intTypePromotion=1
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 143
            [banner_name] => KM - Normal
            [banner_picture] => 316_1568104393.jpg
            [banner_picture2] => 413_1568104393.jpg
            [banner_picture3] => 967_1568104393.jpg
            [banner_picture4] => 918_1568188289.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 6
            [banner_link] => https://alada.vn/uu-dai/nhom-khoa-hoc-toi-thanh-cong-sao-ban-lai-khong-the.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 14:51:45
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Tiểu luận Kỹ năng thương lượng đàm phán: Các yếu tố ảnh hưởng đến đàm phán

Chia sẻ: Lê Thị Kim Ngân | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:21

0
594
lượt xem
65
download

Tiểu luận Kỹ năng thương lượng đàm phán: Các yếu tố ảnh hưởng đến đàm phán

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận Kỹ năng thương lượng đàm phán với đề tài "Các yếu tố ảnh hưởng đến đàm phán" trình bày các nội dung sau: khái niệm, đặc điểm và các nguyên tắc đàm phán, quá trình đàm phán, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đàm phán, bí quyết để đàm phán thành công.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Kỹ năng thương lượng đàm phán: Các yếu tố ảnh hưởng đến đàm phán

  1. ÑAÏI HOÏC VOÕ TRÖÔØNG TOAÛN KHOA KINH TEÁ Baøi tieåu luaän: NHÓM TĐN MOÂN KYÕ NAÊNG THÖÔNG LÖÔÏNG  ÑAØM PHAÙN CAÙC YEÁU TOÁ  AÛNH HÖÔÛNG ÑEÁN  ÑAØM PHAÙN
  2. Mục Lục
  3. Nhóm TĐN Tên Thành Viên Tên MSSV Lê Thị Kim Ngân 1254020016 Nguyễn Thành Đạt 111c030074 Ngô Suối Trên Huỳnh Minh Hiển Trần Quốc Khải 111c030148 Nguyễn Phước Hạnh 111C030208 ­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­ Tài liệu tham khảo: ­ Giáo trình: Th.s Nguyễn Thanh Liêm ­ Từ internet:  http://www.vieclamthem.com/ky­nang­thuong­luong/39­dam­phan­yeu­ to­quan­trong­de­thanh­cong­trong­kinh­doanh.html http://tailieu.vn/doc/dam­phan­thuong­luong­trong­kinh­doanh­ 25309.html ­ Và từ nhiều nguồn tài liệu khác.
  4. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN I.  Khái  niệm:  Đàm phán là một hoạt động cơ bản của con người. Trong cuộc sống hàng ngày,  đàm phán hiện diện ở mọi lúc, mọi nơi. Con người luôn tiến hành đàm phán  ngay cả khi họ không biết chính mình đang làm điều đó. Vậy đàm phán là gì?  Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về đàm phán. Vì đàm phán diễn ra trong mọi  lĩnh vực của cuộc sống, mà trong mỗi lĩnh vực lại có những định nghĩa khác  nhau. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số khái niệm phổ biến về đàm  phán: Theo Roger Fisher & William Ury (1991):  Đàm phán là phương tiện cơ bản để đạt  được cái mà ta mong muốn từ người khác. Đó là quá trình giao tiếp có đi có lại  được thiết kế nhằm thỏa thuận trong khi giữa ta và bên kia có những quyền lợi  có thể chia sẻ và có những quyền lợi đối kháng.  Theo Francois de Cailere, một nhà đàm phán, thương thuyết nổi tiếng của Pháp  ngay từ năm 1716 đã khẳng định: “Một nhà đàm phán kinh doanh giỏi phải là  người mềm dẻo như ngọn cỏ và cũng phải cứng rắn như một khối đá. Người  đó phải có phản xạ ứng xử nhanh nhậy và phải là người biết lắng nghe, lịch sự  và có thể đem lại cảm giác dễ chịu cho đối tác. Song đồng thời cũng phải biết  tranh luận, thuyết phục bằng cách biết hé lộ, đưa ra những thông tin có vẻ là bí  mật đối với người khác. Nhà đàm phán giỏi còn phải biết tự chế ngự mình để  thông tin có vẻ là bí mật đối với người khác để tránh bị mắc vào chủ định,  thậm chí bẫy của đối tác, tránh buột miệng nói những lời chưa kịp nghĩ và  không bị chi phối bởi định kiến chủ quan. “Đàm phán thông thường tiến hành giữa cá nhân, họ hoặc vì bản thân mình,  hoặc thay mặt đoàn thể có tổ chức, vì thế có thể coi đàm phán là bộ phận cấu  thành của hành vi nhân loại, lịch sử đàm phán của nhân loại cũng lâu dài như  lịch sử văn minh nhân loại”. (The Art of Negotiating – Nghệ thuật đàm phán).  5
  5. Theo Trương Tường (Trung Quốc), thì: “Đàm phán là hành vi và quá trình mà  người ta muốn điều hòa quan hệ giữa hai bên, thỏa mãn nhu cầu của mỗi bên,  thông qua hiệp thương mà đi đến ý kiến thống nhất”. (Nghệ thuật đàm phán  thương vụ quốc tế ­ NXB Trẻ 1996).  Còn theo chúng tôi: “ Đàm phán được hiểu là cuộc đối thoại giữa hai hay nhiều  bên với nhau về yêu cầu và nguyện vọng của mỗi bên đối với bên kia quanh  vấn đề có liên quan đến quyền lợi của tất cả các bên”. Hay hiểu theo cách  khác, “Đàm phán là quá trình hai hay nhiều bên tiến hành bàn bạc, trao đổi để đi  đến thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên”.  Trong vô vàn cuộc đàm phán diễn ra hàng ngày, có những cuộc đàm phán, trong  đó các yêu cầu đặt ra không cao và không cần phải lập kế hoạch trước cho quá  trình và kết quả đàm phán, ví dụ như: các cuộc đàm phán trong gia đình, giữa  những bè bạn thân thích, trong cuộc sống đời thường… Ngược lại, các cuộc  đàm phán trong kinh doanh, yêu cầu cần đạt được rất cao, đòi hỏi phải chuẩn bị  kỹ lưỡng, lập kế hoạch và đàm phán thận trọng hơn. Các đặc trưng cơ bản của  đàm phán Trao đổi thông tin cởi mở giữa các bên. Trong trường hợp này, cả hai  bên đều chân thành bày tỏ các mục tiêu của mình và lắng nghe các mục tiêu của  phía bên kia để tìm ra điểm chung của cả hai bên. Tìm các giải pháp để đạt  được mục tiêu của cả hai bên. Các bên hiểu rằng họ có cả các mục tiêu chung  lẫn các mục tiêu mâu thuẫn nhau và họ phải tìm cách đạt được càng nhiều mục  tiêu chung và có tính bổ sung cho nhau mà cả hai bên đều chấp nhận được thì  càng tốt. Để làm được những việc trên, cả hai bên phải chân thành và thực sự  cố gắng hiểu quan điểm của bên kia. Trong kiểu đàm phán này, các bên phải  tìm ra giải pháp có lợi và chấp nhận được cho cả đôi bên – một giải pháp mà  đôi bên đều thắng (win – win solution). 6
  6. II.  Đặc điểm và các nguyên tắc đàm phán:  Đàm phán có thể ví như một chuyến du lịch đến những miền đất mới, rất nhiều  điều bất ngờ có thể xảy ra. Các cuộc đàm phán có thể diễn ra rất khác nhau,  đơn giản hay phức tạp, căng thẳng hay nhẹ nhàng, dài hay ngắn… điều đó còn  phụ thuộc vào năng lực của người đàm phán, đối tượng đàm phán, “thế” của  các bên, bối cảnh đàm phán… Vì vậy, không thể áp dụng máy móc, rập khuôn  những nguyên tắc, kinh nghiệm của người khác vào cuộc đàm phán của mình.  Nói như vậy, không có nghĩa là đàm phán không có nguyên tắc. Vẫn có những  nguyên tắc cơ bản mà ta cần nắm vững, nếu không sẽ phải trả giá cho sự thiếu  hiểu biết của mình. “If you are going to play the game properly you’d better know the ruler” – “Muốn  chơi đúng điệu, hãy học luật chơi”. (The Essence of negotiation – Jean M.  Hiltrop and Sheila Udall) 1. Đặc điểm: Đàm phán là một khoa học Muốn đàm phán thành công phải xác định rõ mục tiêu  đàm phán một cách khoa học, phải kiên định, khôn ngoan bảo vệ quyền lợi của  mình, đồng thời phải biết ứng phó một cách linh hoạt, sáng tạo trong từng  trường hợp cụ thể: Đàm phán là quá trình bàn bạc, thỏa thuận giữa các bên  nhằm đi đến ý kiến thống nhất; nên đàm phán là quá trình các bên đưa ra yêu  cầu, chấp nhận nhượng bộ, để nếu thành công thì sẽ ký hợp đồng, đạt được lợi  ích cho cả hai bên, chứ không phải quá trình mỗi bên khăng khăng bảo vệ lợi ích  của riêng mình. Nếu đàm phán là quan hệ điều hòa lợi ích giữa người với người,  thì thỏa mãn nhu cầu mỗi bên là một hành vi và quá trình để đạt tới cộng đồng ý  kiến. Vì vậy, người ta cần suy nghĩ, cân nhắc những gì có liên quan đến lợi ích  của đôi bên, phải tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách có hệ  thống, khách quan và toàn diện, dựa trên các quy luật, quy tắc nhất định, trên cơ  sở để xây dựng chiến lược và chiến thuật đàm phán. Đó chính là khoa học của  đàm phán.  Đàm phán là một nghệ thuật Bên cạnh tính khoa học, đàm phán còn là một nghệ  thuật, đòi hỏi người đàm phán phải tinh tế, nhanh nhạy, mềm dẻo, linh hoạt,  biết “tùy cơ mà ứng phó”, thì mới có thể đạt được thành công mỹ mãn.  7
  7. Đàm phán là quá trình thỏa hiệp về mặt lợi ích và thống nhất giữa các mặt đối  lập Đàm phán thành công – ký hợp đồng, tức vừa giữ được mối quan hệ, vừa  đảm bảo lợi ích của các bên, nên đàm phán là quá trình thống nhất giữa hai mặt  mâu thuẫn “hợp tác” và “xung đột”. Trong đàm phán phải tránh khuynh hướng:  đàm phán theo kiểu quá “Mềm”, chỉ chú trọng gìn giữ mối quan hệ giữa hai bên,  mà không quan tâm bảo vệ lập trường của mình, kết cục bị đối phương dồn ép,  phải đi từ nhượng bộ này tới nhượng bộ khác, cuối cùng tuy ký được hớp đồng,  nhưng phải gánh chịu mọi thiệt thòi. Ngược lại, cũng phải tránh khuynh hướng  đàm phán theo kiểu quá “Cứng”, khăng khăng bảo vệ lập trường làm cho đàm  phán tan vỡ, không ký được hợp đồng, hoặc ký được hợp đồng nhưng đối  phương bị ép quá không thực hiện nổi. “Đàm phán không chỉ là một ván cờ,  không nên yêu cầu quyết đấu một trận thắng thua, đàm phán cũng không phải là  một trận đánh, phải tiêu diệt hoặc đặt đối phương vào đất chết, mà đàm phán là  một sự nghiệp hợp tác đôi bên cùng có lợi”. Gerald I.Nierenberg. Vì vậy, người  đàm phán cần bảo vệ lợi ích của phía mình, trong phạm vi đã được xác định có  thể tìm được lợi ích càng nhiều càng tốt, mặt khác bất cứ người đàm phán nào  cũng phải thỏa mãn nhu cầu thấp nhất của đối phương. Nếu không làm được  điều đó, thì cuộc đàm phán sẽ bị tan vỡ. 2. Nguyên tắc đàm phán: • Đàm phán là một hoạt động tự nguyện giữa đôi bên nên hoạt động này có thể  bị phá vỡ hoặc từ chối bởi hai phía. • Ít nhất một bên muốn thay đổi tình hình hiện tại và tin rằng có thể đạt được  thỏa thuận làm hài lòng tất cả thì cuộc đàm phán thuyết phục bên còn lại sẽ  được bắt đầu • Mục đích của đàm phán là thỏa thuận. • Không phải mọi cuộc đàm phán đều kết thúc bằng thỏa thuận. • Đôi khi không đạt được thỏa thuận thì lại là điều tốt. • Thời gian là một trong những yếu tố quyết định trong đàm phán. Thời gian có  ảnh hưởng to lớn đến tình hình đàm phán và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả  cuối cùng của đàm phán. 8
  8. • Không để cuộc đàm phán bị phá vỡ hoàn toàn. •  Kết quả mỹ mãn là cải thiện được tình hình hiện tại của cả 2 bên. • Tiến trình của tất cả các loại đàm phán đều bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nhân  cách, kỹ năng, tri thức, thái độ và cảm xúc của những người trong bàn đàm  phán. Từ những nguyên tắc nêu trên chúng ta có thể rút ra các kết luận sau:  ­ Đàm phán không phải là “một trận võ mồm” (a verbal tug of war).  ­ Để đàm phán thành công đòi hỏi người đàm phán phải biết xác định đúng mục  tiêu, giỏi thỏa hiệp, biết thuyết phục đối tác, tạo thế cạnh tranh công bằng,  công khai, chính trực để cùng mở rộng lợi ích tổng thể. ­ Không phải mọi tình huống đều có thể dùng đàm phán để giải quyết thành  công.  Những sai lầm thường mắc phải trong đàm phán Các nhà đàm phán, ngay cả  những người lão luyện nhất, cũng khó tránh khỏi mọi sai lầm. Và một khi đã  mắc sai lầm thì ít có khả năng đạt được kết quả một cách mỹ mãn. Chính vì  vậy, chúng ta cần nghiên cứu kinh nghiệm của những người đi trước để giảm  thiểu những sai lầm đó.  Từ những kinh nghiệm của mình, nhà đàm phán John Illich (1992) cho rằng:  Những sai lầm thường gặp trong đàm phán là:  ­ Ngồi vào bàn đàm phán với một cái đầu đầy những định kiến.  ­ Không xác định được người có quyền quyết định cuối cùng của phía đối tác.  ­ Không xác định được chính xác thế mạnh của mình là gì và không thể sử dụng  thế mạnh đó một cách có hiệu quả.  ­ Ngồi vào bàn đàm phán chỉ với một phương án duy nhất mà không có phương  án thay thế, nên thường rơi vào thế bị động.  ­ Không biết cách nâng cao vị thế của mình.  ­ Không kiểm soát được những yếu tố quan trọng như: thời gian, những vấn đề  cần giải quyết… mà để đối tác kéo đi theo ý muốn của họ.  9
  9. ­ Để vuột khỏi tay quyền ra yêu cầu trước. ­ Không tận dụng được ưu thế về  thời gian và địa điểm trong đàm phán.  ­ Vội bỏ cuộc khi cuộc đàm phán có vẻ như đi vào chỗ bế tắc.  ­ Không chọn được thời điểm hợp lý để kết thúc cuộc đàm phán.  III.  Quá trình đàm phán:  Thành công hay thất bại trong các cuộc đàm phán của nhà quản lý có ảnh  hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Đàm phán thành công  với khách hàng sẽ đem lại doanh thu và lợi nhuận nhiều hơn. Đàm phán thành công với nhà cung ứng có thể giúp doanh nghiệp giảm các  khoản chi phí kinh doanh và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đàm phán thành  công với đối tác có thể mở ra cho doanh nghiệp những cơ hội mới… Quan  trọng hơn cả, đàm phán thành công giúp doanh nghiệp xây dựng, duy trì và củng  cố những mối quan hệ hợp tác lâu dài. Ngược lại, sai lầm trong các cuộc đàm  phán có thể khiến doanh nghiệp chịu thiệt thòi, mất mát, thậm chí phá sản. Đàm phán là sự tổng hợp các phương thức mà chúng ta sử dụng để truyền đạt  thông tin về điều mình mong muốn, ước nguyện và trông đợi từ người khác –  cũng như là cách để chúng ta nhận thông tin về những mong muốn ước nguyện  và trông đợi từ người khác dành cho mình. Quá trình đàm phán trong kinh doanh quốc tế được chia làm ba giai đoạn khác  nhau. Mỗi giai đoạn của quá trình đàm phán liên quan đến một phần cụ thể của  quá trình và bao gồm toàn cách làm việc và tiếp xúc của bất kì bên nào có tham  gia đàm phán và thực hiện trong giai đoạn đó. Các bên tiếp xúc với nhau để trao  đổi thông tin trong mỗi giai đoạn. Mỗi giai đoạn cụ thể sẽ kết thúc khi các bên  quyết định chuyển sang giai đoạn kế tiếp hoặc quyết định từ bỏ đàm phán nếu  họ thấy việc tiếp tục đàm phán không có ý nghĩa gì nữa. Sau đây là các giai  đoạn đàm phán:: • Giai đoạn tiền đàm phán:   Chuẩn bị ̉ ̣  Thao luân 10
  10. • Giai đoạn đàm phán:  Làm rõ mục tiêu  Đàm phán hướng tới cùng có lợi • Giai đoạn hậu đàm phán:   Thỏa thuận  Thực hiện một quá trình hành động 1. Giai đoạn tiền đàm phán  Chuẩn bị Trước khi đàm phán diễn ra, quyêt đinh vê th́ ̣ ̀ ời gian, đia điêm tô ch ̣ ̉ ̉ ưc cuôc hop  ́ ̣ ̣ ̀ ược đưa ra đê  thao luân vê cac vân đê va ng cân đ ̉ ̉ ̣ ̀ ́ ́ ̀ ̀ ười tham dự. Thiêt lâp môt gí ̣ ̣ ới  ̣ han th ơi gian cung se giup ich đê tranh s ̀ ̃ ̃ ́ ́ ̉ ́ ự bât đông gia tăng. B ́ ̀ ước nay liên quan  ̀ tơi viêc đam bao năm băt th ́ ̣ ̉ ̉ ́ ́ ực tê.  Th ́ ực hiên viêc chuân bi tr ̣ ̣ ̉ ̣ ước khi thao luân  ̉ ̣ nhưng bât đông se giup tranh nh ̃ ́ ̀ ̃ ́ ́ ưng căng thăng gia tăng va lang phi th ̃ ̉ ̀ ̃ ́ ời gian  không cân thiêt trong suôt cuôc hop ̀ ́ ́ ̣ ̣  Thao luân ̉ ̣ Trong giai đoạn này, cá nhân hoăc thanh viên cua môi bên se đ ̣ ̀ ̉ ̃ ̃ ưa ra quan điêm.  ̉ ̃ ̣ ́ ̀ ̀ ̀ ̣ ̉ ́ Ky năng quan trong trong qua trinh na la đăt câu hoi, lăng nghe va lam ro. Co  ̀ ̀ ̃ ́ nhưng luc cân thiêt đê ghi chep lai tât ca cac điêm đ ̃ ́ ̀ ́ ̉ ́ ̣ ́ ̉ ́ ̉ ược đưa ra trong từng tinh  ̀ ́ ́ ̀ ̀ ̃ ̀ ơn. Lăng nghe la c huông khi co nhu câu lam ro rang h ́ ̀ ực ki quan trong, khi s ̀ ̣ ự bât  ́ ̀ ̉ đông xay ra, rât dê măc sai lâm khi noi qua nhiêu va nghe qua it. Môi bên tham gia  ́ ̃ ́ ̀ ́ ́ ̀ ̀ ́́ ̃ ́ ơ hôi trinh bay ngang nhau.   nên co c ̣ ̀ ̀ 2. Giai đoạn đàm phán:  Lam ro muc tiêu ̀ ̃ ̣ Tư cac cuôc thao luân, muc tiêu, l ̀ ́ ̣ ̉ ̣ ̣ ợi ich va quan điêm cua ca hai bên cân đ ́ ̀ ̉ ̉ ̉ ̀ ược lam ̀   ́ ̉ ro. Cân thiêt đê lên danh sach th ̃ ̀ ́ ư t ́ ự ưu tiên. Thông qua muc tiêu ro rang, co thê  ̣ ̃ ̀ ́ ̉ ́ ̣ ̀ ́ ̣ ̣ xac đinh va thiêt lâp muc tiêu chung. 11
  11.  Thương lượng hương t ́ ơi kêt qua win­win ́ ́ ̉ ̣ ̀ ̣ ̀ ́ ̉ ̀ ̉ ̉ Giai đoan nay tâp trung vao kêt qua win­win ma ca hai bên cam thây hai long vê  ́ ̀ ̀ ̀ ̣ ́ ̀ ̉ ̉ ̉ ̉ ̀ ược xem xet. Môt kêt qua  cuôc đam phan va cam thây quan điêm cua ca hai đêu đ ̀ ́ ́ ̣ ́ ̉ win­win thương la kêt qua tôt nhât, tuy no không phai luôn luôn nh ̀ ̀ ́ ̉ ́ ́ ́ ̉ ư vây, nh ̣ ưng  ̀ ́ ́ ̀ ̣ thông qua đam phan, no la muc tiêu cuôi cung.  ́ ̀ Đề xuất các chiến lược và thỏa hiêp thay thê cân đ ̣ ́ ̀ ược cân nhăc ́ ở thời điêm nay. ̉ ̀   ̉ ̣ Thoa hiêp thương la ph ̀ ̀ ương phap thay thê tich c ́ ́ ́ ực co thê thu đ ́ ̉ ược lợi ich l ́ ớn  hơn. 3. Giai đoạn hậu đàm phán  Thỏa thuận Thỏa thuận có thể đat đ ̣ ược môt khi quan điêm va l ̣ ̉ ̀ ợi ich cua ca hai bên đêu đ ́ ̉ ̉ ̀ ược  ́ ̉ ữ môt suy nghi c xem xet. Cân thiêt đê gi ́ ̀ ̣ ̃ ởi mở trong viêc co đ ̣ ́ ược giai phap. Bât  ̉ ́ ́ cư thoa thuân nao cung phai đ ́ ̉ ̣ ̀ ̃ ̉ ược lam môt cach hoan hao, ro rang đê ca hai bên  ̀ ̣ ́ ̀ ̉ ̃ ̀ ̉ ̉ ́ ững gi đ năm băt nh ́ ̀ ược quyêt đinh.  ́ ̣  Thực hiên qua trinh hanh đông ̣ ́ ̀ ̀ ̣ Tư thoa thuân, môt hanh đông se đ ̀ ̉ ̣ ̣ ̀ ̣ ̃ ược thực hiên, tiên hanh thông qua quyêt đinh. ̣ ́ ̀ ́ ̣ ́ ̀ ́ ́ ́ ̀ ̀ ́ ́ ̣ ̀ ̉ ̣ Nêu không đông y: Nêu qua trinh đam phan thât bai va thoa thuân không thê đat ̉ ̣ được, cân lên kê hoach lai cho môt cuôc hop tiêp theo. Điêu nay tranh tât ca cac  ̀ ́ ̣ ̣ ̣ ̣ ̣ ́ ̀ ̀ ́ ́ ̉ ́ bên trở nên bi kich đông, tranh luân, không chi lang phi th ̣ ́ ̣ ̣ ̉ ̃ ́ ơi gian ma con anh  ̀ ̀ ̀ ̉ hưởng xâu t́ ới môi quan hê công viêc trong t ́ ̣ ̣ ương lai.  Tại cuộc họp tiếp theo, cac giai đoan đam phan nên đ ́ ̣ ̀ ́ ược lăp lai. Bât ki y t ̣ ̣ ́ ̀ ́ ưởng  ̣ ợi ich m hoăc l ́ ới nên được đưa ra thao luân va xem xet lai lân n ̉ ̣ ̀ ́ ̣ ̀ ưa.  ̃ Ở giai đoan  ̣ ̣ ̀ nay, viêc tim kiêm nh ̀ ́ ững giai phap thay thê khac hoăc co ng ̉ ́ ́ ́ ̣ ́ ười trung gian co thê  ́ ̉ ́ ưu ich. co h ̃ ́ 12
  12. IV.  Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đàm phán:  Có ba nhóm yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới đàm phán trong kinh doanh quốc tế,  đó là: Các yếu tố cơ sở, Bầu không khí đàm phán, Quá trình đàm phán. Vì đàm  phán vốn là quá trình động, nên bất cứ sự cảm nhận nào của các bên về bối  cảnh và không khí đàm phán, hay bất kì sự triển khai cụ thể nào trong quá trình  đàm phán cũng sẽ tác động đến kết quả đàm phán 1. Các yếu tố cơ sở:   Các mục tiêu: Mục tiêu là điều mà các bên mong muốn đạt được vào giai  đoạn cuối của đàm phán. Chúng thường được phân loại thành các mục  tiêu chung, các mục tiêu mâu thuẫn và các mục tiêu bổ trợ. Ví dụ: Các  bên có quyền lợi chung trong việc đạt được một giao dịch thành công  như cả hai bên đều mong muốn, cùng lúc quyền lợi của họ có thể lại  mâu thuẫn vì lợi nhuận của một bên lại là chi phí cho bên kia. Về các  quyền lợi bổ trợ thì người mua trong các giao dịch quốc tế quan tâm tới  việc có được công nghệ thích hợp để xây dựng cơ sở hạ tầng. Mặt khác,  người bán lại muốn thâm nhập thị trường cụ thể và kì vọng vào công  việc kinh doanh trong tương lai tại thị trường đó và ở các nước lân cận.  Các mục tiêu chung và mục tiêu bổ trợ tác động trực tiếp và tích cực tới  quá trình đàm phán, trong khi các mục tiêu mâu thuẫn có tác động tiêu  cực. Các tác động đó tới lượt mình lại ảnh hưởng tới bầu không khí và  kết quả đàm phán. Cơ hội cho một thỏa thuận sẽ giảm đi khi các mục  tiêu mâu thuẫn chiếm ưu thế trong quan hệ giữa các bên và sẽ tăng lên  khi các mục tiêu chung và bổ trợ chiếm ưu thế  Ví dụ: Khi A và B có cùng mục tiêu chung và mục tiêu bổ trợ nhau thì tỷ  lệ thành công trong đàm phán cao, còn mục tiêu mâu thuẫn nhau có thể  khiến cho đàm phán thất bại.  Môi trường: Môi trường Bao gồm các yếu tố chính trị, xã hội và cấu trúc  hạ tầng xã hội có liên quan đến cả hai bên đối tác. Trong đàm phán quốc  tế, sự khác biệt về môi trường giữa các bên luôn cản trở quá trình đàm  phán. Các bên sẽ khó tiếp xúc với nhau khi không quen biết và có nền  tảng văn hóa, chính trị… khác nhau. Một số đặc điểm của môi trường có  ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đàm phán, trong khi một số đặc điểm  13
  13. khác lại tác động trực tiếp đến không khí đàm phán. Các yếu tố chính trị,  xã hội tác động đến quá trình đàm phán, còn cấu trúc thị trường tác động  đến bầu không khí đàm phán.  Ví dụ: Phong tục, tạp quán, văn hóa,…mỗi nơi có thể ảnh hưởng đến  cuộc đàm phán. Ông bà ta có câu: “Ăn theo thưở ở theo thì” hay “Ăn có  nồi, ngồi có hướng”  Vị thế của các bên trên thị trường: Là một nhân tố quan trọng có ảnh  hưởng tới quá trình đàm phán. Số lượng người mua và người bán trên thị  trường sẽ xác định số phương án lựa chọn có được cho mỗi bên, và tới  lượt nó, số phương án lựa chọn này lại tác động của sức ép của đối tác  trên thị trường. Quá trình đàm phán và vị thế thương lượng của người  mua hay người bán có thể tác động nếu một trong hai bên có thể độc  quyền trên thương trường  Phe thứ ba: Là các bên khác ngoài người mua và người bán, như: chính  phủ, các đại lý, các nhà tư vấn và các nhà tiêu thụ. Các bên này có thể  ảnh hưởng tới quá trình đàm phán vì họ có mục tiêu khác nhau. Thường  thì chính phủ luôn tác động đến người mua và người bán thông qua các  mục tiêu bổ trợ như: cơ sở hạ tầng, cơ hội việc làm, chính sách quản lý  ngoại hối hay những mối quan hệ quốc gia có liên quan.  Người tham gia đàm phán Tác động đến quá trình đàm phán bằng kinh  nghiệm và kĩ năng đàm phán của chính họ. Nhà đàm phán có hai mục tiêu  phải phấn đấu thực hiện: trước hết họ phải tăng cường sự hợp tác giữa  các bên; thứ hai, họ phải tối đa hóa lợi ích của mình và đảm bảo một  thỏa thuận có giá trị đối với chính họ. Nhân cách của người đàm phán  cũng có vai trò quan trọng, đặc biệt là khi thiếu thông tin về đối tác hoặc  xuất hiện thế găng trong đàm phán. Người có nhân cách tốt là người có  khả năng làm cho người khác thấy được vị thế của mình, dễ tiếp cận  với đối tác và tạo cho họ thấy niềm tin, đồng thời đánh giá đúng vị thế  của đối tác. Tuy nhiên, kĩ năng của các nhà đàm phán phụ thuộc vào các  mục tiêu với con người và nghề nghiệp của họ. Các nhà đàm phán có  chuyên môn kĩ thuật thường chỉ chú trọng các vấn đề kĩ thuật, trong khi  các nhà kinh doanh lại cho rằng còn nhiều vấn đề khác quan trọng hơn,  như: lợi nhuận, chi phí…. 14
  14. 2. Bầu không khí đàm phán:  Bầu không khí và quá trình đàm phán có ảnh hưởng qua lại với nhau. Bầu không  khí đàm phán chính là “môi trường” để các bên tiếp xúc với nhau, hiểu nhau,  đánh giá hành vi của nhau trong quá trình đàm phán. Bầu không khí giúp các bên  nhận thức được thực tế.  Mối quan hệ được phát triển trong suốt quá trình đàm phán giữa các bên được  thể hiện bởi bầu không khí đàm phán. Bầu không khí này có tầm quan trọng đặc  biệt đối với toàn bộ quá trình đàm phán. Bầu không khí và quá trình đàm phán có  ảnh hưởng qua lại lẫn nhau ở mỗi giai đoạn đàm phán. Bầu không khí đàm phán  chính là “môi trường” để các bên tiếp xúc với nhau, hiểu nhau, đánh giá hành vi  của nhau và đặc tính của quá trình đàm phán. Bầu không khí đàm phán giúp các  bên nhận thức được thực tế. Trong đàm phán, nhận thức được thực tế còn quan  trọng hơn chính bản thân thực tế ở mỗi giai đoạn. Bầu không khí đàm phán có  những có những đặc điểm riêng ở từng giai đoạn.  Ở giai đoạn tiền đàm phán: Bầu không khí bao trùm là hành vi hợp tác vì các bên  đang cố tìm kiếm các giải pháp chung Ở các giai đoạn tiếp theo, đặc tính của bầu không khí có thể thay đổi. Gồm các  cặp đặc tính:  Xung đột và hợp tác giữa các bên: Là đặc tính cơ bản của quá trình đàm  phán. Một mặt, các bên có một số lợi ích chung khi tìm kiếm giải pháp  cho vấn đề mà cả đôi bên đều quan tâm. Mặt khác, mâu thuẫn về lợi ích  có thể phát sinh khi chi phí của một bên lại là thu nhập của bên kia. Mức  độ xung đột hay hợp tác trong bầu không khí đàm phán phụ thuộc vào  mục tiêu của các bên tham gia đàm phán. Một số quan hệ mang tính bổ  trợ nhiều hơn – so với các mối quan hệ khác. Mức độ xung đột hay hợp  tác trong các giai đoạn khác nhau của quá trình đàm phán thường phụ  thuộc vào các vấn đề cần giải quyết, còn mức độ xung đột hay hợp tác  trong bầu không khí đàm phán lại phụ thuộc vào các bên giai quyết vấn  đề khác nhau như thế nào. Xung đột đôi khi xảy ra chỉ là do sự hiểu lầm  giữa đôi bên chứ không hề có xung đột thực sự. Các bên càng ít hiểu về  nhau thì nguy cơ xảy ra những xung đột chỉ do hiểu lầm càng cao. Mỗi  quá trình đàm phán, thậm chí ở các giai đoạn khác nhau của cùng một quá  trình đàm phán đặc trưng bởi một mức độ hợp tác và xung đột khác nhau.  15
  15. Tức là: một mặt cả hai bên sẽ hợp tác dễ dàng do có cùng vấn đề cả hai  bên đều quan tâm. Mặt khác mâu thuẫn xung đột cũng có thể xuất hiện  khi mục đích cả hai bên không đồng nhất. Hoặc có thể là mâu thuẫn  xung đột chỉ xuất hiện bởi do đôi bên có sự hiểu lầm, cần phải hiểu rõ  về thông tin của đối tác để hạn chế sự hiểu lầm tối đa. Ví dụ: Ông bà xưa có câu: “Ông nói gà, bà nói vịt” là vậy, bởi 2 người  không hiểu đối phương đang nói gì nên mới nảy sinh mâu thuẫn, song  thực chất 2 người đang nói về gia cầm. Nên phải tìm hiểu thông tin của  đối tác, cũng như mục đích của họ, có thể không đúng câu từ, nhưng về  mặt nội dung thì đồng nhất với nhau.  Ưu thế và sự lệ thuộc của bên này đối với bên kia: Nó có liên hệ mật  thiết với mối quan hệ quyền lực thực tế, chịu ảnh hưởng của giá trị của  quan hệ với các bên đối tác và các phương án lựa chọn của họ. Các yếu  tố cơ sở, ví dụ như vị thế trên thương trường, có thể ảnh hưởng tới mối  quan hệ ưu thế/ lệ thuộc. Khả năng kiểm soát được mối quan hệ phụ  thuộc vào ưu thế về nhận thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, và khả  năng tiếp cận thông tin của các bên. Chú ý, ưu thế là đặc tính của mối  quan hệ, chứ không phải là thuộc tính của nhà đàm phán. Trong thực tế,  ưu thế còn có mối liên hệ chặt chẽ với sự lệ thuộc. Do đó, ưu thế sẽ cân  bằng nếu các bên cảm nhận có thế mạnh ngang nhau và sẽ mất cân bằng  nếu các bên cảm thấy có ưu thế hơn hoặc nếu một bên bị lệ thuộc vào  bên kia  Kỳ vọng của các bên tham gia: Đây là đặc tính cuối cùng ảnh hưởng đến  bầu không khí.  Có hai loại kì vọng: thứ nhất là kì vọng dài hạn về khả năng và giá trị  của việc kinh doanh trong tương lai. Những kì vọng này càng lớn thì các  nhà đàm phán càng có xu hướng thỏa hiệp trong cuộc đàm phán hiện tại.  Các kì vọng này liên quan đến mục tiêu trước mắt của cuộc đàm phán.  Quyết định của các bên tham gia đàm phán và tiếp tục mỗi giai đoạn nói  lên kì vọng sẽ đạt được kết quả tốt hơn khi tiến hành đàm phán hơn là  không đàm phán. Điều này thúc đẩy các bên tiếp tục chuyển sang giai  đoạn tiếp theo. Các kì vọng tăng lên và thay đổi trong mỗi giai đoạn của  quá trình đàm phán. 16
  16. 3. Các yếu tố khác  Các yếu tố văn hóa ­ xã hội: thời gian, ý thực hệ của các bên tham gia,  cách giao tiếp, ý nghĩa của các quan hệ cá nhân.  Các yếu tố chiến lược: cách trình bày chiến lược, các chiến lược sử  dụng, cách ra quyết định, các tác nhân  Cùng các yếu tố: bộ máy quan liêu, luật lệ và chính phủ, nhiều loại đồng  tiền 17
  17. V.  Bí quyết để đàm phán thành công:  Có rất nhiều bí quyết để đàm phán thành công nhưng dưới đây là 8 bí quyết  được sử dụng nhiều nhất: 1.  Hãy sẵn sàng là người đàm phán trước Một số người thường rất ngượng ngùng khi nói về tiền bạc. Những người khác  lại nghĩ rằng việc đó thật thô lỗ và là một hành động hạ thấp bản thân. Trong rất nhiều trường hợp thì họ đúng. Tuy nhiên, khi phải giải quyết một  hợp đồng làm ăn (tất cả chúng ta đều sẽ có lúc phải làm việc này), thì thái độ  không sẵn sàng đề cập tới chuyện tiền nong đó sẽ khiến cho việc kinh doanh  của chúng ta trở nên đắt đỏ. Trong thực tế có rất nhiều nhà đàm phán dày dặn. Nếu bạn mua một ngôi nhà  hay một chiếc ô tô, nhận một công việc mới, thì bạn có thể chắc chắn là mình  sẽ phải đối mặt với những con người đó. Nếu họ thấy bạn quá nhút nhát trong  công việc, họ sẽ lợi dụng điều này. Bạn cũng không nên quá ngượng ngùng khi chuyển một vấn đề có vẻ là chuyện  ngoài lề sang một cuộc đàm phán thật sự. Nếu tôi đang mua một vài thứ rất  mắc trong cùng một cửa hàng, tôi sẽ thường hỏi họ có khuyến mãi cái gì không,  hay có giảm giá không. Vì nếu không có dấu hiệu nào chỉ ra rằng: "Bạn có thể  làm việc này”, thì điều đó không có nghĩa là “Bạn không thể”. Đôi khi, đơn giản  chỉ bằng việc hỏi xem có gì khuyến mãi không, tôi sẽ có một cuộc mua bán có  lợi hơn. 2. Đừng để bị cảm xúc chi phối Một nhầm lẫn rất lớn của những nhà đàm phán nghiệp dư là họ bộc lộ cảm  xúc quá mức để đạt được chiến thắng. Họ la ó, đe dọa và yêu cầu làm theo cách  của họ. Việc này chỉ phản tác dụng mà thôi. Hầu hết những vụ làm ăn chỉ có khả năng thành công nếu cả hai phía đều cảm  thấy họ sắp có lợi từ việc này. Nếu một người phía bên kia cảm thấy rằng họ  đang bị công kích, hoặc đơn giản là không ưng ý với bạn, họ có lẽ sẽ không  chịu nhượng bộ. Rất nhiều người ghét những người thô lỗ, và họ sẵn sàng rời  bỏ một cuộc làm nếu cuộc làm ăn này dính tới một người như vậy. 18
  18. Hãy giữ bình tĩnh, kiên trì, và thân thiện, kể cả khi người kia bắt đầu mất bình  tĩnh. Hãy chắc chắn rằng bạn để lòng tự trọng và niềm tự hào của mình ra chỗ  khác. Như thế bạn sẽ có khả năng làm việc đó tốt hơn. 3.  Đừng dễ bị lừa bởi thủ đoạn sử dụng “quy tắc” Khi một người gửi cho tôi một bản hợp đồng để tôi ký vào đó, nếu có điều gì  đó trên bản hợp đồng mà tôi không ưng, tôi sẽ bỏ qua bản hợp đồng này. Ngoài  ra tôi sẽ viết ra những điều tôi muốn thêm vào. Đôi khi, phía đối tác sẽ quay lại  và bảo với tôi rằng:” Ngài không được phép thay đổi bản hợp đồng của chúng  ta như vậy”. Vì tôi là người sẽ ký vào bản hợp đồng này, tôi sẽ thay đổi những gì mà tôi  muốn. Không có bất cứ quy tắc nào lại bảo rằng họ mới là người duy nhất  được phép thêm thắt điều gì đó vào bản hợp đồng. Nếu họ không hài lòng với  sự thay đổi của tôi, thì họ nên cho tôi biết và như thế chúng tôi có thể làm sáng  tỏ vấn đề đó, nhưng chỉ mong đừng nói với tôi đơn giản rằng tôi không được  phép. Điều này cũng nhấn mạnh một thủ thuật thường dùng của những nhà đàm phán  dày dặn như những nhà môi giới bất động sản, nhà môi giới việc làm, những  người buôn bán xe ô tô và  dạng như thế. Họ biết rất nhiều người là những  người rất chặt chẽ trong việc tuân theo các quy tắc. Vì thế, họ sẽ đưa ra những  lời công bố nghe có vẻ chính thức và khẳng định rằng: “Việc này phải làm như  thế” hoặc “ngài không được phép làm vậy”. Nếu một ai đó giới hạn bạn bằng  cách thêm những quy tắc vào trong hợp đồng, hãy yêu cầu họ cung cấp những  bằng chứng xác thực rằng những quy tắc này thực sự tồn tại. 4.  Đừng bao giờ là người đầu tiên đưa ra một con số Đây là một bài học đắt giá, nhưng thực sự là một kinh nghiệm quý. Tôi đã thực  hiện rất nhiều công việc hợp đồng, và một trong những câu hỏi đầu tiên tôi hay  gặp là: “Anh muốn mức lương trong một giờ là bao nhiêu?”. Đây là một câu hỏi  đầy áp lực, và tôi thường thấy mình buột miệng ra một con số nào đó thấp hơn  là mức tôi thực sự muốn. Những ngày đó, tôi đã học được tầm quan trọng của việc bắt người khác phải  đưa ra một con số cụ thể trước. Bây giờ, tôi trả lời những câu hỏi đó bằng cách  hỏi lại rằng: “Vậy ngân quỹ dành cho bản hợp đồng này là bao nhiêu?”. Đôi  khi, tôi cũng thường thấy bất ngờ khi họ đưa ra mức tốt hơn tôi nghĩ. 19
  19. 5.  Hãy đòi hỏi nhiều hơn những gì bạn mong muốn đạt được Khi mà những người khác đưa ra con số của họ, kể cả nó đã là tốt hơn so với  những gì bạn mong muốn, thì hãy cứ nói rằng: “Tôi nghĩ ngài sẽ phải đưa ra  mức cao hơn thế”. Đừng tỏ ra kiêu ngạo, hay hung hăng. Hãy nói câu đó một  cách bình tĩnh. Khi họ hỏi bạn về kỳ vọng của bạn, hãy đòi nhiều hơn mức bạn mong đợi.  Hiếm mấy ai ra đi khi mà hợp đồng đã được ký kết, và bạn có thể khiến đối  phương cảm thấy rằng họ đang chiến thắng khi được một lần hạ thấp “mức  mong đợi không thực tế” của bạn. 6.  Hãy nói điều gì đó như kiểu: “ Tôi sẽ phải nói việc này với sếp  (vợ/chồng/bạn) của tôi trước khi cho anh câu trả lời ”. Hãy để họ tin rằng quyết định cuối cùng chưa ổn đối với bạn. Khi mà cuộc  đàm phán đã bắt đầu, hầu hết mọi người đều muốn giải quyết cho xong càng  nhanh càng tốt. Một cách rất tốt để làm việc đó là hãy để phía đối tác tin rằng  người mà họ đang đàm phán hoàn toàn không phải là bạn, mà là nhân vật nào đó  có quyền lực. Một nhà đàm phán khéo léo sẽ luôn luôn muốn nói chuyện với người đưa ra  quyết định cuối cùng, nhưng lại không để cho họ làm điều đó. Giả như một  người, có quyền quyết định đối với vụ làm ăn, lại muốn rằng bạn phải làm rõ  vấn đề trong đó và vẫn rất cần một câu trả lời cuối cùng từ phía bạn. Hãy nói  với họ rằng bạn sẽ bàn về vấn đề này và quay trở lại với một câu trả lời vào  ngày mai. Hãy đòi hỏi họ phải đảm bảo rằng đó là lời đề nghị tốt nhất từ phía  họ mà bạn có thể đem về cho “nhân vật đầy quyền lực” của bạn. Đây cũng là  một chiến lược hay nhằm ngăn cho mọi người không hối thúc bạn. 7.  Đừng tỏ ra quá thích thú Chỉ với việc đưa ra ấn tượng rằng bạn sẵn sàng bỏ đi là đã có thể tạo ra kỳ tích  cho việc nhận được một bản hợp đồng tốt hơn. Hãy luôn luôn đóng vai một  người mua, hay một người bán đang rất lưỡng lự. Đừng khiến cho người khác có cảm giác như thể họ đã bị lừa. Rất nhiều người  thường cố gắng bòn rút đến tận cùng từ bất cứ cuộc thương lượng nào. Đây là  một sai lầm. Nếu như đối tác cảm thấy rằng họ bị lừa, thì điều này sẽ quay lại  20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản