intTypePromotion=3

Tiểu luận: Giải quyết đơn khiếu nại của ông Đa Cát Ha Mang, Thôn Đa Xế, xã Đạ M’Rông, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng về việc không được công nhận hộ nghèo năm 2018

Chia sẻ: Hoang Van Chuong Chuong | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:21

0
70
lượt xem
13
download

Tiểu luận: Giải quyết đơn khiếu nại của ông Đa Cát Ha Mang, Thôn Đa Xế, xã Đạ M’Rông, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng về việc không được công nhận hộ nghèo năm 2018

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận gồm 3 phần: Phần 1 - Trình bày mục đích, ý nghĩa, lý do việc lựa chọn đề tài, phần 2 - Gồm 5 bước theo trình tự, tập trung giải quyết việc khiếu kiện của ông Đa Cát Ha Mang đến khi hoàn thành việc giải quyết và phần 3 - Kiến nghị một số ý kiến xung quanh việc giải quyết đã nêu ở trên, để trong thời gian tới công tác quản lý nhà nước. Mời các bạn tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Giải quyết đơn khiếu nại của ông Đa Cát Ha Mang, Thôn Đa Xế, xã Đạ M’Rông, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng về việc không được công nhận hộ nghèo năm 2018

  1. PHẦN I:  MỞ ĐẦU Xóa đói giảm nghèo đang là vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu và   là chương trình thiên niên kỷ  của Liên hiệp quốc.  Ở  Việt Nam, công tác  xóa đói giảm nghèo là một chủ trương lớn được Đảng và Nhà nước ta đặc   biệt quan tâm và xác định đó là chương trình mục tiêu quốc gia. Trong công tác xóa đói giảm nghèo, để  thực hiện đạt chỉ  tiêu thì  không chỉ   được  triển khai, thực  hiện bằng nhiều phương  pháp, nhiều  phương thức, sử  dụng nhiều nguồn nhân lực và sự  hỗ  trợ  khác nhau mà  quan trọng là ý chí vươn lên thoát nghèo của chính những hộ  nghèo. Để  phát huy được ý chí vươn lên thoát nghèo của chính người nghèo thì việc  tiến hành bình xét hộ  nghèo hàng năm là khâu rất quan trọng. Việc bình  xét nếu được thực hiện khách quan, dân chủ, công bằng, công khai và  chính xác thì chọn được hộ  đúng thực sự  là hộ  nghèo. Để  từ  đó với sự  đầu tư và hỗ trợ của nhà nước những hộ nghèo vươn lên thoát nghèo. Tạo  được sự  đồng thuận, đồng tình và hưởng  ứng của nhân dân đối với các  chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Qua đó, nâng cao ý nghĩa,   mục đích của xóa đói giảm nghèo, đồng thời đánh giá được hiệu quả thiết   thực của các nguồn hỗ  trợ  của nhà nước đối với những hộ  gia đình còn  gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Ngược   lại,   bình   xét   hộ   nghèo   không   chính   xác,   không   dân   chủ,  không công bằng sẽ  tạo sự  phân bì, phản  ứng, so sách ngay chính trong  nội bộ nhân dân, như vậy chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước sẽ  không được thực hiện nghiêm minh, tình trạng đơn thư khiếu kiện là điều  khó tránh khỏi. Trong thực tế, sau khi tiến hành bình xét hộ  nghèo xong,   mặc dù quá trình thực hiện đảm bảo công khai, chính xác và đúng quy  trình nhưng vẫn có tình trạng khiếu kiện xảy ra. Lý do vì sao có tình trạng   này tôi sẽ  trình bày trong phần nội dung. Sau mỗi năm, số  đơn thư  khiếu   kiện tăng lên, tính chất ngày càng phức tạp, đặc biệt là xuất hiện đơn  khiếu kiện tập thể. 1
  2. Qua chương trình quản lý nhà nước mà tôi đã được học và yêu cầu  lựa chọn đề  tài, từ  thực tế  công tác bình xét hộ  nghèo hàng năm, tôi đã   chọn đề tài: Giải quyết đơn khiếu nại của ông Đa Cát Ha Mang, Thôn   Đa   Xế,   xã   Đạ   M’Rông,   huyện   Đam   Rông,   tỉnh   Lâm   Đồng   về   việc   không được công nhận hộ nghèo năm 2018. Sở dĩ tôi chọn đề tài này vì  tôi nhận thấy đây là vấn đề khá nhạy cảm trong quản lý nhà nước đối với  việc thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo tại địa phương. Trong   quá trình xử  lý vụ  việc trên, tôi hy vọng những trường hợp như  ông  Đa  Cát Ha Mang  và nhân dân, các ngành, đơn vị  có liên quan, cán bộ  công  chức trực tiếp làm công tác xóa đói giảm nghèo có nhận thức đúng đắn  hơn trong khảo sát, cách tính thu nhập của hộ  gia đình để  xếp  ở  mức   nghèo hay cận nghèo. Từ đó có những tham mưu sát với thực tế trong việc   thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở địa phương. Tiểu luận gồm 3 phần: mở  đầu; nội dung và phần kiến nghị,  kết luận.    * Phần mở đầu: Trình bày mục đích, ý nghĩa, lý do việc lựa chọn đề  tài.        * Phần nội dung : Là phần trọng tâm của tiểu luận, gồm 5 bước theo   trình tự, tập trung giải quyết việc khiếu kiện của ông Đa Cát Ha Mang  đến khi hoàn thành việc giải quyết.            * Phần kết luận, kiến nghị: Một số  ý kiến xung quanh việc giải   quyết đã nêu  ở  trên, để  trong thời gian tới công tác quản lý nhà nước về  bình xét hộ  nghèo ngày càng tốt hơn, tạo được sự  thống nhất, đồng thuận   trong nhân dân. Đối với công tác bình xét hộ  nghèo, tôi nghĩ đây là đề  tài khá mới.  Trước đây, trong thực hiện bình xét hộ  nghèo hàng năm các ngành liên  quan mới chỉ chú ý đến việc thực hiện văn bản của cấp trên chứ chưa chú  ý đến việc tiếp thu ý kiến của nhân dân trong quá trình triển khai, thực  hiện tại địa phương. Hơn nữa, vì khả  năng của bản thân còn hạn chế  và   2
  3. giới hạn của đề  tài nên tôi không có tham vọng trình bày rộng mà chỉ tập  trung theo trình tự giải quyết vụ việc đã được hướng dẫn. PHẦN II: NỘI DUNG Tình hình thực tế và công tác xóa đói giảm nghèo ở xã Đạ M’Rông,  huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng Xã  Đạ  M’Rông  là một xã  ở  phía Tây Bắc thuộc huyện  Đam  Rông, tỉnh Lâm Đồng có vị trí địa lý: Phía đông giáp xã Đạ  Tông, phía  tây giáp xã Đạ RSal, phía nam giáp xã Rô Men, phía bắc giáp xã Krông   Nô – huyện Lăk – tỉnh Đăk Lăk. Xã Đạ M’Rông được chia thành 6 thôn, có 846 hộ, với diện tích đất  tự   nhiên   là  5712,86   ha;   thu  nhập  bình   quân  nhân   khẩu  đạt  23.500.000  đồng/người/năm, (tăng 7.800.000 đồng so với năm 2015). Nhân dân xã Đạ  M’Rông chủ  yếu làm kinh tế  nông nghiệp. Địa hình của xã tương đối  hiểm trở, hơn nữa lại là vùng sâu, vùng xa của tỉnh Lâm Đồng nên việc đi   lại còn gặp nhiều khó khăn. Theo tinh thần Nghị quyết 30a của Chính phủ  và  áp dụng chuẩn nghèo được quy định tại Quyết định số  59/2015/QĐ­ TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn hộ nghèo,  hộ  cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016 ­ 2020  thì xã Đạ  M’Rông năm  2018 có 318 hộ/846 hộ  chiếm 37.59% số  hộ toàn xã (Giảm 33 hộ  so với   cuối năm 2015).  Hộ  cận nghèo cuối năm 2017: 253 hộ  chiếm 29,9 %,  (giảm 41 hộ so với cuối năm 2015). Trong những năm qua công tác xóa đói giảm nghèo được Đảng bộ,   chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể, nhân dân trong xã đặc biệt  quan tâm và thực hiện bằng nhiều chương trình lồng ghép như  cấp thẻ  bảo hiểm y tế  cho người nghèo, hỗ  trợ  sản xuất, chuyển đổi giống cây  trồng vật nuôi, xóa nhà tạm cho người nghèo theo tinh thần Nghị  quyết  167/NQ­CP   của   Chính   phủ,   Quyết   định   số   59/2015/QĐ­TTg   ngày  19/11/2015 của Thủ  tướng Chính phủ  và Chỉ  thị  22 của Ban Thường vụ  Tỉnh ủy Lâm Đồng, chế độ bảo trợ xã hội theo Nghị định 13/2010/NĐ­CP   ngày 27/2/2010 của Chính phủ  “về  sữa đổi, bổ  sung một số  điểm của   Nghị  định 67/2007/NĐ­CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ.  Công tác chỉ  đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo từ  huyện đến xã đảm bảo thường   xuyên và chặt chẽ. Sự nỗ lực, ý chí vươn lên thoát nghèo của nhân dân đã  được phát huy. Vì vậy, tỷ  lệ  hộ  nghèo trong huyện những năm qua đã   giảm, chỉ tiêu giảm nghèo hành năm đều đạt chỉ tiêu đặt ra và đạt chỉ tiêu  3
  4. giảm nghèo mà Đại hội Đảng bộ  xã Đạ  M’Rông lần thứ  XI, nhiệm kỳ  2015 – 2020 giảm tỷ lệ hộ nghèo dưới 1­2%.  Tuy nhiên, trong những năm gần  đây, do chế  độ  chính sách của  Đảng và Nhà nước đối với người nghèo đã được quan tâm và có nhiều ưu  ái thông qua các chương trình như: hỗ trợ sản xuất, xóa nhà tạm, cấp thẻ  bảo hiểm y tế, thực hiện chế độ  bảo trợ  xã hội, miễn giảm học phí cho   học sinh thuộc hộ nghèo, ưu tiên vay vốn ngân hàng, hỗ trợ vật chất trong  các dịp lễ, tết... những chính sách trên đã phản ánh tính  ưu việt của chủ  trương, đường lối của Đảng, Chính sách của Nhà nước trong quá trình  thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo trong cả nước thời gian qua. Đồng  thời là nguồn động viên hỗ  trợ  cả  vật chất và tinh thần đối với người   nghèo, để  người nghèo có cơ  hội vươn lên thoát nghèo, cũng cố  niềm tin   của nhân dân vào sự  lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Nhưng cũng chính  vì những chính sách ưu đãi đó nên nhiều hộ nghèo có biểu hiện trông chờ,  ỷ  lại không muốn thoát nghèo, có nhiều hộ, nhiều năm liền không thoát  nghèo, tình trạng đó phản ánh nhiều hộ  nghèo không phải không có khả  năng, điều kiện thoát nghèo mà các hộ  này đã trông chờ   ỷ  lại vào Nhà   nước, nhiều hộ  nghèo tách ra thành nhiều hộ  nghèo mới. Hàng năm, khi  tiến hành tổng kết công tác xóa đói giảm nghèo, ban chỉ đạo xóa đói giảm  nghèo đều rút kinh nghiệm và tìm nguyên nhân dẫn đến nghèo dựa trên   thực tế  tại xã và xây dựng biện pháp giảm nghèo nhưng vì nhiều lý do  khác nhau nên công tác xóa đói giảm nghèo chưa đạt kết quả  như  mong  muốn. Nhiều hộ không thuộc diện nghèo nhưng lại muốn công nhận là hộ  nghèo để được hưởng chính sách đối với hộ  nghèo làm tăng số  hộ  nghèo   hàng năm. Vì thế  công tác xóa đói giảm nghèo trong huyện trở  nên phức   tạp, khó khăn hơn. Cũng chính từ  thực tế  đó, hàng năm sau khi tiến hành bình xét hộ  nghèo xong, hiện tượng đơn thư khiếu kiện của nhân dân với nội dung đề  nghị  được công nhận hộ  nghèo hầu như  năm nào cũng có, ít từ  1 đến 2  đơn. Qua tiếp nhận và giải quyết hàng năm thì thấy nội dung đơn thư đều  phản ánh mục đích là đề  nghị  được công nhận hộ  nghèo và hầu hết số  đơn này đều thuộc nhóm hộ cận nghèo. Công tác giải quyết đơn phải thực  4
  5. hiện nhưng không hề  đơn giản, có đơn phải giải quyết nhiều lần, nhiều   cấp và trường hợp ông Đa Cát Ha Mang  ở  thôn Đa Xế, xã Đạ  M’Rông,  huyện Đam Rông mà tôi sẽ trình bày ở phần nội dung chính là một ví dụ. Trong khi đó đội ngũ làm công tác xét hộ  nghèo chịu nhiều áp lực,  nhiều hộ  dân có thái độ  không hợp tác với cán bộ  làm công tác khảo sát,   có biểu hiện giấu bớt tài sản, không kê khai hết thu nhập của gia đình   trong năm vì vậy tính tổng thu nhập của gia đình trong năm khó chính xác.  Việc tổ  chức họp thôn để  bình xét công khai  ở  nhiều nơi không đủ  50%  tổng số hộ trong thôn tham gia. Có thôn phải tổ chức họp nhiều lần, nhiều   hộ  không thuộc diện hộ  nghèo không quan tâm đến quá trình bình xét,  không tham dự, thờ ơ. Nhiều hộ khi không được xếp vào diện nghèo đã có   thái độ hằn học, thậm chí mạt sát, xúc phạm đến danh dự của cán bộ bình  xét. Trên đây là thực trạng, tuy chưa phải là phổ biến nhưng đang và sẽ  là vấn đề  bức xúc đáng quan tâm trong vài năm gần đây. Khi tiến hành   giải quyết đơn thư, đại diện hộ gia đình có đơn thư không thống nhất sự  phân tích của người có trách nhiệm, phát biểu theo cảm tính cá nhân, có   biểu hiện dân chủ  quá trớn, phát ngôn tùy tiện không vì mục đích xây  dựng. Khắc phục được vấn đề  này có lẽ  là vấn đề  không đơn giản. Đây   là một thực tế nhưng với suy nghĩ của bản thân tôi muốn nhấn mạnh đó là   không nên chú ý quá nhiều vào vào mặt trái mà không thấy được mặt tích  cực, hiệu quả của chương trình. Chỉ khi nhìn thấy mặt trái một cách chính  xác thì mới thấy mặt tích cực càng có ý nghĩa hơn vì đại bộ phận nhân dân  ta luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo, đường lối của Đảng, chấp hành tốt mọi  chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, rất nhiều hộ sẵn sàng hy  sinh lợi ích của cá nhân, của gia đình vì lợi ích của cộng đồng, của xã hội  và của đất nước. Với tình thực tế  như  trên, phần nội dung tập trung vào  các bước sau: I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG Tháng 11 hàng năm là thời điểm bình xét hộ  nghèo ở  tất cả  các địa   phương và huyện Đam Rông cũng tiến hành bình xét hộ  nghèo  ở  tất cả  5
  6. các xã trong huyện và kết quả  bình xét hộ  nghèo cuối năm 2017 sẽ  là số  hộ  nghèo năm 2018, để  có kế  hoạch đầu tư  từ  đầu năm. Việc tiến hành  bình xét hộ  nghèo tuy là công việc thường xuyên được tiến hành hàng  năm, nhưng bình xét hộ  nghèo là chương trình lớn, rộng, liên quan đến   quyền và lợi ích của một bộ phận nhân dân nên trước khi tiến hành bình  xét  Ủy ban nhân dân huyện đều tổ  chức tập huấn kỹ  lưỡng, thành phần  tham dự gồm thành viên Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo của huyện, lãnh   đạo Ủy ban nhân dân các xã, cán bộ  Lao động thương binh và xã hội của  các xã và trưởng các thôn, buôn, chuẩn bị và cung cấp đầy đủ các văn bản  liên quan, thành lập ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo cấp huyện và cấp xã,   phân công Ban chỉ đạo phụ trách địa bàn, đồng thời tiến hành bình xét hộ  nghèo từ thôn, tiến hành khảo sát thu nhập từng hộ.  Hơn nữa, kết quả  bình xét hộ  nghèo là cơ  sở, là điều kiện để  cấp  thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, xóa nhà tạm, bảo trợ xã hội... Vì thế  việc tiến hành bình xét phải đảm bảo công khai, dân chủ, công bằng và  chính xác. Việc tiến hành bình xét hộ  nghèo tại xã Đạ  M’Rông cũng như  tất cả  các xã khác trong huyện Đam Rông được tiến hành công khai, dân  chủ, khách quan, đúng kế hoạch và quy trình đã được hướng dẫn. Ngày 19/11/2017, sau khi tiến hành bình xét xong  ở xã Đạ M’Rông,  ông Đa Cát Ha Mang, 51 tuổi, thường trú tại thôn Đa xế, xã Đạ  M’Rông,   huyện Đam Rông có đơn khiếu nại tới Ban chỉ  đạo xóa đói giảm nghèo   của xã. Trong đơn, ông khiếu nại về  cách tính thu nhập, đồng thời trình   bày nguyện vọng của gia đình được công nhận là hộ nghèo năm 2018. Ủy   ban nhân dân xã Đạ  M’Rông đã mời ông Đa Cát Ha Mang đến làm việc.   Ban chỉ đạo đã phân tích về thu nhập của gia đình, cách tính tổng thu nhập  cả năm, thu nhập bình quân người, đồng thời giải thích cho ông Đa Cát Ha  Mang hiểu với mức thu nhập của gia  đình ông Mang thì gia  đình ông  không thuộc hộ nghèo. Sau khi được cán bộ  làm công việc khảo sát phân   tích tận tình, ông Đa Cát Ha Mang đã chấp nhận và rút đơn khiếu kiện,  công tác giải quyết đơn của ông Mang như vậy đã xong. 6
  7.  Nhưng không hiểu vì lý do gì, đến ngày 09/12/2017 tức là 20 ngày  sau khi đã giải quyết tại xã, ông Đa Cát Ha Mang lại gửi đơn khiếu kiện  lên Ban chỉ   đạo xóa  đói giảm nghèo của huyện  Đam Rông. Nội dung   khiếu kiện cũng trùng với nội dung khiếu kiện mà ông đã gửi lên Ban chỉ  đạo xóa đói giảm nghèo xã Đạ  M’Rông là gia đình ông không được xếp  vào hộ nghèo và trình bày nguyện vọng được công nhận là hộ nghèo năm  2018,  Ủy ban nhân dân huyện Đam Rông đã chỉ  đạo cho Phòng Lao động  thương binh và xã hội giải quyết đơn khiếu kiện của ông Đa Cát Ha Mang   và   báo   cáo   chủ   tịch   Ủy   Ban   nhân   dân   và   thanh   tra   huyện   trước   ngày   28/12/2017. Để chuẩn bị và phục vụ việc giải quyết khiếu kiện của ông Đa Cát   Ha Mang, Phòng Lao động thương binh và xã hội đã nghiên cứu kỹ phiếu   khảo sát thu nhập của gia đình ông Đa Cát Ha Mang. Sỡ  dĩ phải nghiên   cứu kỹ  phiếu thu nhập vì phiếu khảo sát là căn cứ  và là cơ  sở  tính thu   nhập để xếp loại hộ nghèo mới hoặc hộ cận nghèo hoặc thoát nghèo. Qua  nghiên cứu phiếu khảo sát nhận thấy: phiếu khảo sát thể hiện đầy đủ  và  chính xác về thu nhập và cách tính thu nhập cho gia đình ông Mang cụ thể  như sau: ­ Ruộng lúa canh tác có 03 sào (3.000m2) canh tác 02 vụ/năm. thu nhập từ canh tác lúa (đã trừ chi phí đầu tư) là: 6.600.000đồng. ­ Chăn nuôi 02 con bò trong đó có 01 con sinh sản và 01 con bò thịt. ­ Thu nhập từ chăn nuôi (đã trừ chi phí) là: 7.500.000đồng. ­ Vườn cà phê có diện tích 5000m2 (đã trừ  chi phí) cho thu nhập   30.000.000 đồng. ­ Vườn điều có diện tích 1000m2 cho thu nhập 11.335.000 đồng ­ Như  vậy, tổng thu nhập cả  năm của cả  gia đình ông Đa Cát Ha  Mang là 55.435.000đồng/năm. Thực tế, qua kiểm tra thì gia đình ông Mang  không có nguồn thu nhập khác. Như vậy cán bộ khảo sát đúng và ghi đầy  đủ các nguồn thu. 7
  8. Hiện tại gia đình ông Đa Cát Ha Mang gồm có 05 người (vợ, chồng,   2 con gái và 1 con trai). Vậy thu nhập bình quân/người/năm là: 11.087.000  đồng. Căn cứ với mức thu nhập trên, gia đình ông Đa Cát Ha Mang không   thuộc hộ nghèo. Tuy nhiên, vấn đề phức tạp và là mấu chốt quan trọng của vụ việc  đó là trước thời điểm bình xét hộ nghèo ở xã 01 tuần, gia đình ông Đa Cát   Ha Mang đón cha đẻ  và mẹ  đẻ  của vợ  ông Mang chuyển về  sinh sống  cùng gia đình. Phía gia đình ông Mang cũng đồng tình và thống nhất với   kết quả  khảo sát và tính tổng thu nhập được thể  hiện trong phiếu khảo   sát nhưng ông không đồng tình với cách tính thu nhập bình quân cho 5  người mà phải tính cho 7 người vì gia đình mới có thêm ông bà về  sinh  sống. Nhận thức của ông Mang về  tính thu nhập là chia cho 7 người. Vì  vậy, nếu lấy tổng thu nhập cả  năm (đã trừ  chi phí) của cả  gia đình ông   Mang cho thu nhập bình quân/người/năm là 7.919.285 đồng. Với thu nhập trên thì gia đình ông Mang đương nhiên sẽ là hộ thuộc   diện hộ  nghèo. Hơn nữa ông bà đã lớn tuổi không còn sức lao động (ông   đã 77 tuổi, bà đã 76 tuổi).  Trước tình hình trên thì Ủy ban nhân dân huyện Đam Rông đã cho cơ  quan chức năng xuống kiểm tra và có phương án giải quyết. II.  PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ 1. Nguyên nhân: Qua xem xét nội dung đơn khiếu kiện thì mục đích của ông Đa Cát  Ha Mang là khiếu nại để được công nhận là hộ  nghèo để  có được sự  hỗ  trợ  phần nào cùa nhà nước đối với người nghèo, để  giảm bớt khó khăn   trong cuộc sống. Về  nhận thức của ông Đa Cát Ha Mang trong tính thu  nhập là tính cho 07 người. Nhận thức trên là do xuất phát từ sự thiếu hiểu   biết của bản thân  ông Mang để  được  tính thu nhập trong gia  đình thì  8
  9. người đó phải có thời gian sinh sống trong gia đình tối thiểu 06 tháng. Bản   thân ông Mang cũng không nhận thức được là tính chia cho 5 người hay 7   người là đúng, nhưng rõ rằng ông biết được nếu chia tổng thu nhập của  gia đình trong năm chia cho 7 người thì gia đình ông Mang sẽ là hộ nghèo. Còn phía Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo bình xét hộ nghèo của Ủy  ban nhân dân xã Đạ M’Rông trong quá trình khảo sát thu nhập của gia đình  ông Mang và cách tính thu nhập chia cho 5 người là hoàn toàn chính xác và   hợp lý. Một nguyên nhân nữa có thể  đề  cập đó là văn bản của Nhà nước,  của ngành chuyên môn phục vụ  hướng dẫn cho việc bình xét hộ  nghèo   còn thiếu và quy định chưa rõ ràng. Ngoài các văn bản như Quyết định số  59/2015/QĐ­TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số  17/2016/TT­BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao độmg Thương binh và  xã hội, kế  hoạch của  Ủy ban nhân dân huyện thì cần có những văn bản  của ngành chuyên môn hướng dẫn chi tiết, cụ  thể  hoặc sự  thống nhất   chung trong các hội nghị tập huấn với những vấn đề  cụ  thể  như: Hướng   dẫn để  khảo sát hết các nguồn thu, mức tính giá thành trong thời điểm  khảo sát, một người có thời gian ở trong gia đình bao lâu thì được tính thu   nhập trong năm, hoặc một gia đình sản xuất nông nghiệp nhưng có người   lao động trong doanh nghiệp có thu nhập riêng nhưng không cộng vào thu  nhập gia đình xử lý thế nào.  Công tác bình xét  ở  xã khi thực hiện khảo sát từ  thôn thì không đủ  các thành phần tham dự mà giao cho cán bộ  bình xét,  ủy ban nhân dân xã  chưa chỉ  đạo chặt chẽ, trong khi đó cán bộ  bình xét hộ  nghèo phải thực  hiện công việc này trong thời gian ngắn, áp lực nhiều nên khó tránh khỏi   những sơ suất. 2. Hậu quả: Sự việc gây mất uy tín của nhân dân vào Nhà nước, vào đội ngũ cán   bộ  làm cơ  quan nhà nước.  Ảnh hưởng xấu về  nhiều thế  hệ  không trung   thực trong công tác kê khai tài sản của mình, khó khăn cho việc khảo sát  tài sản thực tế.  9
  10. Từ   những   nguyên   nhân   và   hậu   quả   trên   chúng   ta   cùng   tìm   các  phương án giải quyết thấu tình đạt lý, bảo đảm tính nghiêm minh của   pháp luật, đồng thời hợp với lòng dân. III. MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG Với tình huống đặt ra như  trên, nếu tính thu nhập cho 07 người thì  gia đình ông Đa Cát Ha Mang thuộc hộ  nghèo và cha mẹ  vợ  đã già yếu  không còn sức lao động lại sinh sống  ở  vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt  khó   khăn   sẽ   được   xét   hưởng   chế   độ   bảo   trợ   xã   hội   theo  Nghị   định  13/2010/NĐ­CP ngày 27/2/2010 của Chính phủ “về sữa đổi, bổ  sung một   số điểm của Nghị định 67/2007/NĐ­CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ trợ   cấp các đối tượng bảo trợ xã hội”.  Vấn đề  là cha mẹ  vợ  mới chuyển khẩu về  nhập vào gia đình ông  Mang trước đó 1 tuần (cha mẹ vợ đã ở gia đình anh vợ gần 11 tháng); Vì   vậy, nếu tính thu nhập của cha mẹ  vợ  vào gia đình ông Mang thì không  thể được vì nguyên tắc một người được tính thu nhập trong năm phải có  thời gian sinh sống, làm việc trong gia đình tối thiểu là 6 tháng. Hơn nữa,  khi tiến hành họp thôn để  bình xét thì trường hợp ông Mang cũng thuộc  diện đưa ra để  biểu quyết tại hội nghị, kết quả  là 146 hộ/146 hộ  trong  thôn biểu quyết, tỷ  lệ  100% là hộ  ông Đa Cát Ha Mang đã thoát nghèo   đồng thời xem xét hộ thuộc diện cận nghèo. Tính phức tạp của sự việc còn thể hiện ở chỗ là theo  Quyết định số  59/2015/QĐ­TTg ngày 19/11/2015 của Thủ  Tướng Chính phủ  ban hành  chuẩn hộ  nghèo, hộ  cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016­2020 thì ranh  giới giữa hộ  nghèo và hộ  cận nghèo chỉ  300.000đồng/tháng, tức là hộ  nghèo có thu nhập từ 700.000 đồng trở  xuống, hộ  cận nghèo từ  700.000đ  đồng/tháng/người  đến 1.000.000 đồng/tháng/người. Vì vậy, ngoài tính thu  nhập bình quân cho từng người đã quan trọng nhưng quan trọng hơn đó là   khảo sát được hết các nguồn thu nhập trong năm, vì tổng thu nhập trong  năm là số liệu để tính thu nhập bình quân cho từng người. Nếu giả sử 02   gia đình có mức thu nhập như nhau nhưng trong quá trình khảo sát, hoặc  gia đình không kê khai hết nguồn thu nhập hoặc cán bộ khảo sát có thể do   10
  11. thiếu sót hoặc vì lý do nào đó không khảo sát hết nguồn thu nhập thì kết  quả  xếp loại sẽ  hoàn toàn khác. Hơn nữa căn cứ  vào phiếu khảo sát thì  trong   08   tiêu   chí   để   tính   thu   nhập   theo   phụ   lục   của  Thông   tư   số  17/2016/TT­BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ Lao độmg Thương binh và  xã hội thì 05 tiêu chí sau: ­ Trồng trọt: Cây lương thực, thực phẩm, ăn quả… Tính cả  sản  phẩm bán ra và sản phẩm tiêu dùng trong gia đình. ­ Chăn nuôi: Gia súc gia cầm, cả sản phẩm bán ra và tiêu dùng. ­ Lâm nghiệp: Cả sản phẩm bán ra và tiêu dùng. ­ Thủy sản: Cả sản phẩm bán ra và tiêu dùng. ­ Tiền lương, tiền công. 05 tiêu chí này dễ  xác định và khảo sát để  tính thu nhập vì lượng   hóa bằng diện tích gieo trồng, số  lượng  vật nuôi, khối lượng  gỗ, giá  thành, tiền công, tiền lương hàng tháng, còn 03 tiêu chí sau: ­ Hoạt động dịch vụ nông nghiệp. ­ Các dịch vụ  sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (Tính cả  sản  phẩm bán ra và tiêu dung trong gia đình). ­ Các khoản thu khác (bao gồm các khoản thu từ  hái lượm, quà tặng,   tiền gửi về từ nước ngoài, lãi tiết kiệm, tiền cho thuê nhà, lương hưu, trợ  cấp). 03 khoản thu này thường có thu nhập cao so với sản xuất nông  nghiệp nhưng rất khó khảo sát và tính thu nhập vì thường các gia đình  kinh doanh các loại hình này không kê khai hết thu nhập. IV. XÂY DỰNG, PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN  GIẢI QUYẾT  1. Cơ sở pháp lý: 11
  12. Quy định tại Quyết định số  59/2015/QĐ­TTg ngày 19/11/2015 của   Thủ  tướng chính phủ  ban hành chuẩn hộ  nghèo, hộ  cận nghèo áp dụng  cho giai đoạn 2016­2020: ­ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000  đồng/người/tháng (từ 8,4 triệu đồng/người/năm) trở xuống; ­ Hộ  nghèo  ở  khu vực Thành thị  có mức thu nhập bình quân  đầu  người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; ­ Hộ cận nghèo khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu  người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng; ­ Hộ cận nghèo khu vực thành thị: là hộ  có thu nhập bình quân đầu  người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng. Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính  sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác. Quyết định này có  hiệu lực thi hành từ ngày 05/01/2016. 2. Xây dựng, phân tích phương án giải quyết: Như  đã trình bày, việc giải quyết đơn khiếu kiện của ông Đa Cát  Ha Mang có một số phương án xử lý sau: ­ Phương án thứ  nhất: Tính thu nhập bình quân của cả  hộ  trong  năm cho 05 người và hướng dẫn cho gia đình ông các thủ  tục để  được   hưởng các chính sách  ưu đãi từ  Nhà nước đối với người già yếu, người   mất sức lao động như cha mẹ vợ của ông hoặc chính sách ưu đãi của Nhà   nước đối với hộ cận nghèo trong trường hợp hộ ông Mang được xem xét  công nhận là hộ cận nghèo năm 2018. * Ưu điểm của phương án: Nếu tính thu nhập cho 05 người thì đương nhiên gia đình ông Đa Cát  Ha Mang không thuộc hộ  nghèo. Giải quyết theo hướng này thì rạch ròi,   đúng nguyên tắc và đảm bảo các yếu tố pháp lý, thuận lợi cho cán bộ bình  xét hộ  nghèo, tôn trọng kết quả  biểu quyết của thôn và kết quả  bình xét  của Ban chỉ  đạo xóa đói giảm nghèo xã Đạ  M’Rông, huyện Đam Rông.  Qua cách tính lấy tổng thu nhập của gia đình chia cho 05 người của Ban  12
  13. chỉ đạo xóa đói giảm nghèo xã Đạ M’Rông đã phản ánh phương pháp làm  việc khoa học, đúng nguyên tắc. * Hạn chế của phương án: Nếu thực hiện theo phương án này, gia đình ông Đa Cát Ha Mang  sẽ  không thuộc hộ nghèo và sẽ không được hưởng các chế độ chính sách đối   với hộ  nghèo, điều này đúng với nguyên tắc và kỷ  cương của pháp luật.   Trong thực tế, gia đình ông Đa Cát Ha Mang   tuy không thuộc hộ  nghèo  nhưng thuộc nhóm hộ cận nghèo (Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức   thu   nhập   bình   quân   từ   700.000   nghìn   đồng   đến   1.000.000   đồng/người/tháng), như vậy gia đình ông không có điều kiện tiếp cận đầy  đủ sự hỗ trợ của Nhà nước để giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, vươn   lên thoát nghèo, về  mặt tình thì vẫn có gì đó không hợp tình vì thực tế  hoàn cảnh gia đình ông còn gặp nhiều khó khăn sinh sống  ở  vùng sâu,   vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế ­ xã hội xuất phát điểm thấp. ­ Phương án thứ  hai:  tính thu nhập bình quân của hộ  trong năm  chia cho 07 người. * Ưu điểm của phương án Nếu tính thu nhập cho 07 người thì gia đình ông Đa Cát Ha Mang sẽ  thuộc hộ nghèo và gia đình ông sẽ được tiếp cận đầy đủ  với mọi chế độ  chính sách hỗ trợ đối với người nghèo, như vậy chắc chắn không còn đơn  khiếu kiện. * Hạn chế của phương án Nếu giải quyết theo phương án này chắc chắn sẽ  có sự  so sánh,  phân bì hộ  này được hộ  kia không được thậm chí sẽ  có phản  ứng từ  các   hộ khác, nhất là những ưu đãi cho hộ ông Mang, từ đó dẫn đến sự không   đồng   thuận   của   nhân   dân,   gặp   khó   khăn   trong   công   tác   xóa   đói   giảm   nghèo; nhân dân thiếu tin tưởng vào công cuộc đổi mới, chủ trương, chính  sách của Đảng và Nhà nước; văn bản Nhà nước không được thực hiện  nghiêm túc. ­ Phương an th ́ ư ba: ́ 13
  14. Tổ chức điều tra, rà soát, bình xét lại từ đầu đối với ông Đa Cát Ha   Mang và các hộ khác trong thôn. * Ưu điểm của phương án: Hộ  ông Đa Cát Ha Mang là hộ  cận nghèo, giao nhau mức khoảng   300.000đ so với hộ nghèo (theo quy định) nên việc bình xét hộ nghèo được   triển khai làm lại thì hộ gia đình ông Mang sẽ là hộ nghèo, cùng với thêm  một số hộ nữa trong xã Đạ M’Rông, vì thời điểm bình xét mới giá lúa, giá  bán con bò hạ xuống mức thấp nhất vậy nên tính tổng thu của các hộ cận   nghèo sẽ là hộ nghèo.   Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với UBND xã  Đạ  M’Rông tổ  chức điều tra, rà soát, bình xét lại từ  đầu đối với hộ  ông  Đa Cát Ha Mang và các hộ khác trong thôn thì sẽ đảm bảo được tính công  khai, minh bạch, dân chủ  và có sự  tham gia của người dân; đảm bảo lợi   ích của nhân dân trong thời điểm hiện tại. Kết quả  giảm nghèo của thôn  sau rà soát lại sẽ phản ảnh đúng thực chất. * Hạn chế của phương án: Với phương án này thì trước hết là hộ  nghèo trong xã Đạ  M’Rông  có thể  tăng lên hoặc giảm xuống, gây khó khăn trong việc quản lý và hỗ  trợ. Điều này sẽ  dẫn đến phản  ứng của một số  cán bộ  trong Ban chỉ  đạo giảm nghèo xã Đạ  M’Rông; gây tốn kém rất nhiều thời gian của   nhiều người và tốn kém về kinh phí, và có thể là sự sai phạm của một số  cán bộ  làm công tác xóa đói giảm nghèo, từ  đây tính chất phức tạp của  việc bình xét hộ  nghèo hàng năm chuyển qua chiều hướng khác, với sự  kiện tụng của các hộ dân tăng lên vì không tin tưởng vào cán bộ làm công   tác xóa đói giảm nghèo. 3. Lựa chọn phương án để giải quyết Qua 3 phướng án trên, xét ưu điểm cũng như hạn chế, để thực hiện   đúng chủ  trương chính sách của Nhà nước,   pháp luật được thực hiện  14
  15. nghiêm minh; đảm bảo khách quan, công bằng trong bình xét hộ  nghèo  năm 2018 và những năm tiếp theo, việc giải quyết đơn khiếu kiện của  ông Đa Cát Ha Mang  cần thiết phải chọn phương án 1 là cách tính thu  nhập cho 05 người,   đồng thời phải tiến hành giải thích, phân tích về  nguyên tắc tính thu nhập bình quân cho 05 người một cách tường tận, cặn  kẽ  cho các thành viên và đặc biệt là cách tính thu nhập của cha mẹ  vợ  được thụ  hưởng chế  độ  bảo trợ xã hội, thẻ  BHYT và các chế  độ  ưu đãi  khác liên quan, đối với người già yếu, người mất sức lao động. V. LẬP KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN  Bước 1.  Chuẩn bị  các văn bản để  phục vụ  cho tổ chức thực hiện   phương án Trước khi tổ  chức hội nghị để  giải quyết đơn khiếu kiện của ông  Đa Cát Ha Mang cần chuẩn bị các văn bản sau đây: + Thông tư  số  17/2016/TT­BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ  Lao  độmg Thương binh và xã hội về hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ  cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai  đoạn 2016 – 2020. + Quyết định số  59/2015/QĐ­TTg ngày 19/11/2015 của Thủ  tướng   chính phủ ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn   2016­2020. + Biên bản họp xét hộ nghèo của thôn Đa Xế và xã Đạ M’Rông. + Phiếu rà soát hộ nghèo hàng năm (phụ lục số 3 của thông tư 17). Bước 2.  Tổ chức lực lượng thực hiện. + Thành phần tham gia giải quyết đơn khiếu kiện của ông Đa Cát  Ha Mang gồm: . Đồng chí Trưởng phòng Lao động thương binh và xã hội huyện. . Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo của xã Đạ M’Rông (những người   trực tiếp làm công tác bình xét hộ nghèo) gồm: Đại diện Đảng ủy, Ủy ban  15
  16. nhân dân, trưởng các đoàn thể xã hội của xã, trưởng thôn và mời già làng   hoặc những người có uy tín tại thôn cùng tham gia. . Đại diện gia đình ông Mang, tốt nhất là người viết đơn. Bước 3. Trình tự tổ chức hội nghị + Tổ chức hội nghị gồm đầy đủ những thành phần đã nêu ở trên. . Chủ trì là đồng chí Trưởng phòng Lao động thương binh và xã hội  huyện theo sự phân công của Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo của huyện. . Tuyên bố lý do, mục đích hội nghị. . Thông qua phiếu khảo sát và xếp loại của Ban chỉ đạo bình xét hộ  nghèo đối với gia đình ông Đa Cát Ha Mang. . Đại diện gia đình ông Đa Cát Ha Mang có ý kiến về kết quả khảo   sát thu nhập và kết luận không thuộc hộ nghèo, các biên bản họp xét của  thôn, xã. . Các thành viên tham dự  cho ý kiến tập trung vào việc phân tích,   giải thích, làm rõ các nội dung khiếu nại của gia đình ông Đa Cát Ha Mang  để  đi đến thống nhất phương  án đã lựa chọn là tính thu nhập cho 05  người và gia đình ông Mang không thuộc hộ nghèo năm 2018. Thời gian diễn ra hội nghị phải hết sức chú ý sử dụng phương pháp  đối thoại và gặp mặt trực tiếp. Tránh áp đặt vần đề từ phía cơ quan được   giao trách nhiệm giải quyết đơn khiếu kiện, không khí hội nghị  phải cởi  mở, thoải mái, gần gũi, không căng thẳng. Từng vấn đề  đặt ra để  phân  tích từ đó đi đến kết luận cần có sự thống nhất của 2 bên. Thái độ  góp ý   của người có trách nhiệm phải tôn trọng, nhẹ  nhàng, góp ý đúng trọng  tâm, phân tích lý lẽ phải đảm bảo tính thuyết phục, dễ hiểu, thấu tình đạt  lý. Kỹ năng điều hành của người điều hành phải khoa học, ứng xử nhanh   nhẹn, không cứng nhắc. Bước 4. Nội dung gợi ý tập trung phân tích. Hội nghị sẽ tập trung vào 3 nội dung chính: 16
  17. + Tính tổng thu nhập của gia đình và thu nhập bình quân người   trong năm, tính cho 05 người. + Giải thích về  chủ  trương, chính sách đối với người nghèo, nghĩa  vụ  của gia đình và công dân trong chấp hành chủ  trương, chính sách của   Đảng và Nhà nước. + Có thể  nêu một số  trường hợp tương tự  như  hoàn cảnh của gia  đình ông Mang nhưng đã được giải quyết xong và họ  đã chấp thuận để  khơi dậy ý thức chấp thuận quy định của Nhà nước. Bước 5. Gợi ý các thành viên tham dự  hội nghị  phát biểu tập   trung vào các nội dung cụ thể: + Đại diện của Đảng  ủy,  Ủy ban nhân dân cần tập trung phân tích  lý do, nguyên tắc tính thu nhập của 05 người. + Đại diện của các tập thể  tập trung vào việc phân tích, giải thích  vấn đề  lợi ích khi được xếp vào hộ  nghèo hoặc không được xếp vào hộ  nghèo, đồng thời nêu bật được trách nhiệm của công dân trong việc chấp  hành   chủ   trương,   chính   sách   pháp   luật   của   Đảng   và   Nhà   nước.   Nếu  trường hợp gia  đình  ông Đa Cát Ha Mang  không chấp nhận thì già làng  hoặc người có uy tín trong thôn có ý kiến tác động thêm. Mục đích cuối cùng cần đạt được là qua phân tích gia đình ông Đa  Cát Ha Mang chấp thuận cách tính và xếp loại không thuộc hộ  nghèo và  chấp thuận một cách vui vẻ, không vướng mắc, thoải mái và không tiếp  tục khiếu kiện nữa. Việc ghi biên bản, ký biên bản làm việc phải có sự tham gia của đại   diện gia đình và các thành viên tham dự, đồng thời chuẩn bị  báo cáo kết  quả  giải quyết  đơn khiếu kiện cho Chủ  tịch  Ủy ban nhân dân huyện,   thanh tra huyện theo thời gian yêu cầu. PHẦN III: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN I. KIẾN NGHỊ 17
  18. Qua quá trình giải quyết sự  việc trên để  đảm bảo giải quyết thấu  tình đạt lý. Để  thời gian sắp đến, công tác bình xét hộ  được tiến hành  chính xác, công khai, dân chủ  không để  xảy ra tình trạng khiếu kiện, tôi  xin mạnh dạn kiến nghị một số vấn đề như sau: 1.   Ngoài các văn bản của Trung  ương, của Bộ  Lao động thương   binh và xã hội cần các văn bản hướng dẫn chi tiết. Những vấn đề mà văn  bản không thể  quy định chi tiết được cần có sự  thống nhất chung trong   các lớp tập huấn để phục vụ cho công tác bình xét hộ nghèo ở cơ sở một   cách thuận lợi và chính xác. 2.   Đối với đội ngũ cán bộ  làm công tác bình xét nghèo cần phải  nâng cao ý thức trách nhiệm phục vụ  nhân dân, không ngừng nâng cao   trình độ chuyên môn, có sự đầu tư, nghiên cứu kỹ các văn bản hướng dẫn   thực hiện một cách linh hoạt, chính xác phù hợp với điều kiện tại địa  phương của mình, giải thích cặn kẽ ngay từ đầu năm những vấn đề  nhân   dân hay vướng mắc để hạn chế tình trạng khiếu kiện nhất là khiếu kiện   vượt cấp và khiếu kiện tập thể. 3.  Đối với Ban công tác Mặt trận và các chi bộ, đoàn thể ở thôn cần  đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân để  nhân dân hiểu rõ   chủ  trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời gương mẫu  chấp hành chủ trương, chính sách pháp luật. Biện pháp tuyên truyền phải  thiết thực, trực quan để  đạt hiệu quả, làm được điều nay sau khi ban chỉ  đạo bình xét hộ  nghèo, giải quyết xong đơn khiếu kiện tại xã (nếu có)   chắc chắn sẽ không có đơn thư khiếu kiện lên cấp cao hơn. 4. Thực tế qua công tác bình xét hàng năm vẫn có tình trạng một số  xã giao việc bình xét cho đồng chí Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, cán bộ  Lao động thương binh xã hội và các đoàn thể  thực hiện. Tình trạng này  nhanh chóng cần khắc phục. Các cấp  ủy Đảng, chính quyền cơ  sở  cần  xác định rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bình xét hộ  nghèo, nhận   thức được tính phức tạp và coi đó là nhiệm vụ  của hệ  thống chính trị  cơ  sở, tổ  chức chỉ  đạo bình xét khoa học, chặt chẽ  và chính xác giải quyết   phát sinh một cách kịp thời. 18
  19. II. KẾT LUẬN Như  đã đặt vấn đề  ngay từ  đầu, công tác bình xét hộ  nghèo hàng   năm nếu được thực hiện chính xác, dân chủ, công khai và khách quan thì   mới chọn được đúng hộ nghèo để có những đầu tư, hỗ trợ từ nguồn ngân   sách hỗ  trợ  của nhà nước. Văn bản của nhà nước phải được thực hiện  nghiêm minh, kỷ  cương pháp chế  xã hội chủ  nghĩa được tăng cường. Sự  đồng thuận, tin tưởng của nhân dân vào chủ trương, chính sách được củng  cố; Việc giải quyết đơn khiếu kiện của ông Đa Cát Ha Mang trước hết  nhằm mục đích phục vụ  cho việc bình xét hộ  nghèo tại thôn Đa Xế  nói  riêng, xã Đạ M’Rông, huyện Đam Rông nói chung đảm bảo tính chính xác,  công bằng, tăng cường pháp chế  xã hội chủ  nghĩa, đảm bảo chủ  trương,   chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống. Công tác  bình xét hộ  nghèo là một trong những nội dung quản lý nhà nước đang  được sự  quan tâm của nhân dân vì nó liên quan đến quyền và lợi ích của   nhân dân trước hết là những hộ gia đình nghèo. Do đó công tác quản lý nhà   nước đối với xã hội nói chung và đối với công tác xóa đói giảm nghèo cần   được tăng cường. Việc giải quyết đơn khiếu kiện của ông Đa Cát Ha Mang, mà tôi đã  trình bày trong nội dung của tiểu luận có thể  còn có các biện pháp giải  quyết khác song để  đảm bảo tính nghiêm minh và công bằng, chính xác.  Do đó tôi đã lựa chọn phương pháp đã trình bày trong nội dung theo tôi đây  là sự lựa chọn đúng và hy vọng rằng qua cách xử lý tình huống sẽ trang bị  cho tôi thêm những bài học quý báu, đúc kết thêm kinh nghiệm trong quá  trình công tác của bản thân. Mục tiêu cần đạt được là khách quan, công   bằng và chính xác, kỷ cương được tăng cường, pháp chế xã hội chủ nghĩa  được củng cố. 19
  20. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nghị định 13/2010/NĐ­CP ngày 27/2/2010 của Chính phủ “về sữa   đổi, bổ  sung một số  điểm của Nghị  định 67/2007/NĐ­CP ngày 13/4/2007  của chính phủ trợ cấp các đối tượng bảo trợ xã hội”. 2. Thông tư  số  17/2016/TT­BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của Bộ  Lao  độmg Thương binh và xã hội về hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo, hộ  cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai  đoạn 2016 – 2020. 3. Quyết định số  59/2015/QĐ­TTg ngày 19/11/2015 của Thủ  tướng  Chính phủ ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn  2016­2020. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản