Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 13
  15. Khoa Quản Trị Kinh Doanh Theo thống kế hiện nay các NĐT nước ngoài đang nắm giữ khoảng 30% cổ phần của các Công ty niêm yết và doanh số giao dịch chiếm khoảng 18% - 20% giao dịch toàn thị trường. Giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung : Giá trị chứng khoán được giao dịch bình quân/phiên trên thị trường tập trung trong 3 tháng đầu năm 2009 thị trường tiếp tục chứng kiến sự đi xuống của TTCK, vào tháng 2/2009 giá trị giao dịch bình quân chỉ đạt 854,94 tỷ đồng, từ tháng 4/2009 tình hình kinh tế trong nước và thế giới có dấu hiệu phục hồi làm cho giá trị giao dịch bình quân toàn thị trường đạt 2.872,75 tỷ đồng/phiên. Hoạt động của tổ chức trung gian thị trường : Tính đến hết năm 2009 TTCK có 105 CTCK được cấp phép thành lập với quy mô vốn khoảng hơn 23.000 tỷ đồng và 46 Công ty quản lý qũy đầu tư. Hoạt động của các tổ chức trung gian mà ở đây là các CTCK thì thời gian gần đây các CTCK tích cực thực hiện công tác tư vấn cổ phần hóa, tư vấn niêm yết, phát hành cổ phiếu, tổ chức bán đấu giá cổ phần hóa... Khung pháp lý, thể chế chính sách thị trường : Năm 2009 thực thi chuyển đổi mô hình TTGDCK Hà Nội thành SGDCK Hà Nội và trung tâm LKCKCK thành Công ty TNHH một thành viên, đưa vào giao dịch sàn UPCOM đây là sàn giao dịch dành cho những cổ phiếu của Công ty đại chúng chưa niêm yết và thị trường trái phiếu chính phủ chuyên biệt. Ngoài ra, để đẩy nhanh quá trình phát triển một số quyết định tiêu biểu như : Ngày 29/9/2005, thủ tướng chính phủ ban hành quyết định 238/2005/QĐ-TTg về tỷ lệ nắm giữ của các NĐT nước ngoài, theo đó tỷ lệ sở hữu đối với NĐT nước ngoài trên TTCK từ 30% lên 49% Ngày 2/8/2009 quyết định số 128/2007/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về việc phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 theo đó phát triển nhanh, đồng bộ, vững chắc thị trường vốn Việt Nam, trong đó TTCK đóng vai trò chủ đạo, phấn đấu đến năm 2015 giá trị vốn hóa TTCK đạt 50% GDP và đến năm 2020 đạt 70% GDP. Ngoài ra trong chiến lược tài chính Việt Nam đến năm 2010 cũng nếu rõ Hoàn thiện hệ thống pháp luật đảm bảo xây dựng và phát triển đồng bộ TTTC và thị trường dịch vụ tài chính. Đa dạng hóa sản phẩm có đầy đủ các chủng loại hàng hóa cho TTTC và dịch vụ tài chính tương tự như ở thị trường của các nước trong khu vực. Về công tác quản l công ty đại chúng, tạo hàng hóa cho thị trường, trong 6 tháng đầu năm 2012, UBCKNN đã cấp giấy chứng nhận chào bán cổ phiếu cho 16 tổ chức phát hành với tổng mức chào bán ra công chúng khoảng 580 triệu cổ phiếu, tương đương hơn 5.468 tỷ đồng; Tổng mức huy động vốn trên thị trường chứng khoán thông qua phát hành cổ phiếu, đấu giá cổ phần hóa và đấu thầu trái phiếu chính phủ đạt 84 nghìn tỷ đồng (tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm 2011); Tuy nhiên, vốn huy động qua phát hành cổ phiếu đã giảm mạnh (khoảng 50% so với cùng kỳ); Tổ chức được 9 phiên đấu giá tại 2 Sở GDCK với tổng giá trị chào bán đạt 206 tỷ đồng (giảm 50% so với cùng kỳ); 82 đợt đấu thầu Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 14
  16. Khoa Quản Trị Kinh Doanh TPCP với tổng giá trị trúng thầu đạt trên 78,8 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 3,5 lần so với cùng kỳ năm trước. UBCKNN chú trọng giám sát các công ty đại chúng, đảm bảo giám sát chặt ch các công ty đại chúng về công bố thông tin, quản trị công ty; chỉ đạo các Sở giám sát thường xuyên các công ty niêm yết; tăng cường giám sát, xử l các vi phạm về chế độ báo cáo, CBTT. Hạn chế Ngoài những thành tựu của TTCK đã nói ở trên, đến nay TTCK Việt Nam cũng bộc lộ những hạn chế nhất định thể hiện một thị trường còn non yếu, non yếu về nhiều nguyên nhân, non yếu về cách điều hành thị trường, công nghệ phục vụ cho thị trường, về kiến thức của các NĐT... Từ cuối năm 2007 đến những tháng đầu năm 2009 TTCK Việt Nam liên tục biến động theo chiều hướng xấu, vn-index liên tục giảm điểm từ ở ngưỡng hơn 1100 điểm thì đến ngày 24/2/2009 chỉ số vn-index chỉ còn 234 điểm, giá trị giao dịch cổ phiếu bình quân năm 2007 là 1065,25 tỷ đồng/phiên, năm 2008 đạt 738,81 tỷ đồng/phiên, năm 2009 đạt 2.469,39 tỷ đồng/phiên. Bên cạnh đó còn có sự tham gia của một số tổ chức nước ngoài thực hiện việc tái cơ cấu lại danh mục đầu tư, chuyển hướng sang đầu tư vào trái phiếu đã làm cho giá trị giao dịch bình quân trên thị trường năm 2008 tăng 185% so với năm 2007 (năm 2007 là 471,71tỷ đồng năm 2008 là 870,47 tỷ đồng). Mặc dù chỉ số TTCK của Việt Nam thuộc nhóm tăng cao trên thế giới nhưng hoạt động của thị trường trong năm 2012 có nhiều khó khăn. Tính đến cuối năm, Vn-Index đứng ở mức 413,73 điểm, tăng 17,7%; chỉ số HNX-Index đứng ở mức 57,09 điểm, giảm 2,8% so với cuối năm 2011. Vốn hoá ở mức 765 nghìn tỷ đồng, tăng 226 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2011, chiếm 26% GDP. Trên sàn Hà Nội, tổng giá trị vốn hoá thấp hơn tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá do có tới 283/391 cổ phiếu giao dịch dưới mệnh giá. Tính chung, đến cuối năm 2012, trên 2 sàn có 704 mã cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là 338,3 nghìn tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2011. Theo báo cáo, tổng giá trị huy động vốn ước đạt 174 nghìn tỷ đồng, tăng 70%; trong đó cổ phiếu và cổ phần hoá là 18 nghìn tỷ đồng. Vốn huy động qua trái phiếu Chính phủ tăng cao, đạt 156 nghìn tỷ đồng, tăng 92% so với năm 2011; Số lượng tài khoản nhà đầu tư đạt khoảng 1,2 triệu tài khoản. Dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thuần đạt 300 triệu USD, tăng 25% so với năm 2011. Nếu tính cả vốn vào thị trường chưa niêm yết, số liệu ước đạt 2 tỷ USD, tính chung dòng vốn đầu tư gián tiếp tăng 10% so với năm 2011. Ngoài ra về mặt chủ quan TTCK Việt Nam vẫn còn có những hạn chế nhất định như : Tuy quy mô thị trường tăng cao, song quan hệ cung - cầu chứng khoán nhiều lúc mất cân đối Hệ thống danh mục sản phẩm trên thị trường còn nghèo nàn và đơn điệu chưa đáp ứng đủnhu cầu của NĐT. Hệ thống hạ tầng phục vụ hoạt động của thị trường còn nhiêu bất cập, lạc hậu. Tính công khai, minh bạch của thị trường thông qua việc công bố thông tin có được cải thiện nhưng chất lượng, nội dung và thời hạn công bố lại chưa đáp ứng được yêu cầu Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 15
  17. Khoa Quản Trị Kinh Doanh quản lý và cho thị trường. Hoạt động của TTCK tự do còn khá rộng, thiếu tính công khai, minh bạch, không được tổ chức quản lý, giám sát bởi một pháp nhân nên khả năng xảy ra rủi ro rất cao. Chất lượng nghiệp vụ tư vấn, phân tích của các thành viên thị trường (chủ yếu là các CTCK) vẫn còn thấp. 2.1.2 Thực trạng định hƣớng phát triển CCPS tại Việt Nam Sự hiện hữu của các giao dịch phái sinh và công cụ cơ sở Những giao dịch phái sinh và công cụ cơ sở hàng hóa : Việt Nam đã có một số mặt hàng nông sản chủ lực và có thế mạnh trong xuất khẩu có thể làm công cụ cơ sở cho các sản phẩm phái sinh hàng hóa như cà phê, hồ tiêu, gạo…Năm 2007 mặt hàng cà phê của Việt Nam được đưa vào giao dịch thử nghiệm tại sàn giao dịch hàng hóa. Đến nay, Việt Nam ngoài cà phê cũng có một số mặt được giao dịch trên TTPS thông qua các SGD hàng hóa lớn trên thế giới như : Gạo (Thái Lan), Cao su (Tokyo), coca, đường trắng (London, NY), dầu cọ, dầu đậu nành, đậu nành (Malaysia, CBOT), lúa mì, bông, ngô, nhôm, thiếc… Những công cụ cơ sở cho các CKPS tài chính : Hiện tại Việt Nam chưa có các giao dịch phái sinh tài chính mà công cụ cơ sở là hàng hóa trên TTCK, nhưng trên thực tế, các giao dịch phái sinh tài chính đã được thực hiện từ vài năm gần đây trên thị trường Ngân hàng và kim loại qúy. Giao dịch kỳ hạn xuất hiện với tư cách là công cụ tài chính phái sinh đầu tiên ở Việt Nam theo quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 ngày 25/2/1999. Tuy nhiên giao dịch chỉ chiếm khoảng 5-7% khối lượng giao dịch của thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng. Giao dịch hoán đổi cũng xuất hiện theo quyết định số 430/QĐ-NHNN ngày 24/12/1997 và sau này là quyết định số 893/2001/QĐ-NHNN ngày 17/7/2001 của thống đốc NHNN. Các CCPS lãi suất và tỷ giá ngoại tệ tiếp tục xuất hiện và được các ngân hàng sử dụng do nhu cầu nội tại của các NHTM nh m theo kịp chuẩn mực hoạt động Ngân hàng quốc tế. Quyền chọn ngoại tệ, lãi suất và vàng là những CCPS được thị trường hoan nghênh và đón nhận nhiều nhất do những ưu điểm vốn có của nó trong bối cảnh lãi suất, tỷ giá và giá vàng luôn ở trạng thái tăng liên tục. Công cụ cơ sở trên TTCK : Tính đến hết năm 2009 TTCK Việt Nam có 457 loại cổ phiếu và hơn 700 mã trái phiếu. Hiện nay, TTCK Việt Nam có ba chỉ số chứng khoán là Vn- index, Upcom-index, Hastc-index. Các chỉ số này được xây dựng trên cơ sở tính bình quân gia quyền với trọng số là tỷ trọng niêm yết của mỗi cổ phiếu trong danh mục. Để xây dựng các hợp đồng phái sinh dựa trên chỉ số chứng khoán, điều cần thiết là phải đưa ra một cách tính chỉ số phù hợp, đồng thời lập ra một số các chỉ số khác ngoài Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 16
  18. Khoa Quản Trị Kinh Doanh Upcom- index, Vn-index và Hastc-index. Danh mục chứng khoán để xây dựng những chỉ số này phải bao là cổ phiếu có tính thanh khoản cao. Môi trƣờng kinh tế và nhu cầu sử dụng CCPS trong phòng ngừa rủi ro Từ những biến động mạnh m của nền kinh tế và TTCK trong thời gian qua đòi hỏi một nhu cầu sử dụng CCPS trong phòng ngừa rủi ro, nền kinh tế Việt Nam hiieenj nay đang có những yếu tố rất thuận lợi để phát triển các CCPS trên TTCK Nhu cầu phòng tránh rủi ro b ng những CCPS ngày càng tăng lên trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động khó lường về giá cả, nguồn cung lương thực, vàng, dầu lửa, kim loại khác… 2.2 GIAO DỊCH CCPS TỒN TẠI TRÊN TTCK VÀ ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN CCPS 2.2.1 Giao dịch CCPS tồn tại trên TTCK TTCK Việt Nam đã hình thành và phát triển hơn 12 năm nhưng vẫn chưa có thị trường phái sinh dựa trên các công cụ là chứng khoán để hỗ trợ nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro biến động giá. Tuy nhiên, trên thực tế, mặc dù chưa có quy định pháp lý cụ thể hướng dẫn thực hiện, các loại chứng khoán phái sinh phi chính thức vẫn tự phát ra đời. Trong giai đoạn tăng trưởng nóng của thị trường 2007-2008,quyền mua cổ phần trở thành một công cụ ưa thích của các công ty phát hành, hàng loạt các công ty tang vốn và sử dụng quyền mua cổ phần như một hình thức thu hút NĐT; năm 2007 nhiều công ty phát ành tang vốn 2-3 lần như CTCK Hải Phòng, Ngân hàng Sài Gòn Thương tín, công ty gạch men Thăng Long…dưới dạng quyền mua cổ phần ưu đãi. Ngày 26/10/2007 lần đầu tiên tại SGDCK thành phố Hồ Chí Minh tổng công ty điện lực Việt Nam đã thực hiện bán đấu giá 75 triệu quyền mua cổ phần của công ty thủy điện Vĩnh Sơn Hinh, ngày 17/3/2008 tổng công ty thép Việt Nam cũng thực hiện bán đấu giá quyền mua cổ phần của công ty cổ phần Kim khí tp HCMvới 10 triệu quyền mua cổ phần. Vào những năm này các hợp đồng quyền chọn dựa trên cổ phiếu đã được giao dịch trên thị trường OTC mà CTCK là một bên giao dịch trực tiếp với khách hàng. Trong đó, có một số trường hợp UBCK đã có công văn yêu cầu ngừng triển khai vì chưa có khung pháp l như việc Công ty Vàng thế giới (VTG) ra mắt sản phẩm mới gần giống hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu để đầu tư vào chỉ số chứng khoán Việt Nam và CTCK VnDirect cung cấp sản phẩm hợp đồng hợp tác đầu tư như một hợp đồng quyền chọn cổ phiếu. Chính sự xuất hiện của các sản phẩm phái sinh đã thể hiện nhu cầu của các nhà đầu tư và đặt ra yêu cầu thiết lập một thị trường phái sinh dựa trên các tài sản cơ sở là chứng khoán, có cơ chế pháp l đầy đủ…Tuy nhiên, do chưa có quy định pháp l điều chỉnh nên các hợp đồng phái sinh chưa được phát triển trên thị trường vốn Việt Nam. Một số công ty chứng khoán dưới một vài hình thức thế này hay thế khác đã triển khai một số nghiệp vụ phái sinh này, nhưng các hoạt động ấy di n ra lẻ tẻ và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 17
  19. Khoa Quản Trị Kinh Doanh Tại Việt Nam, phái sinh tiền tệ là công cụ phái sinh xuất hiện sớm nhất, chủ yếu ở các ngân hàng (Vietcombank, Techcombank, Eximbank, HSBC, Citibank…) nhưng số lượng khách hàng còn ít với khối lượng giao dịch khá nhỏ so với nhu cầu có thật của thị trường về phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất. Bên cạnh đó, trên thị trường hàng hóa, các giao dịch kỳ hạn và tương lai đối với các hàng hóa cơ bản như gạo, cà phê, cao su, thép được các doanh nghiệp sử dụng nhiều trên các Sở giao dịch phái sinh nước ngoài như COMEX (SDG vàng, cao su, tơ lụa và gia súc) hoặc LME (SGD kim loại London). Trong nước có ba sàn giao dịch là Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột, Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam và Sàn giao dịch hàng hóa Sài Gòn Thương tín đã bước đầu triển khai một số sản phẩm phái sinh. Cụ thể, SGD hàng hóa Việt Nam (VNX) thực hiện niêm yết và giao dịch hợp đồng tương lai của cà phê, cao su và thép thỏi cán nóng. Tuy nhiên, đa phần các giao dịch phái sinh mới chỉ dừng ở mức thăm dò, thử nghiệm, sự tham gia của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và nhà đầu tư còn hạn chế. 2.2.2 Định hƣớng phát triển CCPS trên TTCK Lộ trình cho chứng khoán phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020: UBCK đang xây dựng một Nghị định hướng dẫn riêng về tổ chức và giao dịch chứng khoán phái sinh để trình Chính phủ ban hành trong năm 2013. Trên cơ sở Nghị định, Sở GDCK Việt Nam và VSD s xây dựng các Quy chế hướng dẫn về giao dịch và thanh toán, bù trừ. UBCK cũng s trình Bộ để bổ sung các quy định về tổ chức và hoạt động của các đối tượng tham gia TTCK phái sinh, quy định về công bố thông tin, quy định về cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán phái sinh (CKPS), quy định về thuế, phí trên thị trường CKPS... để bảo đảm một hành lang pháp l tương đối đầy đủ giúp cho thị trường vận hành hiệu quả, ổn định. Theo đó, việc triển khai xây dựng TTCK phái sinh được gắn với việc tái cấu mô hình tổ chức thị trường theo đề án hợp nhất các Sở GDCK. Sàn giao dịch chứng khoán phái sinh là một trong ba sàn giao dịch thuộc Sở GDCK Việt Nam theo mô hình tái cấu trúc hai Sở GDCK hiện hành (HOSE và HNX) thành một Sở thống nhất. Sàn giao dịch phái sinh vận hành song hành cùng sàn giao dịch cổ phiếu, sàn giao dịch trái phiếu. Hệ thống giao dịch CKPS s được tổ chức gần giống với hệ thống giao dịch trên thị trường cổ phiếu, đó là hệ thống đấu giá khớp lệnh với các phiên giao dịch khác nhau. Trung tâm LKCK Việt Nam (VSD) vẫn là đơn vị tổ chức việc thanh toán bù trừ cho các CKPS. Hệ thống thanh toán s cần một Trung tâm TTBT (Clearing house) đóng vai trò là đối tác trung tâm (CCP- Central counterparty) bên cạnh hệ thống đăng k , lưu k , bù trừ và thanh toán chứng khoán hiện nay của VSD. Bộ phận TTBT với chức năng CCP s đóng vai trò là người bán của mọi người mua và người mua của mọi người bán. Rủi ro thanh toán s được đảm bảo bởi CCP s là người chịu rủi ro cuối cùng. Điều này đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về chủ trương trong Quyết định phê duyệt Đề án phát triển TTCK Việt Nam giai đoạn 2011-2020 số 252/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 trong Nhóm giải pháp về tái cấu trúc tổ chức thị trường "Tái cấu trúc mô hình tổ chức TTCK Việt Nam theo hướng (i) Tổ chức việc giao dịch chứng khoán theo hướng cả nước chỉ có một SGDCK; (ii) Phán định các khu vực thị trường thành thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường chứng khoán phái sinh; (iii) Liên kết giữa SGDCK Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 18
  20. Khoa Quản Trị Kinh Doanh và TTLKCK để gắn kết mạnh hoạt động thanh toán, bù trừ và lưu ký chứng khoán với hoạt động giao dịch chứng khoán... ” Dự kiến TTCK phái sinh s đi theo hướng thị trường tập trung. UBCK đánh giá đây là lựa chọn phù hợp với điều kiện thực ti n hiện nay và cho phép cơ quan quản l có những chuẩn bị cho tất cả các công cụ gốc là chứng khoán, vàng, lãi suất, hối đoái và hàng hóa. Dự kiến, nếu các bước chuẩn bị di n ra suôn sẻ, thị trường phái sinh tại Việt Nam s chính thức đi vào hoạt động kể từ năm 2014. 2.3 NHẬN XÉT TỔNG QUÁT 2.3.1 Thuận lợi Ths Đặng Tài An Trang, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, thị trường chứng khoán phái sinh có một số lợi ích cơ bản như giúp loại bỏ sự bất trắc thông qua việc thực hiện các giao dịch trao đổi rủi ro thị trường, thường hay được gọi là phòng ngừa (hedging). Các doanh nghiệp hay định chế tài chính sử dụng chứng khoán phái sinh nh m giúp họ phòng ngừa được các thay đổi về giá nguyên vật liệu, tỷ giá, lãi suất. Do vậy, chứng khoán phái sinh s giúp giảm các biến động về dòng tiền của doanh nghiệp và giúp dự báo trở nên đáng tin cậy hơn, yêu cầu về vốn ít hơn và hiệu quả sử dụng vốn cao hơn. Những lợi ích này khiến chứng khoán phái sinh được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu. Lợi ích khác của chứng khoán phái sinh là được sử dụng làm công cụ đầu tư do đây là công cụ để thực hiện để đầu tư trực tiếp vào các tài sản mà không cần mua hoặc nắm giữ bản thân tài sản. Chứng khoán phái sinh cũng giảm thị trường phản ứng nhanh hơn với thông tin mới so với thị trường giao ngay, do đó nhà đầu tư mặc dù không tham gia giao dịch chứng khoán s có thể dự báo tốt hơn giá chứng khoán trên thị trường giao ngay, đây là chứng năng định giá của chứng khoán phái sinh (price discovery). Ngoài ra, chứng khoán phái sinh còn góp phần vào hội nhập thị trường vốn toàn cầu, nâng cao hiệu quả, phân bổ vốn và đầu tư… Sự phát triển của thị trường các chứng khoán phái sinh cơ bản có thể được tiến hành đồng thời với phát triển thị trường trái phiếu và cổ phiếu. Do thị trường phái sinh phải dựa vào hàng hóa cơ sở nên cần phải phát triển hàng hóa cơ sở trước và đảm bảo tính thanh khoản phù hợp của nó trước khi xây dựng thị trường phái sinh. Tuy nhiên, nếu đợi đến khi thị trường hàng hóa cơ sở phát triển một cách đầy đủ có thể s không tối ưu. Các chứng khoán phái sinh thường khuyến khích nhà đầu tư sẵn sàng mua và nắm giữ chứng khoán. Ví dụ như nếu có quyền chọn, nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu có thể đồng thời thực hiện bán quyền chọn mua số cổ phiếu đó (covered call) để kiếm thêm thu nhập từ danh mục đầu tư sang nắm giữ với mức rủi ro tối thiểu. Điều này s tăng tính hấp dẫn để nhà đầu tư sẵn sàng thực hiện đầu tư dài hạn. Kinh nghiệm về chứng khoán phái sinh trên thị trường trái phiếu Mỹ cho thấy chứng khoán phái sinh giúp tăng đáng kể tính thanh khoản của trái phiếu chính phủ và thúc đẩy sự phát triển của thị trường này. Định hướng phát triển công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản