Tiểu luận: Vận dụng quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc dùng người của người lãnh đạo

Chia sẻ: Nguyễn Thị Thắm | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:19

0
107
lượt xem
38
download

Tiểu luận: Vận dụng quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc dùng người của người lãnh đạo

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận: Vận dụng quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc dùng người của người lãnh đạo trình bày về tư tưởng Hồ Chí Minh-những luận điểm sáng tạo; nguyên tắc dùng người theo Tư tưởng Hồ Chí Minh của người lãnh đạo hiện nay; nguyên tắc lựa chọn con người của người lãnh đạo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Vận dụng quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc dùng người của người lãnh đạo

  1. MỞ ĐẦU Tư  tưởng Hồ  Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ  nghĩa Mác­ Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây   dựng chủ nghĩa xã hội  ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư  tưởng Hồ  Chí Minh  là  độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong  đó, vấn đề  con người là vấn đề  lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề  trung  tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người.  Trong tư  tưởng Hồ  Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mục tiêu   của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính   sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lý luận chỉ  đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ  nghĩa xã hội ở nước  ta. Nhất là trong quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ  cho cách mạng Việt Nam,  Chủ  tịch Hồ  Chí Minh đã rất thành công và để  lại những quan điểm sâu sắc,  trong đó có quan điểm về  dùng người, tức là sử  dụng đội ngũ cán bộ, nhân tài.  Những quan điểm đó luôn là ánh sáng dẫn đường, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn   đối với cách mạng Việt Nam. Người đã nhìn thấy và nêu cao vai trò, tầm quan   trọng của đội ngũ cán bộ, nhân tài trong sự  nghiệp đấu tranh giành độc lập tự  do, lẫn trong xây dựng, phát triển đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Người từng   chỉ rõ “vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp”. Từ chỗ khẳng   định vai trò rất quan trọng của đội ngũ cán bộ, nhân tài; Người đã giành nhiều   tâm lực, trí lực xây dựng đội ngũ này. Trên cơ sở tạo nguồn rộng rãi, tuyển dụng   công bằng, đào tạo căn bản, đánh giá chính xác đội ngũ cán bộ, nhân tài, Người   chủ trương hướng tới sử dụng, trọng dụng và luôn tôn vinh tài năng, đức độ của  họ. Dùng người đúng, biết dùng người sẽ  có lợi cho việc khơi dậy tính tích  cực, phát huy đầy đủ  tính năng động, tự  giác của quần chúng; biết dùng người   sẽ  có ý nghĩa hiện thực to lớn, tạo nên những bước nhảy đột phá, tiến bộ  lớn,  việc dựa vào nhân tài và sử  dụng hợp lý nhân tài có ý nghĩa rất to lớn về  mặt   chiến lược lâu dài. Như vậy, xem xét từ yêu cầu công tác tại địa phương, đơn vị tôi đang công  tác hiện nay, cái mà chúng ta đang thiếu là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trên  các lĩnh vực. Phải có một đội ngũ chuyên gia giỏi, đội ngũ cán bộ, công chức  giỏi mới có thể  thực hiện mục tiêu phát triển của huyện nhà. Với những lý do 
  2. nêu trên, nên tôi chọn đề tài nghiên cứu làm tiểu luận là “ Vận dụng quan điểm,  tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc dùng người của người lãnh đạo”. 1/­ Tư tưởng Hồ Chí Minh­những luận điểm sáng tạo 1.1/­Tư tưởng Hồ Chí Minh­Giá trị của thời đại   Trong thời đại ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự  bùng nổ  về  xung   đột dân tộc, tôn giáo diễn ra  ở  nhiều khu vực trên thế  giới. Có những quốc gia  liên bang đã bị tan rã, trong các quốc gia đa dân tộc, xu hướng ly khai, đòi độc lập  đang có chiều hướng phát triển không giới hạn. Bên cạnh đó, hàng trăm quốc gia   tuy đã có độc lập về chính trị nhưng ngày càng  phụ thuộc trầm trọng về kinh tế  vào các nước tư  bản phát triển, tạo nên hố  sâu ngăn cách giàu nghèo giữa các  quốc gia ngày một rộng ra.        Không chỉ  dừng lại  ở  đó, sau khi Liên Xô tan rã, chủ  nghĩa xã hội lâm vào  thoái trào, các thế  lực hiếu chiến đã và đang điều chỉnh chiến lược, toan tính  thực hiện ý đồ thiết lập “thế giới một cực”. Chiến tranh lạnh kết thúc nhưng từ  1991 đến nay, thế giới đã diễn ra 4 cuộc chiến tranh nóng, tại Vùng Vịnh (1991),   Nam Tư (1999),  Ấpganixtan (2002) và Irắc (2003).Từ sau ngày 11/9/2001 ở  Mỹ,  hoạt động khủng bố và chống khủng bố trở thành vấn đề  quốc tế  lớn. Các thế  lực hiếu chiến đang lợi dụng chiêu bài chống khủng bố  để  can thiệp vào công  việc nội bộ của các nước, xâm hại nghiêm trọng chủ quyền quốc gia, bất chấp  luật pháp quốc tế.         Trong tình hình của thế giới, nhân loại đang nổi lên khát vọng chung: độc  lập dân tộc, dân chủ, hoà bình, nhân đạo, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Thế  giới đang kêu gọi một tinh thần khoan dung, nhân ái, chấp nhận đối thoại về giá  trị, giải quyết mọi tranh chấp bằng thương lượng, chung sức xây dựng một thế  gới hoà bình. Chính những khát vọng đó, nhân loại đang nhắc đến tư tưởng Hồ  Chí Minh, vì tìm thấy trong đó những giải pháp có tầm thời đại, giúp loài người  đi đến một thế giới tốt đẹp hơn.         Hồ Chí Minh là biểu tượng cao cả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước   nồng nàn với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, độc lập tự do cho dân tộc mình đồng 
  3. thời độc lập tự do cho tất cả các dân tộc khác. Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức   tầm quan trọng của sự  kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ  trương Việt Nam phải mở cửa đi ra thế giới, thu hút tinh hoa văn hoá nhân loại,  làm giàu có trí tuệ  cho dân tộc mình. Người đã đi qua ba đại dương, bốn châu   lục, đặt chân lên gần 30 nước, có vinh dự là người Việt Nam đầu tiên đặt cơ sở  cho tình hữu nghị với nhiều nước trên thế giới, Người là sứ giả của hoà bình và  hữu nghị giữa các dân tộc. Hồ Chí Minh là biểu tượng, là tinh hoa của tinh thần   khoan dung, nhân ái Việt Nam. Khoan dung, nhân ái đối với con người, cái nhìn  rộng lượng với những giá trị  khác biệt với mình, không áp đặt ý kiến của mình  cho người khác, xa lạ với mọi thái độ cuồng tín, giáo điều. Đối với các tôn giáo,   Người tôn trọng đức tin của người có đạo, hướng tôn giáo vào mục tiêu giải  phóng dân tộc, mưu cầu hạnh phúc,  ấm no cho nhân dân. Vì vậy, khoan dung,  nhân ái Hồ Chí Minh đã được coi là biểu tượng của văn hoá hoà bình ở thời đại   ngày nay.           Hồ Chí Minh là một tấm gương lớn về đối thoại, hợp tác để  cùng phát  triển. Người  luôn theo đuổi chính sách ngoại giao hoà bình, chủ  trương giải   quyết mọi mâu thuẫn, xung đột bằng đàm phán, thương lượng. Nhiều nhà báo   phương Tây đã từng nhận xét: Cụ Hồ Chí Minh sẵn sàng chấp nhận tiệc tùng và  luôn biết giải quyết mọi vấn đề với nụ cười trên môi”.  Vì những giá trị nói trên,   các nhà văn, nhà báo, nhà chính khách nước ngoài ngày càng nhắc nhiều đến tư  tưởng Hồ Chí Minh.           Tiến sĩ M. Átmét, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á­ Thái Bình Dương,   đã phát biểu trong dịp kỷ  niệm lần thứ  100 năm ngày sinh của Hồ  Chí Minh:  “Người sẽ  được ghi nhớ  không phải chỉ  là ngườigiải phóng cho Tổ  quốc và  nhân dân bị đô hộ  mà còn là một nhà hiền triết hiện đại, đã mang lại một viễn   cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để  loại bỏ  bất công, bất bình đẳng khỏi thế  gới này.”   Hêrôminô Caêra, nhà báo   Vênexuêla viết: “Hồ Chí Minh là một đỉnh cao thật sự của toàn thể nhân loại về  mặt đạo đức. Người là một tấm gương tuyệt vời, tất cả những lãnh tụ  và anh   hùng cách mạng không một ai có thể  vượt qua Người về  mặt này...Ngày nay,   trong lúc uy tín cá nhân của khá nhiều lãnh tụ  macxít nổi tiếng đang bị  bôi nhọ,  trái lại, hình ảnh Hồ Chí Minh lại càng nổi bật trước con mắt thế giới hơn bao   giờ hết”.           Sự thừa nhận rộng rãi của bạn bè từ các châu lục đã khẳng định một cách   khách quan giá trị, tác dụng, hình  ảnh của tư  tưởng Hồ  Chí Minh đối với thế  giới chắc chắn sẽ còn lan toả trong thế kỷ XXI. 
  4.   1.2/­Những tư tưởng sáng tạo lớn trong Tư tưởng Hồ Chí Minh 1.2.1/­ Hồ Chí Minh là nhà yêu nước Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa   Mác­Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga, tìm được con đường cứu nước đúng   đắn cho dân tộc Việt Nam Hồ  Chí Minh có một quá trình tìm tòi, khảo nghiệm từ  trong nước ra thế  giới, hoạt động thực tiễn và nghiên cứu lý luận, qua các ngả  đường cứu nước   khác nhau để đến với chủ nghĩa Mác­Lênin. Người khẳng định, chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại  cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc. Hồ  Chí Minh là nhà yêu nước đầu tiên trở  thành  người cộng sản chân  chính, người  dân thuộc địa trở  thành một trong những người sáng lập Đảng   Cộng sản chính quốc. Người có công đầu đưa ánh sáng chủ  nghĩa Mác­Lênin  vào Việt Nam, chuẩn bị những nhân tố chính trị, tư tưởng, tổ chức cho thắng lợi   của cách mạng Việt Nam. Đồng chí Lê Duẩn khẳng định: “Công lao vĩ đại đầu  tiên của Hồ Chủ  tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào  công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người  đã trải qua, từ  chủ  nghĩa yêu nước đến chủ  nghĩa Mác­Lênin. Đó là con đường   giải phóng duy nhất mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra cho nhân dân lao   động và tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới”. 1.2.2/­ Hồ Chí Minh là người dân thuộc địa và là người cộng sản đầu tiên   có cống hiến to lớn về nghiên cứu chủ nghĩa thực dân Hồ  Chí Minh là người viết nhiều nhất lên án bản chất, tội ác của chủ  nghĩa thực dân. Người đập tan huyền thoại “khai hóa văn minh” của thực dân  Pháp, đồng thời kiên quyết đấu tranh phê phán những người cộng sản chính  quốc coi nhẹ vấn đề thuộc địa, không quan tâm đến cách mạng thuộc địa. Thế  giới ghi nhận cống hiến của Hồ  Chí Minh: “Sự  phân tích về  chủ  nghĩa thực dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến lúc đó vượt hẳn tất cả  những gì  mà những nhà lý luận mácxít đề  cập đến”1. Nhà sử  học người Pháp Charles  Fourniau cho rằng: “Nguyễn Ái Quốc đã có đóng góp quan trọng vào việc hình   thành truyền thống chống chủ  nghĩa thực dân ­ một truyền thống làm vẻ  vang  cho Đảng Cộng sản Pháp” và kết luận: “Vậy thì hẳn rằng: Nguyễn Ái Quốc   phải được coi là một trong những người thầy của  Đảng Cộng sản Pháp về  những vấn đề thuộc địa”. 1
  5. 1.2.3/­  Sáng tạo về  cách mạng thuộc địa: Cách mạng  ở  các nước thuộc   địa có thể nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc và tác động   trở lại thúc đẩy cách mạng chính quốc Giai đoạn Mác­Ăngghen, vấn đề  thuộc địa hầu như  chưa được đặt ra.  Đến Lênin khi viết đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa vẫn đặt cách mạng  thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc. Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc vai trò của thuộc địa đối với sự tồn tại và  phát triển của chủ nghĩa đế quốc. Người đánh giá tiềm năng cách mạng của các  dân tộc bị  áp bức là rất to lớn. Nhân dân Việt Nam hoàn toàn có thể  chủ  động   đứng lên, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta, giành thắng lợi trước cách mạng ở  chính quốc, không ỷ lại chờ đợi cách mạng chính quốc. 1.2.4/­ Luận điểm sáng tạo về  con đường cách mạng Việt Nam: từ  cách   mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ  dân chủ  nhân dân, tiến dần lên chủ   nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Hồ  Chí Minh đi từ tư  tưởng giải phóng dân tộc đến phát triển đất nước.   Người chỉ rõ ba giai đoạn xen kẽ  vào nhau và liên tục, không ngừng phát triển.   Khi hoàn thành cách mạng dân tộc, xây dựng chế  độ  dân chủ  nhân dân, thì hòa  bình phát triển lên cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua một cuộc đảo lộn về  chính trị giành chính quyền như cách mạng Nga và cách mạng vô sản ở các nước   tư bản phát triển. Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn, sáng tạo, thành công mối quan hệ giữa  dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc, dân chủ  và chủ nghĩa xã hội. Theo Người,   chỉ  có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp, giải phóng dân tộc đã   bao hàm một phần giải phóng giai cấp và tạo tiền đề  cho giải phóng giai cấp.  Tinh thần dân tộc và chủ nghĩa yêu nước là một động lực lớn. 1.2.5/­ Cùng một lúc thực hiện hai chiến lược cách mạng ở hai miền Bắc,   Nam và nêu cao tư tưởng thống nhất đất nước Hồ  Chí Minh và Đảng ta đã giải quyết thành công trong điều kiện một   nước, một Đảng cùng một lúc thực hiện hai chiến lược cách mạng, vừa xây   dựng chủ  nghĩa xã hội  ở  miền Bắc vừa đấu tranh giải phóng miền Nam thống   nhất nước nhà. Theo Giáo sư  Singôsibata: “Một trong những cống hiến quan  trọng của Cụ Hồ Chí Minh và của Đảng Lao động Việt Nam là đã đề ra lý luận   về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân.  Theo tôi được biết, Đảng Lao động Việt Nam là đảng đầu tiên trong các đảng  
  6. mácxít trên thế giới áp dụng lý luận này”. Chủ  tịch Hồ  Chí Minh cho rằng: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt   Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay   đổi. Cả cuộc đời Người quan tâm đến sự nghiệp thống nhất nước nhà. 1.2.6/­  Những luận điểm sáng tạo về  tổ  chức lực lượng cách mạng phù   hợp với đặc điểm cụ thể của Việt Nam Về tổ chức lực lượng cách mạng, Hồ Chí Minh có nhiều luận điểm sáng  tạo, đó là: Những luận điểm về  Đảng Cộng sản  ở  một nước nông nghiệp lạc  hậu và những luận điểm về Đảng cầm quyền. ­ Những luận điểm về chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và chính sách   Mặt trận dân tộc thống nhất, nhất quán trong cả  cách mạng dân tộc dân chủ  và  cách mạng xã hội chủ nghĩa. ­ Những luận điểm về nhà nước và xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì   dân dưới sự  lãnh đạo của Đảng Cộng sản; về  nhà nước pháp quyền, quản lý   bằng “pháp trị” đi đôi với “đức trị”, giáo dục nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. ­ Những luận điểm về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, từ nhân dân  mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. 1.2.7/­ Những luận điểm sáng tạo về bạo lực cách mạng và hình thức đấu   tranh cách mạng; về sự thống nhất giữa tư tưởng bạo lực và lòng nhân ái, tinh   thần nhân văn Quan điểm của Hồ Chí Minh về động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, xây  dựng lực lượng vũ trang nhân dân là một cống hiến lớn trong lĩnh vực quân sự.   Người để lại một di sản lớn về khởi nghĩa và chiến tranh toàn dân; về xây dựng   căn cứ địa cách mạng; về tư tưởng bạo lực cách mạng thống nhất với tư tưởng   nhân văn, hòa bình. 1.2.8/­ Những luận điểm sáng tạo về con người, đạo đức, văn hóa Thương yêu, tôn trọng, tin tưởng con người, bồi dưỡng và phát triển mọi   tài năng của con người. Đó là một chủ nghĩa nhân văn hiện thực cao cả. Hồ  Chí Minh đề  cao vai trò của đạo đức và chống suy thoái về  đạo đức;  coi thắng lợi của chủ  nghĩa xã hội phải gắn liền với thắng lợi của cuộc đấu  tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức hành động, chú 
  7. trọng sự gương mẫu, nhất quán giữa nói và làm, hi sinh, vượt qua chủ nghĩa cá  nhân, không dính líu với vòng danh lợi, suốt đời vì dân, gần dân, trọng dân, tin  dân, thương dân, tận trung, tận hiếu với nước, với dân, cho dân tộc và nhân loại. Người đặc biệt coi trọng, đề cao vai trò, sứ mệnh của văn hóa, coi văn hóa  vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng. Văn hóa soi đường cho quốc   dân đi, lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ. Văn hóa sửa  đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ. 1.2.9/­ Bổ  sung, phát triển phương pháp luận Mác­Lênin, hình thành nên   những quan điểm có tính phương pháp luận, với những nét đặc sắc riêng biệt Hồ  Chí Minh để  lại một hệ  thống quan điểm có tính phương pháp luận.  Đó là quan điểm thực tiễn, thống nhất giữa tư tưởng với hoạt động thực tiễn,   thực hành lý luận. Triết học Hồ  Chí Minh là triết học hành động ­ thực tiễn ­   nhân sinh, lấy mục tiêu “Độc lập ­ Tự do ­ Hạnh phúc” làm chuẩn mực hành vi.   Người giải quyết hài hòa các mối quan hệ; quan tâm tới con người, quần chúng  nhân dân, cán bộ. Cùng với luận điểm “dĩ bất biến  ứng vạn biến” là quan điểm toàn diện,   trọng điểm, hệ  thống, thiết thực. Phát triển, đổi mới, hội nhập, hướng tới cái  mới và tương lai. Nắm diễn biến của lịch sử, của thời đại, thời, thế và lực. Tóm lại, “Hồ  Chí Minh thủy chung là nhà mácxít­lêninnít vĩ đại, vĩ đại  ở  sự  trung thành theo nghĩa đầy đủ  và cao nhất của từ  đó, nghĩa là bao hàm phát  triển sáng tạo;  trung thành không phải trên từng câu, chữ  mà trung thành với  thực chất cách mạng và khoa học của chủ  nghĩa Mác­Lênin, trên tinh thần  “dĩ  bất biến  ứng vạn biến”. Thật không đúng nếu chú tâm đi tìm sự  khác biệt, sự  đối lập nào đó giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác­Lênin. Là kết quả  lịch sử  và lôgíc từ  sự  kết hợp tự  nhiên truyền thống yêu nước với chủ  nghĩa   Mác­Lênin, tư  tưởng Hồ  Chí Minh không chỉ  là sự  vận dụng mà còn phát triển   sáng tạo chủ nghĩa Mác­Lênin ở Việt Nam và các nước thuộc địa của chủ nghĩa   đế quốc”. 1.3/­ Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người Hồ Chí Minh quan niệm con người không bao giờ là phương tiện của các  nhà chính trị  mà ngược lại nhà chính trị, đảng chính trị… phải nhất quán trong  nhận thức và hành động rằng: nhân dân là chủ  sở  hữu của quyền lực chính trị,  con người vừa là mục đích, vừa là động lực, là lực lượng, là sức mạnh của sự  nghiệp chính trị. 
  8. Hồ Chí Minh cho rằng nhiều khi đường lối chính sách đúng nhưng “hoặc  làm chưa được, hoặc làm nửa chừng rồi lại nguội… vì chúng ta quên một lẽ rất  giản đơn dễ hiểu: tức vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ  gần đến xa, đều thế  cả”. Công việc nhà nước bao gồm nhiều lĩnh vực đòi hỏi   phải có đội ngũ cán bộ, công chức tốt để thi hành công vụ. Hồ Chí Minh khẳng  định “Có cán bộ tốt việc gì cũng xong. Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều  do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”. “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Vì sao như vậy? Vì công việc nhà   nước được thể  hiện  ở các văn bản do Nhà nước ban hành như: Hiến pháp, các   bộ  Luật, các Luật, các Pháp lệnh… tất cả các văn bản ấy đều do tập thể  hoặc  cá nhân quyết định. Những cán bộ  công chức có vị  trí cực kỳ  quan trọng trong   việc định đoạt mọi công việc của quốc gia. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo giỏi có vai  trò quyết định đối với toàn bộ hoạt động của đất nước, nó là xuất phát điểm của  sự thành bại, hưng vong… Từ trước đến nay có không ít quyết sách chính trị và   các quyết định hành chính tuy rằng đúng đắn nhưng thực hiện kém hiệu qủa bởi   vì thiếu cán bộ kiểu mẫu về quản lý, điều hành, thiếu ng ười thực hiện và kiểm  tra. Muốn cho công việc được tiến hành thuận lợi, muốn biết các Chỉ  thị, Nghị  quyết, Quyết định đã được thi hành như  thế  nào thì một trong những yêu cầu  của lãnh đạo là kiểm tra. Không kiểm tra coi như  không lãnh đạo và quản lý,   công tác kiểm tra đòi hỏi phải có người kiểm tra. Những người đó phải là những  người có đạo đức tốt, phải biết việc và hiểu nghĩa. Do đó mà lãnh đạo biết sữa   chữa sai lầm, uốn nắn công việc, biết chọn người và thay người. Tóm lại, xuất  phát từ quan điểm “vô luận việc gì, đều do người làm ra”, cùng nhiều luận điểm  đúng đắn, Chủ  tịch Hồ  Chí Minh đã để  lại cho đời sau một hệ  thống các tư  tưởng chiến lược về công tác cán bộ. Đó là phép dùng người của Hồ Chí Minh. Động cơ dùng người của Hồ Chí Minh cho ta cảm nhận tư tưởng của cha   ông từ mấy ngàn năm trước. Xưa “các vua Hùng đã có công dựng nước” thì nay   “Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Xưa “Trần Hưng Đạo, tướng sĩ một  lòng phụ  tử” thì nay “Bác cùng chúng cháu hành quân”. Những lời kêu gọi toàn  dân chống thực dân Pháp, rồi đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược của Hồ Chí Minh  như hiện hữu. Một chân lý của muôn đời đó là, nhân nào quả ấy, dùng người vì chính lợi  ích của mọi người thì đó chính là bí quyết của sự  thành công. Hồ  Chí Minh  khẳng định: “Đồng bào Việt Nam nghe tôi, tin tôi, vì suốt đời tôi đã tranh đấu   chống chế độ thực dân, tranh quyền độc lập cho nước nhà”.
  9. 2/­ Nguyên tắc dùng người theo Tư  tưởng Hồ  Chí Minh của người   lãnh đạo hiện nay 2.1/­ Biết dùng người là trức trách của người lãnh đạo “Tri nhân thiện nhiệm”, ý nói người lãnh đạo hiểu cán bộ  một cách khoa  học, sắp xếp, sử  dụng cán bộ  một cách hợp lý. Tri nhân (biết người) và thiện   nhiệm (giỏi giao việc, biết dùng người) quan hệ chặt chẽ  với nhau, biết người   là tiền đề của dùng người đúng, dùng người đúng là mục đích trực tiếp của biết  người, hiểu người. Tất cả  mọi sự  cạnh tranh hiện nay, suy đến cùng là cạnh tranh nhân tài.  Xã hội hiện đại, bất kể là trên lĩnh vực nào đi chăng nữa… đều đang diễn ra sự  cạnh tranh quyết liệt. Thắng bại của cạnh tranh quyết định  ở  cạnh tranh nhân  tài. Trong cạnh tranh phải dựa vào nhân tài, đồng thời thông qua cạnh tranh sẽ  xuất hiện nhân tài. Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề hiểu người và biết dùng người càng có ý  nghĩa, tác dụng to lớn vì: ­ Dùng người đúng, đó là yêu cầu của việc thực hiện đường lối chính trị  của Đảng. ­ Biết dùng người sẽ có lợi cho việc khơi dậy tính tích cực, phát huy đầy  đủ tính năng động, tự giác của quần chúng. ­ Biết dùng người sẽ  có ý nghĩa hiện thực to lớn, tạo nên những bước   nhảy đột phá, tiến bộ lớn, chấn hưng đất nước. ­ Lãnh đạo biết dùng người có ý nghĩa chiến lược lâu dài. 2.2/­ Người lãnh đạo phải giỏi nhìn nhận, phân loại cán bộ: Trước hết, người lãnh đạo phải nhìn nhận, phân loại cán bộ  một cách   khoa học; việc nhìn nhận, phân loại chính xác cán bộ là không hề dễ dàng, đồng  thời nhận thức đối với con người thường là một quá trình liên tục với thời gian   dài. Do đó, để nhìn nhận, phân loại cán bộ chính xác, người lãnh đạo phải nắm   chắc một số quan điểm và phương pháp cơ bản sau: ­ Phải dựa vào quan điểm của Chủ  nghĩa duy vật lịch sử, phải phân tích  con người một cách toàn diện, trong điều kiện lịch sử nhất định.
  10. ­ Đứng vững trên quan điểm duy vật biện chứng, xem xét con người trong   sự phát triển, biến hoá. ­ Đứng vững trên quan điểm thực tiễn, thông qua thực tiễn để biết người. ­ Nhìn nhận, phân loại cán bộ  phải theo đường lối quần chúng, phải loại  bỏ mọi thiên kiến, những quan niệm bảo thủ; phải chống khuynh hướng sai lầm   là chỉ  dùng người thân, dùng kẻ  biết thuần phục, phải hết sức chú trọng phẩm  chất, năng lực; hoặc phải chống lại tình trạng một số  cán bộ  lãnh đạo không  muốn dùng những người có trình độ hơn mình. Tóm lại, người lãnh đạo có thể  nhận biết, phân loại cán bộ  một cách  chính xác hay không phụ  thuộc vào trình độ  và tầm tư  tưởng của người lãnh  đạo. 2.3/­ Muốn dùng được người thì phải hiểu mình và hiểu người, có thủ   pháp đúng đắn: Hồ  Chí Minh đã chỉ  rõ một số  căn bệnh cơ  bản làm cho người cán bộ  không tự  biết mình được, đó là: bệnh cậy thế  và kiêu ngạo, bệnh  ưa người ta   phỉnh nịnh mình, bệnh “tư  túng” kéo bè kéo cánh, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa,  máy móc, giáo điều… Người cán bộ  lãnh đạo, quản lý mắc phải những bệnh   này không hiểu được chính cái mạnh, cái yếu của mình, do vậy không thể hiểu  được người khác. Trên cơ sở tự hiểu mình, cần phải có phương pháp xem xét để  hiểu cán bộ một cách thấu đáo, không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một  việc mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc của cán bộ. Hồ Chí Minh căn dặn phải   nhìn nhận người cán bộ với con mắt động, phát triển, không nên định kiến; xem   xét cán bộ không chỉ xem ngoài mặt mà còn phải xem tính chất của họ, không chỉ  xem một việc, một lúc mà phải xem toàn cả  lịch sử, toàn cả  công việc của họ.   Có hiểu kỹ cán bộ mới thấy chỗ tốt, chỗ xấu của họ để biết “khéo nâng cao chỗ  tốt, khéo sửa  chữa  chỗ  xấu cho họ”; tránh nảy sinh tình trạng “ô  dù”, “che  chắn”, “phe cánh”, “trù dập”. Theo Hồ  Chí Minh, muốn dùng cán bộ  đúng thì  người cán bộ lãnh đạo cần: Một là, “mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể  đối với cán bộ  một  cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ không bị bỏ rơi”. Hai là, “phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi những người mình  không ưa”.
  11. Ba là, “phải có tinh thần chịu khó dạy bảo, mới có thể  nâng đỡ  những   đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ”. Bốn là, “phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ  tốt”. Năm là, “phải có thái độ  vui vẻ  thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần   gũi mình”. Khéo dùng cán bộ xuất phát từ việc tập hợp được sức lực và tài năng của   mọi người vào việc hoàn thành nhiệm vụ  chung. Nếu dùng cán bộ  mà để  họ  “hoang mang, sợ  hãi, buồn rầu, uất  ức hoặc công tác không hợp, chắc không  thành công được. Vì vậy, muốn được cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ  yên tâm làm việc, vui thú làm việc”. 2.4/­ Đổi mới phương pháp lãnh đạo để dùng người: Vì việc mà dùng người. Công việc xây dựng và bảo vệ đất nước luôn luôn   biến đổi, phát triển; do đó, phải không ngừng đổi mới phương pháp lãnh đạo để  dùng người. Hồ  Chí Minh đã đưa ra bốn hướng tiếp cận về  đổi mới phương   pháp lãnh đạo như sau: Một là, phải khiêm tốn học hỏi quần chúng không chỉ còn là nội hàm của  phạm trù đạo đức mà phải xác định như  là điều kiện cần và đủ  của lãnh đạo.  Lãnh đạo quần chúng đương nhiên là trách nhiệm của người lãnh đạo, nhưng để  lãnh đạo được thì phải học hỏi quần chúng, điều đó có nghĩa là “người lãnh đạo   không nên kiêu ngạo mà hiểu thấu”. Điều đó cũng có nghĩa là “một giây, một  phút không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng, “phải biết lắng nghe  ý kiến của những người quan trọng”, học hỏi quần chúng, đề  cao dân chủ, đưa  chính trị vào giữa dân gian hợp thành một hệ thống giá trị văn hoá chính trị”. Hai là, nhân dân là người thi hành quyết định của lãnh đạo, do đó nhân dân  phải là người tham gia vào quá trình ra quyết định. Đây là hướng tiếp cận đạt  đến dân chủ  trực tiếp, nó vừa mang tính nhân văn cao cả, vừa thể  hiện trách   nhiệm cao trước quyền lực mà người lãnh đạo được nhân dân uỷ  thác và sd  quyền lực đó. Ba là, kiểm soát là điều bắt buộc của lãnh đạo, nó như là tiêu chí xác định  lãnh đạo và có biết lãnh đạo hay không. “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn  giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không; muốn biết ai ra sức làm,  ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát”. 
  12. Bốn là, Hồ  Chí Minh khẳng định bất kỳ  công việc gì cũng phải dùng hai  cách lãnh đạo: liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng và liên hợp người   lãnh đạo với quần chúng.  Tóm lại, phép dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một bộ phận quan  trọng trong toàn hệ  thống tư  tưởng của Người. Nó đã được thực tiễn lịch sử  kiểm nghiệm và khẳng định, có vai trò là cơ sở lý luận và phương pháp luận của  nhiều khoa học mới, trong đó có lý thuyết khoa học về hoạt động lãnh đạo. 3/­ Nguyên tắc lựa chọn con người của người lãnh đạo 3.1/­ Người lãnh đạo phải coi sự nghiệp là gốc, nhân tài là trọng: Chính quần chúng nhân dân là người tạo ra lịch sử, trong quá trình sáng tạo  ra lịch sử đó những nhân tài kiệt xuất có tác dụng to lớn. Sự nghiệp cần nhân tài,  tuyển chọn và sử  dụng nhân tài có quan hệ  đến sự  hưng suy, thành bại của sự  nghiệp. Chỉ  có những người lãnh đạo chân chính của đông đảo nhân dân lao  động và những người lãnh đạo luôn luôn coi sự phát triển tiến bộ của quốc gia,   dân tộc, của nhân loại là gốc, coi nhân tài là quan trọng mới tích cực lựa chọn và   sử dụng nhân tài. 3.2/­ Người lãnh đạo phải chí công vô tư, chỉ dùng người hiền tài: Lịch sử đã chứng minh, chỉ khi dùng người hiền tài thì đất nước mới hưng  vượng và phát triển. Đường lối cán bộ đúng đắn là đường lối chí công vô tư, chỉ  dùng người hiền tài. Trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta  nói chung đã kiên trì đường lối dùng người hiền tài. Nhưng hiện tượng chỉ dùng  người thân cũng không phải là cá biệt, có địa phương, đơn vị  thậm chí còn rất  nghiêm trọng. Đó còn là do sự tác động của tư tưởng trục lợi cá nhân trong tình  hình hiện nay bị ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường, do một bộ phận   cán   bộ,   đảng   viên   thoái   hoá,   biến   chất,   thích   hưởng   thụ,   tham   nhũng,   đục  khoét… Do  đó, việc dùng người  hiền tài  đòi hỏi phải kiên trì nguyên tắc tính   Đảng, phải loại trừ nọc độc và ảnh hưởng của sự  ích kỷ, tự  tư  tự lợi, bè phái,  dùng người thân; kiên quyết thực hiện chí công vô tư, dùng người hiền tài thì   mới có thể tạo ra một thời kỳ mới, nhân tài nảy nở, đảm bảo cho sự  phát triển   toàn diện đất nước và địa phương. 3.3/­  Người lãnh đạo lựa chọn hiền tài phải coi trọng cả  tài và đức,   lấy đức làm gốc:
  13. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở “Có tài mà không có đức là hỏng.  Có đức mà chỉ i, tờ thì dạy thế nào? Đức phải có trước tài”. Tài, đức song toàn là thể hoàn chỉnh thống nhất giữa đức và tài, nó không  thể tách rời, không thể thiếu một trong hai. Tách rời đức, tài sẽ  mất đi phương   hướng; không có tài, đức trở thành một thứ trống rỗng. Do đó cán bộ, đảng viên  phải nỗ lực phấn đấu vươn lên nâng cao trình độ, chuyên môn và nghiệp vụ, làm  cho bản thân mình trở thành “vừa hồng vừa chuyên”. Trong giai đoạn hiện nay, đối với công tác cán bộ, cần phải khẩn trương   thực hiện “xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở  các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống,  có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, sáng tạo, gắn bó với nhân  dân. Có cơ chế và chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ;   trọng dụng những người có đức, có tài”. Việc lựa chọn, đề bạt cán bộ vừa phải  có đức, có tài lấy đức làm gốc. Người có đức, có tài sẽ làm được nhiều việc tốt,   kẻ xấu có tài như hổ thêm vuốt, càng trở nên nguy hiểm. Như  vậy, lựa chọn hiền tài, người  lãnh  đạo phải chú ý: tránh khuynh  hướng chỉ nhấn mạnh quá mức hoặc theo kiểu đánh giá người đức tốt là người   sống tròn trĩnh trong sử  xự, né tránh công việc khó, ít va chạm… mà không coi  trọng tài hoặc khuynh hướng coi trọng tài quá mức mà không coi trọng đức. Để  thực hiện đúng nguyên tắc này phải lấy đức làm tiền đề, chọn tài trong số  đó,   phải coi trọng việc lấy tiêu chí tài đức song toàn, trong đó đức là gốc là phương  châm chỉ  đạo, như  sợi chỉ  đỏ  xuyên suốt chiến lược cán bộ  của Đảng ta hiện   nay. 3.4/­ Người lãnh đạo phải biết phát huy sở trường, hạn chế sở đoản,   tận dụng tài năng trong việc lựa chọn cán bộ, lựa chọn hiền tài: Trong thực tế “Ngọc còn có vết, nhân vô thập toàn”, do đó, trong cách nhìn   nhận, sử  dụng cán bộ  phải theo nguyên tắc “Dụng nhân như  dụng mộc.   Cây  cong dùng việc cong, cây thẳng dùng việc thẳng”. Tương tự  như  vậy, cán bộ  giỏi nghề  nào thì giao việc  ấy, nếu giao nhầm vừa hỏng việc vừa hỏng người.   Một vấn đề  người lãnh đạo cần chú ý: theo quan điểm của phép duy vật biện   chứng, mọi sự  vật, hiện tượng đều được hình thành trên cơ  sở  tồn tại của các   mặt đối lập, nhân tài cũng vậy. Người tài năng xuất chúng thì khuyết điểm của  họ  cũng tương đối rõ ràng, còn kẻ  không có những khuyết điểm rõ rệt, thường  cẩn thận từng ly thì cũng không có tài cán gì nổi bật.  Một người lãnh đạo có tư  cách, có năng lực, một lòng một dạ vì thành công của sự nghiệp, mong muốn thu  
  14. được thành tựu to lớn trên cương  vị  công tác của mình là thường có những   khuyết điểm trên mặt nào đó, họ  có thể  dùng những người có sở  trường đặc  biệt, thậm chí có thể sử dụng người giỏi hơn mình. Nếu những người lãnh đạo chỉ  nhìn thấy sở  đoản của người khác mà  không thấy rõ sở  trường của họ, nếu như  dùng người chỉ  chú ý sở  đoản mà  không tận dụng hết sở  trường của họ, nếu như chỉ sử dụng người có tài năng  kém hơn mình mà không dùng người có tài năng hơn mình thì bản thân người   lãnh đạo đó cũng chỉ là một kẻ bất tài. Do vậy người lãnh đạo phải phân tích cụ  thể  sở  đoản của cán bộ  dưới quyền để  sử  dụng thoả  đáng. Việc dùng người  không thể không xem xét sở đoản của cán bộ, nếu như sở  đoản của họ  gây trở  ngại lớn đến sở  trường thì tốt nhất không nên dùng; nếu như  sở  đoản của họ  không gây trở  ngại cho sở  trường thì nhất định phải dùng. Nếu sở  đoản có thể  gây trở ngại cho sở trường thì khi dùng sở trường phải chú ý đề phòng, hạn chế  sở đoản. Nếu có thể bằng giáo dục, giúp đỡ của lãnh đạo và sự  rèn luyện trong   công tác từng bước bồi dưỡng sở trường, khắc phục sở đoản của họ. Tóm lại, phát huy sở trường, hạn chế sở đoản, tận dụng hết tài năng của  mỗi người là điểm mấu chốt trong dùng người của lãnh đạo, là nghệ  thuật của  khoa học dùng người, là nguyên tắc quan trọng trong tuyển chọn, sử dụng nhân   tài của người lãnh đạo. 3.5/­ Nguyên tắc chức vụ tương xứng với năng lực: Các chức vụ  khác nhau có yêu cầu khác nhau đối với nhân tài, nhân tài   khác nhau cũng có sự thích ứng khác nhau đối với các chức vụ công tác. Kết hợp   thoả  đáng hai điều đó để  vừa đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ  công tác, vừa   phát huy đầy đủ  năng lực của nhân tài. Nguyên tắc này bao gồm hai phương   diện quan trọng đồng đẳng: Một là, việc lãnh đạo bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ  công tác là đại cục,  là trước tiên phải giáo dục cho cán bộ phục tùng yêu cầu và sự phân công, không   thể thoát ly khỏi yêu cầu của sự nghiệp, nhấn mạnh quá mức những ý thích và   ham mê của cá nhân. Hai là, trên cơ  sở  bảo đảm hoàn thành công tác, đồng thời lãnh đạo phải  xem xét cẩn thận, chiếu cố đến ý thích và sở trường của cán bộ. Đó không chỉ là  sự  hợp lý mà còn có thể  thực hiện được. Đây vừa là nguyên tắc điều phối cán   bộ, vừa là chức trách của người lãnh đạo.
  15. Do vậy, lãnh đạo và cán bộ  tổ  chức nhân sự  phải hiểu biết chính xác và  nghiên cứu tỉ mỉ công tác của nhân viên do mình phụ trách, lãnh đạo. 3.6/­ Người lãnh đạo dùng người không nên nghi ngờ, đã nghi người   thì chớ dùng: Dùng người thì chớ  nghi, nghi người chớ  dùng người. Dùng người chớ  nghi là hễ dùng họ thì phải tin cậy họ. Nguyên tắc này có thể gọi là nguyên tắc   tin cậy. Nhưng nếu chỉ  nói dùng người chớ  nghi thì sẽ  phiến diện, đồng thời  phải bổ sung nghi người chớ dùng. Đối với những người vi phạm pháp luật, kỷ  luật trầm trọng, ngoan cố chống đối đường lối của Đảng, phẩm chất đạo đức  kém, chuyên  ỷ  quyền, mưu lợi cho cá nhân thì đương nhiên không tin cậy và  trọng dụng, nếu không tai hại vô cùng. Nguyên tắc này là điều kiện cơ bản trong   dùng người của lãnh đạo. Nếu một cán bộ  cấp dưới không có được sự  tin cậy  của lãnh đạo, chí ít tin cậy cơ  bản  ở  mức thấp nhất thì tuyệt nhiên không thể  phát huy toàn bộ  tài năng của mình, tài trí thông minh sẽ  bị hạn chế  và ức chế.   Sự tin cậy của lãnh đạo đối với cán bộ  không phải mù quáng mà có điều kiện,   tài đức song toàn đáng được lãnh đạo tin cậy, lại xây dựng được quan hệ tin cậy   lẫn nhau, sẽ trở thành một quần thể hỗ trợ, hiệp đồng chặt chẽ  với nhau. Điều  kiện tất yếu và đầy đủ để xây dựng mối quan hệ tin cậy lẫn nhau giữa lãnh đạo  và cán bộ thuộc quyền: Trước hết, bản thân lãnh đạo phải tài đức song toàn, phẩm chất đạo đức   cao thượng, tác phong đứng đắn, luôn giữ chữ tín làm tấm gương cho cấp dưới. Thứ  hai, đối với cấp dưới, người lãnh đạo phải tôn trọng, chân thành,   thẳng thắn, là một người bạn thật sự của cán bộ. Thứ  ba, người lãnh đạo không được đố  kỵ  tài năng, phải đánh giá chính  xác đúng, sai thành tích trong công tác của cán bộ. Thứ tư, không nghe lời dèm pha của kẻ xấu, cơ hội. Như  vậy, giữa lãnh đạo và cấp dưới chỉ  có đoàn kết, nhất trí, đồng tâm,  đồng sức, kết thành một chỉnh thể  hữu cơ  không thể  chia cắt mới có thể  hiệp  lực hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác. 3.7/­ Người lãnh đạo phải rộng rãi, độ lượng, khoan dung, đoàn kết: Người lãnh đạo phải có tấm lòng rộng rãi, độ  lượng, phải có tư  tưởng  luôn giữ lấy nhân tài, mong có hiền tài như  khát nước; phải xử lý tốt mối quan 
  16. hệ  giữa cán bộ  cũ, cán bộ  mới, không phân biệt cán bộ  công, nông với tri thức,   cán bộ đảng viên, cán bộ ngoài đảng, cán bộ các dân tộc khác nhau. Phải chống   tư  tưởng và thái độ  người lãnh đạo chỉ  thích những cán bộ  chỉ  biết vâng lời,  khúm núm, thậm chí chỉ thích những kẻ chỉ biết cung kính, tâng bốc, a dua, nịnh   hót mình; ngược lại, ghen ghét những người cương trực, chí công vô tư, thường  dám nói thẳng. 3.8/­ Người lãnh đạo không những phải sử dụng cán bộ chính xác, mà   còn phải thường xuyên chăm lo bồi dưỡng cán bộ, cụ thể: ­ Tăng cường giáo dục, khai thác trí lực, tìm mọi giải pháp bồi dưỡng nhân  tài, nắm chắc khoa học kỹ thuật và khoa học quản lý hiện đại cho nhân viên. ­ Tạo điều kiện bố  trí nhiệm vụ  cho cấp dưới, trao đổi phương pháp,  bước đi của công việc, giúp cán bộ rèn luyện trong thực tế công tác. ­ Định kỳ  kiểm tra, kịp thời tổng kết công tác của cán bộ  cấp dưới, thúc  đẩy công tác và nâng cao trình độ cán bộ. Đối với những cán bộ  phạm sai lầm, khuyết điểm có thể  sửa chữa, lãnh  đạo cần tăng cường giáo dục, không được loại bỏ họ. Kết hợp phê bình nghiêm  túc, sắc bén với phê bình một cách khoa học, phải thành tâm giúp đỡ họ sửa chữa  sai lầm… giúp họ không đánh mất niềm tin và có dũng khí vươn lên. Đồng thời  phải biểu dương cán bộ  có thành tích, khi biểu dương phải đặt ra yêu cầu cao  hơn, chỉ ra phương hướng vươn lên, không để họ kiêu căng, tự mãn mà dừng lại.  Lãnh đạo phải áp dụng các biện pháp bồi dưỡng, giáo dục trong thực tiễn, ra   sức đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ  kế  cận. Đây không chỉ  là nguyên tắc mà  còn là nhiệm vụ chiến lược không thể thiếu của người lãnh đạo. 3.9/­ Khích lệ, yêu mến, bảo vệ, thưởng phạt phân minh đòi hỏi phải   đánh giá một cách chính xác đúng, sai trong quá trình công tác của cán bộ: Để  đánh giá chính xác đúng, sai lãnh đạo phải làm gương cho cấp dưới,  thúc đẩy lập công, ngăn ngừa sai lầm; quyết không được ngăn cản việc lập  công, thúc đẩy hoặc che đậy sai lầm. Những người lãnh đạo mà công thì vơ  về  mình, sai lầm thì đổ cho cấp dưới thì không thể làm gương, không phải là người  dồn hết sức lực, độc lập, dám chịu trách nhiệm trong công tác. Đối với cấp  dưới, người lãnh đạo phải yêu mến, quan tâm, phải bồi dưỡng, phải khẳng định  tất cả thành tích, ưu điểm của họ. Đối với cán bộ trẻ có tinh thần khai phá, dám   lao vào thực tiễn, tuy có thành tích công lao nhưng vẫn vấp phải sự phê phán, chỉ  trích thì cán bộ  lãnh đạo càng phải khẳng định, biểu dương.. Khi cán bộ  cấp 
  17. dưới vấp phải sự  đả  kích không công bằng, không đúng sự  thật thì người lãnh  đạo càng phải bảo vệ,  ủng hộ  về mặt tinh thần; lúc này sự  bảo vệ  quan trọng   hơn cả biểu dương. Người lãnh đạo còn phải công minh trong việc thưởng phạt, với những   người có thành tích phải trọng thưởng, những người lơ là chức trách phải bị xử  phạt, người vi phạm kỷ luật thì phải xử  lý kỷ  luật, kẻ  phạm pháp phải đưa ra  xét xử. Triển khai thi đua, tổ chức cạnh tranh lành mạnh liên tục, rộng khắp để  khích lệ cán bộ. Khích lệ cán bộ tránh đố kỵ và người cán bộ tuyệt đối tránh đố  kỵ vì đố  kỵ  là kẻ  thù lớn nhất trong công tác tuyển chọn, sử  dụng nhân tài, trở  ngại lớn cho việc nỗ lực phấn đấu của nhân tài. Quan tâm đến những khó khăn,   hoàn cảnh, tâm tư nguyện vọng của cán bộ; đồng cam cộng khổ với họ thì mới   xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp và tác dụng khích lệ nhau cùng vươn lên. Về nhận xét, đánh giá chính xác cán bộ sau khi xem xét toàn diện cấp dưới  bao gồm ưu điểm, khuyết điểm, thành tích, sai lầm một cách cầu thị, toàn diện,  lịch sử và phát triển.
  18. KẾT LUẬN Tư tưởng về  con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế  giới quan duy vật  triệt để của chủ nghĩa Mác ­ Lênin. Chính vì xuất phát từ thế giới quan duy vật   triệt để ấy, nên khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình (với tư cách  là lãnh tụ), Người không bao giờ  cho mình là người giải phóng nhân dân. Theo   quan điểm của Hồ Chí Minh, người cán bộ  (kể cả  lãnh tụ) chỉ  là "đầy tớ  trung  thành" có sứ  mệnh phục vụ  nhân dân, lãnh tụ  chỉ  là người góp phần vào sự  nghiệp cách mạng của quần chúng. Tư tưởng này đã vượt xa và khác về chất so  với tư tưởng "chăn dân" của những người cầm đầu nhà nước phong kiến có tư  tưởng yêu nước xưa kia. Và đây, cũng chính là điều đã làm nên chủ  nghĩa nhân  văn cao cả ở Hồ Chí Minh, một chủ nghĩa nhân văn cộng sản trong cốt cách của  một nhà hiền triết phương Đông. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ  tịch Hồ  Chí Minh sáng lập, lấy chủ  nghĩa Mác ­ Lênin và tư tưởng Hồ  Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ  nam cho hành động. Tư tưởng về con người của Đảng Cộng sản Việt Nam nhất   quán với tư  tưởng về  con người của Hồ  Chí Minh. Sự  nhất quán ấy được thể  hiện qua đường lối lãnh đạo cách mạng và qua các chủ  trương chính sách của  Đảng trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc  và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện  nay, tư  tưởng đó tiếp tục được Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Con   người Việt Nam đang là trung tâm trong "chiến lược phát triển toàn diện"; đang  là động lực của công cuộc xây dựng xã hội mới với mục tiêu "dân giàu, nước   mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội".
  19. Thực hiện nhất quán quan điểm, tư  tưởng của Chủ  tịch Hồ  Chí Minh về  sử  dụng cán bộ, nhân tài để  thực hiện các nguyên tắc lựa chọn người hiền tài  của người lãnh đạo là một chức trách, một nhiệm vụ  đặc biệt quan trọng của  người lãnh đạo. Nắm chắc và kiên định các nguyên tắc trong khi tuyển dụng cán   bộ hiện nay là một yêu cầu đòi hỏi người lãnh đạo phải thực hiện. Thành công của nhân tài và việc tuyển dụng nhân tài không chỉ dựa vào nỗ  lực cá nhân mà đòi hỏi phải có sự  bồi dưỡng của tổ  chức, sự   ủng hộ, giúp đỡ  của lãnh đạo các cấp. Chỉ khi nào lãnh đạo thực hiện tốt chức năng bồi dưỡng,   đào tạo nhân tài, thì nhân tài sẽ xuất hiện ngày càng nhiều.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản