intTypePromotion=1
ADSENSE

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Luật học: Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước

Chia sẻ: Huc Ninh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:27

36
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu của luận văn "Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước" nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn để đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận án tiến sĩ Luật học: Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước

  1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH ĐỖ TIẾN DŨNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHỦ TỊCH NƯỚC TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT Mã số: 62 38 01 01 HÀ NỘI - 2018
  2. Công trình được hoàn thành tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Mạnh Phản biện 1: ...................................................... ...................................................... Phản biện 2: ...................................................... ...................................................... Phản biện 3: ...................................................... ...................................................... Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Vào hồi...... giờ....... ngày...... tháng...... năm 2018 Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia và Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
  3. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Về mặt lý luận, xuất phát từ vị trí, vai trò và nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với Chủ tịch nước. Lịch sử nhà nước và pháp luật chỉ ra rằng, cùng với quá trình ra đời, phát triển của nhà nước thì trong bộ máy nhà nước (BMNN) các quốc gia luôn tồn tại thiết chế ở vị trí cao nhất - đứng đầu nhà nước (ĐĐNN) hay còn gọi là nguyên thủ quốc gia (NTQG). Nguyên thủ quốc gia luôn có vai trò và tầm ảnh hưởng hết sức đặc biệt quan trọng đối với nhà nước và quốc gia; không chỉ thực hiện quyền lực nhà nước, thay mặt cho nhà nước, quốc gia trong đối nội, đối ngoại, mà còn, là biểu tượng cho sự trường tồn của dân tộc, là đại diện cho sự thống nhất quốc gia, là lãnh tụ tinh thần gắn kết, khơi dậy, phát huy sức mạnh toàn dân và khối đoàn kết toàn dân tộc nhằm duy trì ổn định chính trị và hướng tới phát triển. Với vị trí, vai trò như vậy, NTQG nói chung và Chủ tịch nước ở Việt Nam nói riêng đã sớm trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học pháp lý. Đối với Việt Nam, nhu cầu nghiên cứu về Chủ tịch nước còn cần thiết, cấp thiết hơn khi chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa (XHCN) - mô hình đặc thù, chưa có tiền lệ, lại đang trong thời kỳ đầu của giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội nên còn “nhiều vấn đề về nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền, về tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, về quyền làm chủ của nhân dân còn chưa được làm sáng tỏ”. Vì vậy, với riêng pháp luật về Chủ tịch nước, Đảng đã khẳng định cần “nghiên cứu xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước để thực hiện đầy đủ chức năng NTQG, thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại và thống lĩnh các lực lượng vũ trang; quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Về mặt thực tiễn, xuất phát từ nhu cầu, yêu cầu cần khắc phục những hạn chế, bất cập từ thực trạng pháp luật về Chủ tịch nước ở Việt Nam. Trải qua hơn 70 năm ra đời, phát triển của Nhà nước ta, pháp luật về Chủ tịch nước đã dần hoàn thiện hơn, từng bước xác lập địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước để khẳng định, phát huy vị trí, vai trò của người ĐĐNN, thay mặt cho Nước trong trong đối nội, đối ngoại, có những đóng góp quan trọng vàp thành tựu to lớn của đất nước trong suốt quá trình lịch sử. Tuy nhiên, thực tế cũng đã cho thấy không ít hạn chế, bất cập. Xét trong cả quá trình hình thành, phát triển, pháp luật về Chủ tịch nước thiếu ổn định. Qua 5 phiên bản Hiến pháp (các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013), có đến 3 lần thay đổi về tên gọi, tổ
  4. 2 chức và thẩm quyền của thiết chế ĐĐNN. Đối với pháp luật về Chủ tịch nước hiện hành, còn nhiều hạn chế, bất cập. Về mặt hình thức, rất tản mạn, thiếu tính thống nhất, đồng bộ, cụ thể, chi tiết. Về nội dung, quy định về vai trò thay mặt Nước còn mờ nhạt, thiếu quy định điều chỉnh mối quan hệ với Đảng, Mặt trận Tổ quốc…; nhiều nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước còn chung chung, chưa tương xứng với vị trí, vai trò như về thống lĩnh lực lượng vũ trang, về mối quan hệ với các thiết chế khác trong BMNN; quy định về tổ chức của thiết chế còn ít, đơn giản… Tóm lại, việc nghiên cứu “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước” là cần thiết, mang tính cấp thiết; phù hợp với chuyên ngành đào tạo “Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật” (Mã số: 60 38 01 01). 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án 2.1. Mục đích: Thông qua nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn để đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước. 2.2. Nhiệm vụ: (i) Khái quát tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước để xác định những vấn đề mà Luận án sẽ tập trung nghiên cứu, làm rõ. (ii) Làm rõ cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước; tìm hiểu pháp luật một số nước trên thế giới và rút ra một số giá trị, kinh nghiệm phù hợp với Việt Nam có thể tiếp thu. (iii) Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về Chủ tịch nước để chỉ ra ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân. (iv) Đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu pháp luật về Chủ tịch nước dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, trong đó, đối tượng nghiên cứu trọng tâm là các quy định của pháp luật về Chủ tịch nước. 3.2. Phạm vi nghiên cứu: Về tài liệu nghiên cứu, chủ yếu nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), trọng tâm là Hiến pháp và văn bản cấp luật. Về thời gian, nghiên cứu toàn bộ quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về Chủ tịch nước từ khi thành lập nước cho đến nay, nhưng tập trung nghiên cứu giai đoạn từ khi ban hành Hiến pháp năm 2013 được ban hành. Về không gian, tập trung nghiên cứu ở Việt Nam. 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận án lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước, pháp luật, về tổ chức quyền lực nhà nước là cơ sở lý luận. Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng là nền tảng, xuyên suốt; quan điểm toàn diện và phát triển trong triết học Mác -
  5. 3 Lênin là cơ sở để xác định, xem xét, phân tích, luận giải và giải quyết các vấn đề, nội dung nghiên cứu một cách có hệ thống, có trọng tâm, trọng điểm; gắn với lịch sử và từ thực tiễn. Luận án phân loại và sử dụng chủ yếu 2 nhóm phương pháp nghiên cứu đó là: (i) Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết như phân tích - tổng hợp lý thuyết; phân loại, hệ thống hoá lý thuyết và mô hình hoá; lịch sử và phương pháp giả thuyết. (ii) Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn sẽ tập trung sử dụng phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm, chuyên gia, điều tra. Bên cạnh đó, Luận án còn sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu như tìm kiếm, tra cứu thông tin, dịch thuật... Việc sử dụng các phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu là linh động, có thể kết hợp với nhau, tuỳ thuộc vào từng nội dung, vấn đề và mục đích, mức độ nghiên cứu. 5. Đóng góp mới của Luận án 5.1. Về mặt lý luận: Luận án góp phần: (i) Làm rõ hơn khái niệm, đặc điểm của Chủ tịch nước; (ii) Xây dựng khái niệm pháp luật về Chủ tịch nước, làm rõ hơn đặc điểm, vị trí, vai trò và nội dung, hình thức của pháp luật về Chủ tịch nước; (iii) Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện; chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước; (iv) Đồng thời, từ kết quả nghiên cứu mô hình, pháp luật một số nước trên thế giới về NTQG, đã khái quát hoá để rút ra một số bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể nghiên cứu tiếp thu trong quá trình hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước. Trong những đóng góp về mặt lý luận như trên, Luận án đã có những đóng góp mới ở một số khía cạnh so với các công trình khác. Có thể kể đến như: khái niệm, đặc điểm của Chủ tịch nước, của pháp luật về Chủ tịch nước (lý giải, làm rõ hơn vì sao Chủ tịch nước thường là cá nhân; tại sao Chủ tịch nước vừa là người ĐĐNN, đồng thời là NTQG; vì sao Việt Nam lấy tên gọi là Chủ tịch nước...); khung lý thuyết về nội dung của pháp luật về Chủ tịch nước; hay một số nhận xét về cơ sở, nguyên lý để các quốc gia lựa chọn, điều chỉnh mô hình NTQG. 5.2. Về mặt thực tiễn: Luận án là công trình nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, cụ thể, cập nhật nhất pháp luật về Chủ tịch nước, từ khi hình thành, phát triển và cho đến nay. 5.3. Về kiến nghị giải pháp: Là một trong số rất ít công trình nghiên cứu khoa học đưa ra các giải pháp mang tính tổng thể, toàn diện và cụ thể nhất nhằm hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013. Đồng thời,
  6. 4 Luận án còn đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước một cách căn bản, về lâu dài, khi có điều kiện sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận án đã góp phần bồi đắp, làm sáng tỏ hơn những giả thuyết, luận điểm, học thuyết của các nhà khoa học về những vấn đề liên quan đến sự ra đời, phát triển của thiết chế ĐĐNN, NTQG cũng như pháp luật về Chủ tịch nước. Từ đó, giúp mọi người hiểu rõ hơn những vấn đề pháp lý về Chủ tịch nước. Đồng thời, thông qua nghiên cứu thực trạng pháp luật về Chủ tịch nước, Luận án cũng góp phần giúp người đọc có thêm thông tin, hiểu biết hơn về tổ chức, hoạt động của Chủ tịch nước; cung cấp thêm những tri thức kinh nghiệm, thực tiễn để kiểm nghiệm, đánh giá tính tương thích của những quan điểm, lý thuyết về pháp luật Chủ tịch nước; qua đó, tiếp tục làm sáng tỏ, củng cố thêm sự đúng đắn của lý thuyết trên thực tế hoặc phát hiện những khía cạnh, xu thế mới làm cơ sở và đặt ra yêu cầu cần đổi mới, hoàn thiện lý thuyết 6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước có thể được sử dụng và ứng dụng trên thực tế ở góc độ: (i) Góp phần giúp Chủ tịch nước, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan nhìn nhận lại, hiểu rõ hơn quyền, nghĩa vụ và thực tiễn hoạt động của mình; từ đó, có những điều chỉnh phù hợp để khắc phục những hạn chế, bất cập, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mình. (ii) Cung cấp thêm thông tin tham khảo phục vụ hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm thể chế hoá kịp thời, đầy đủ, cụ thể các quy định của HP năm 2013 nói chung và pháp luật về Chủ tịch nước nói riêng. (iii) Là tài liệu tham khảo tin cậy cho hoạt động nghiên cứu và giảng dạy ở Việt Nam. 7. Bố cục của Luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án gồm 4 chương, 12 tiết.
  7. 5 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án 1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước 1.1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về bộ máy nhà nước và pháp luật về bộ máy nhà nước Trong nhóm này, Luận án đã tiếp cận, tìm hiểu khoảng 30 công trình; trong đó, lựa chọn 7 công trình tiêu biểu theo nội dung vấn đề để tổng hợp, phân tích, nhận xét, đánh giá. (1) Nhóm công trình nghiên cứu về BMNN gồm: (i) Nghiên cứu về tổ chức quyền lực nhà nước có: Cuốn "Một số vấn đề về tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước", Nguyễn Minh Đoan và nhóm tác giả; Cuốn "Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay” của Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh; Cuốn “Sự hạn chế quyền lực Nhà nước" của Nguyễn Đăng Dung; Cuốn “Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước” của Thái Vĩnh Thắng;...; (ii) Nghiên cứu về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có: Đề tài cấp Nhà nước “Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng” của Đào Trí Úc; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, pháp chế và sự vận dụng trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Trịnh Đức Thảo; Cuốn "Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Lý luận và thực tiễn" của Nguyễn Văn Mạnh;... (2) Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về BMNN có: Cuốn "Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Lê Minh Tâm; Cuốn "Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Minh Đoan; "Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay” của Dương Thị Mai; Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” của Bộ Chính trị... 1.1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về Chủ tịch nước Luận án đã tiếp cận, tìm hiểu khoảng 24 công trình; trong đó, lựa chọn 10 công trình tiêu biểu theo nội dung vấn đề để tổng hợp, phân tích, nhận xét, đánh giá. (1) Nhóm công trình nghiên cứu thiết chế Chủ tịch nước có một số công trình tiêu biểu như: "Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiết chế Chủ tịch nước ở Việt Nam” của Bùi Ngọc Sơn; “Đổi mới thiết chế Chủ tịch nước và Chính phủ ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Hồi, Phạm Quang Tiến; “Thiết chế Chủ tịch Nước trong điều kiện xây dựng NNPQ, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” của Nguyễn Thị Hồi;
  8. 6 “Hoàn thiện thiết chế chủ tịch nước nhằm đảm bảo vai trò NTQG” của Lê Thiên Hương; "Mối quan hệ của thiết chế Chủ tịch nước với các cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương và cấu trúc bộ máy của thiết chế Chủ tịch nước” của Nguyễn Thị Doan. (2) Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về Chủ tịch nước có Đề tài cấp bộ “Hoàn thiện chế định Chủ tịch nước trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta hiện nay” của Ngô Văn Minh; Cuốn "Những vấn đề lý luận và thực tiễn sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992” của Uông Chu Lưu (Chủ biên); Cuốn “Đổi mới, hoàn thiện BMNN trong giai đoạn hiện nay” của Bùi Xuân Đức; Cuốn "Chế định NTQG trong các Hiến pháp Việt Nam” của Đỗ Minh Khôi (chủ biên); Đề tài cơ sở "Nghiên cứu so sánh về chế định NTQG trong Hiến pháp một số nước trên thế giới và Hiến pháp Việt Nam” của Đỗ Tiến Dũng; "Hiến pháp mới với vị trí, vai trò của NTQG - Chủ tịch nước” của Cao Vũ Minh; "Chế định chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 2013 và việc xây dựng Luật về hoạt động của Chủ tịch nước” của Cao Vũ Minh, Võ Phan Lê Nguyễn. 1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1.1.2.1. Nhóm công trình nghiên cứu về tổ chức bộ máy nhà nước, pháp luật về bộ máy nhà nước Luận án đã tiếp cận, tìm hiểu trên 30 công trình; trong đó, lựa chọn khoảng 10 công trình tiêu biểu theo nội dung vấn đề để tổng hợp, phân tích, nhận xét, đánh giá. (1) Nhóm công trình nghiên cứu về BMNN gồm: (i) Nghiên cứu lý thuyết chung về Nhà nước, pháp luật có Cuốn “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” của Ph.Ăngghen (1884); (ii) Nghiên cứu về hình thức chính thể có: Cuốn "Hình thức của các nhà nước đương đại" của Nguyễn Đăng Dung; Cuốn "Political Institutions in Europe” của Josep Colomer; Cuốn "Thể chế chính trị các nước Châu Âu” của Thái Vĩnh Thắng, Nguyễn Đăng Dung và Nguyễn Chu Dương; Cuốn ”A System of Governance: Parliamentary Or Presidential”, Naunihal Singh; (iii) Nghiên cứu về tổ chức BMNN ở các nước có Cuốn "Lược giải tổ chức bộ máy nhà nước của các quốc gia” của Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Chu Dương; Đề tài “Tổ chức bộ máy nhà nước trung ương ở một số quốc gia Châu Âu (Pháp, Đức, Thụy Điển)” của Nguyễn Đức Minh; (iv) Nghiên cứu về phân chia, kiểm soát quyền lực có: Cuốn "Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước” của Nguyễn Thị Hồi; Cuốn ”Limits to democratic constitutionalism in Central and Eastern Europe” của Puchalska, Bogusia. (2) Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về tổ chức BMNN gồm: (i) Nghiên cứu mang tính hệ thống hoặc so sánh có: Cuốn "Tuyển tập Hiến pháp của một số Quốc gia” của Nguyễn Đăng Dung và các cộng sự; Cuốn "Nghiên cứu so sánh Hiến pháp các quốc gia Asean” của Tô Văn Hòa; Cuốn ”The Constitutional Systems of the Commonwealth Caribbean: A Contextual Analysis”, Derek O'Brien; Cuốn
  9. 7 ”Constitution-making in the Region of Former Soviet Dominance” của Rett R. Ludwikowski; Cuốn ”The Constitutional Systems of the Independent Central Asian States: A Contextual Analysis” của Scott Newton; (ii) Nghiên cứu ở một quốc gia cụ thể có: Cuốn "The Constitution of Vietnam: A Contextual Analysis” của Mark Sidel; Cuốn "The Constitution of Japan: A Contextual Analysis” của Shigenori Matsui; Cuốn "The Constitution of Malaysia: A Contextual Analysis” của Andrew Harding; Cuốn "The Constitution of France: A Contextual Analysis” của Sophie Boyron; Cuốn "The Constitution of the Russian Federation: A Contextual Analysis” của Jane Henderson; Cuốn "The Constitution of China: A Contextual Analysis” của Qianfan Zhang; Cuốn "The Constitutional System of Germany: A Contextual Analysis) của Werner Heun”... 1.1.2.2. Nhóm công trình nghiên cứu pháp luật về thiết chế đứng đầu nhà nước Luận án đã tiếp cận, tìm hiểu khoảng 15 công trình; trong đó, lựa chọn 5 công trình tiêu biểu theo nội dung vấn đề để tổng hợp, phân tích, nhận xét, đánh giá. Trong đó, (i) nghiên cứu pháp luật gắn với hình thức chính thể có: Cuốn "Comparative Study of the Role of the Head of State in Parliamentary and Presidential Systems of Government” của Mohd. Tahir Nasiri; “Chế định nguyên thủ quốc gia ở các nhà nước tư sản” của Thái Vĩnh Thắng; Cuốn "The presidential republic: executive representation and deliberative democracy” của Gary L. Gregg; (ii) nghiên cứu pháp luật ở một quốc gia hoặc ở một khía cạnh nhất định có: Cuốn "The Indonesian Presidency: The Shift from Personal Toward Constitutional Rule” của Angus McIntyrel Cuốn "Presidential power in Fifth Republic France” của David S. Bell; Cuốn: "Presidents with Prime Ministers: Do Direct Elections Matter?” của Margit Tavits; hay Cuốn “The president, the public, and the parties” của Đại học California; Cuốn “The Presidential Veto” của R. J. Spitzer... 1.2. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu - Về mặt lý luận: Luận án cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ những giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu như: (1) Khái niệm, đặc điểm của Chủ tịch nước? (2) Khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức và vai trò của Pháp luật về Chủ tịch nước? (3) Đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về Chủ tịch nước dựa vào tiêu chí nào và chịu ảnh hưởng bởi yếu tố nào? (4) Pháp luật về thiết chế ĐĐNN ở các nước trên thế giới như thế nào; Việt Nam có thể nghiên cứu tiếp thu vấn đề gì? - Về mặt thực tiễn: Luận án tập trung nghiên cứu làm rõ những câu hỏi như: (1) Pháp luật về Chủ tịch nước được hình thành và trải qua các giai đoạn phát triển nào, có gì khác biệt và mức độ hoàn thiện qua từng giai đoạn? (2) Pháp luật về Chủ tịch nước hiện hành chứa đựng trong những văn bản QPPL nào, đã điều chỉnh những nhóm quan hệ nào với nội dung quy định ra sao; so với các tiêu chí đánh giá thì đã hoàn thiện chưa, ở mức độ nào, có ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân nào?
  10. 8 - Về quan điểm, giải pháp: Luận án cần trả lời các câu hỏi như: Để hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước thì phải (1) dựa trên hệ quan điểm với cách tiếp cận, định hướng nào; (2) cần thực hiện những giải pháp gì, tiến hành như thế nào? Tiểu kết chương 1 Ở mức độ khác nhau, các công trình khoa học được đề cập trong Chương 1 đều liên quan đến đề tài Luận án nhưng cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước một cách trực tiếp, toàn diện, hệ thống và cập nhật dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Bằng việc tập hợp, hệ thống, đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan, kết quả nghiên cứu trong Chương này đã chỉ ra những thành công, giá trị làm nguồn thông tin tham khảo, kiến thức cơ sở nền tảng, từ đó kết thừa, phát huy, phát triển để làm rõ thêm những vấn đề nghiên cứu của Luận án; đồng thời, chỉ ra những vấn đề lý luận và thực tiễn chưa được làm rõ hoặc còn "bỏ trống” mà Luận án cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước. Giá trị của Chương này là khẳng định việc lựa chọn đề tài hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước ở Việt Nam cho Luận án tiến sỹ là cần thiết, đáp ứng yêu cầu về tính mới trong nghiên cứu khoa học. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHỦ TỊCH NƯỚC 2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về Chủ tịch nước 2.1.1. Khái niệm pháp luật về Chủ tịch nước Chủ tịch nước là cơ quan/thiết chế đứng đầu Nhà nước, đại diện chung cho sự thống nhất và thay mặt Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong đối nội và đối ngoại. Pháp luật về Chủ tịch nước là tập hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội liên quan đến thiết chế Chủ tịch nước với vị trí, vai trò đứng đầu nhà nước, đại diện công cao nhất của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong đối nội và đối ngoại. 2.1.2. Đặc điểm pháp luật về Chủ tịch nước - Về lịch sử ra đời, QPPL về Chủ tịch nước ra đời rất sớm, gần như đồng thời với sự ra đời của nhà nước, pháp luật. - Về tính chất của quan hệ pháp luật, pháp luật về Chủ tịch nước điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản, mang tính chính trị - pháp lý rất cao; chủ yếu liên quan đến tổ chức QLNN và BMNN. - Về phạm vi điều chỉnh và quy mô, pháp luật về Chủ tịch nước có phạm vi điều chỉnh hẹp nhưng lại có sự giao thoa nhiều; số lượng QPPL không nhiều, quy mô ở tầm chế định pháp luật.
  11. 9 - Về nguồn của pháp luật, nguồn của pháp luật về Chủ tịch nước mang tính quốc tế - chính trị rất cao. - Về đặc điểm của QPPL, pháp luật về Chủ tịch nước có cấu trúc QPPL ngắn gọn, đơn giản; quy trình ban hành chặt chẽ, giá trị pháp lý cao, ổn định; tần suất áp dụng không thường xuyên, đối tượng áp dụng không đồng đều. 2.1.3. Vai trò của pháp luật về Chủ tịch nước - Là cơ sở pháp lý cho tổ chức, hoạt động của Chủ tịch nước; qua đó, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của Chủ tịch nước (Đối với thiết chế Chủ tịch nước). - Góp phần bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ, đầy đủ; tạo sự gắn kết giữa các bộ phận khác trong hệ thống pháp luật (Đối với với hệ thống pháp luật quốc gia). - Góp phần xác lập cơ chế tham gia, thể hiện và bảo đảm vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền; thể chế hoá quan điểm, chủ trương, đường lối của đảng cầm quyền thành pháp luật (Đối với đối với đảng). - Thể hiện bản chất, mô hình chính thể; là cơ sở để tổ chức, hoạt động BMNN; thực thi, kiểm soát QLNN; tạo sự gắn kết, duy trì mối quan hệ giữa các cơ quan trọng BMNN; là cơ sở để thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại nhà nước (Đối với nhà nước). - Là cơ sở pháp lý quan trọng để duy trì khối đại đoàn kết toàn dân tộc và ổn định nền chính trị; thể hiện, thực hiện và bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ quốc gia; thiết lập, duy trì, hiện thực hoá các mối quan với các quốc gia, dân tộc và các tổ chức quốc tế (Đối với quốc gia). 2.2. Nội dung, hình thức pháp luật về Chủ tịch nước 2.2.1. Nội dung pháp luật về Chủ tịch nước * Nội dung 1: Nhóm QPPL điều chỉnh việc hình thành nên và xác lập tư cách chủ thể: Đây là nhóm quan hệ mang tính nền tảng, gồm những quy định về: tên gọi; vị trí, vai trò; cách thức hình thành; thời hạn, thời điểm xác lập tư cách chủ thể; xử lý trường hợp khuyết Chủ tịch nước; …; * Nội dung 2: Nhóm QPPL quy định nhiệm vụ, quyền hạn. Đây nội dung trung tâm và chủ yếu nhất của pháp luật về Chủ tịch nước; là sự cụ thể hoá vị trí, vai trò và chức năng của Chủ tịch nước và cho thấy mối quan hệ với các chủ thể khác có liên quan. Thường được chia thành hai nhóm cơ bản gồm nhiệm vụ, quyền hạn trong đối nội và nhiệm vụ, quyền hạn trong đối ngoại. - Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong đối nội sẽ điều chỉnh các vấn đề nội bộ của nhà nước, của quốc gia và ở phạm vi trong nước. Phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn này tuỳ thuộc vào vị trí, vai trò của Chủ tịch nước có được từ việc tổ chức QLNN (ví dụ còn có thể đồng thời đứng đầu hành pháp). Chỉ xét riêng vị trí, vai trò là thiết chế ĐĐNN thì nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước sẽ thể hiện qua hai phương diện ở góc độ quốc gia (là NTQG) và ở góc độ nhà nước (một thiết chế trong BMNN): Ở góc độ quốc gia, Chủ tịch nước có 2 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn gồm: (i) Chứng thực Nhà nước (thẩm quyền công bố luật; tuyên bố, công bố
  12. 10 các quyết định về chiến tranh, hoà bình…); (ii) Đại diện Nhà nước (kêu gọi, hiệu triệu, thăm hỏi, động viên Nhân dân; hiện diện trong các ngày, công việc quan trọng của Nhà nước, quốc gia…). Ở góc độ Nhà nước, Chủ tịch nước là một thiết chế trong BMNN thực hiện một phần QLNN và gắn với các cơ quan khác trong BMNN. Theo đó, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước được xét (i) Trong lập pháp; (ii) Trong hành pháp; (iii) Trong tư pháp; (iv) Trong lĩnh vực khác (gồm thẩm quyền riêng và trong mối quan hệ với các thiết chế hiến định độc lập khác). - Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong đối ngoại chủ yếu gắn với vai trò đại điện công cao nhất của quốc gia, của Nhà nước trong quan hệ quốc tế, với các quốc gia khác và với các tổ chức quốc tế khu vực, thế giới. Phổ biến nhất là (i) trong thiết lập, duy trì, chấm dứt quan hệ bang giao (tiếp nhận, cử, triệu hồi đại sứ …); (ii) chứng nhận về sự tham gia và nội dung trách nhiệm quốc gia trong các tổ chức quốc tế (ký kết và thực hiện ĐƯQT); (iii) đại diện quốc gia, nhà nước trong các hoạt động ngoại giao, hoạt động quốc tế (đi thăm các nước, tiếp đón NTQG các nước, người đứng đầu các tổ chức quốc tế; tham gia tổ chức quốc tế…); * Nội dung 3: Nhóm QPPL để tổ chức và thực thi nhiệm vụ, quyền hạn, gồm quy định về: (i) tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch nước thông qua phân công, phân cấp, phân quyền làm hình thành tổ chức bộ máy của thiết chế; nguyên tắc, phương cách thức vận hành của thiết chế; (ii) quy trình, thủ tục thực hiện quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch nước; (iii) điều kiện duy trì, bảo đảm để thực hiện quyền, nghĩa vụ; * Nội dung 4: Nhóm QPPL về giám sát hoạt động và xử lý vi phạm thường gồm các quy định về (i) trách nhiệm của Chủ tịch nước trong việc báo cáo, chịu sự giám sát từ phía các chủ thể khác có liên quan; (ii) về cơ chế xử lý trách nhiệm đối với Chủ tịch nước và các chủ thể có liên quan khi có vi phạm như về hành chính là miễn nhiệm, bãi nhiệm; về hình sự là truy tố, xét xử… 2.2.2. Hình thức pháp luật về Chủ tịch nước Hình thức pháp luật về Chủ tịch nước thường được xem xét ở góc độ bên trong và bên ngoài. (i) Ở góc độ bên trong là cấu trúc nội tại của hệ thống QPPL như cách thể hiện, cách thức sắp xếp theo những nguyên tắc, lôgic nhất định để xác định vị trí và tạo sự gắn kết giữa các QPPL. (ii) Ở góc độ bên ngoài là tên gọi, loại hình văn bản QPPL trong hệ thống văn bản QPPL quốc gia. 2.3. Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước 2.3.1. Tiêu chí đánh giá nội dung pháp luật về Chủ tịch nước - Tính đầy đủ, toàn diện: Tức là, đánh giá xem nội dung pháp luật về Chủ tịch nước đã điều chỉnh các quan hệ xã hội cần điều chỉnh ở mức độ nào, là đầy đủ (phải có, không thiếu thứ gì), toàn diện (tất cả các mặt) hay chưa. - Tính chính trị, hợp hiến và chính xác: Đây là tiêu chí đặc thù, phản ánh đặc điểm, tính chất của thiết chế Chủ tịch nước và của pháp luật về Chủ tịch nước.
  13. 11 Trong đó, tính chính trị được đánh giá qua mức độ phản ánh thực trạng chính trị Việt Nam và phù hợp với đặc điểm chế độ chính trị Việt Nam. - Tính thực tiễn và khả thi: Tức là, đánh giá mức độ phù hợp của nội dung pháp luật về Chủ tịch nước so với yêu cầu, hiệu quả điều chỉnh xem có xuất phát và phù hợp với thực trạng, điều kiện kinh tế - xã hội hay không. - Tính thống nhất, đồng bộ và tương thích: Tức là, đánh giá mức độ bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của nội dung các QPPL về Chủ tịch nước với nhau (bên trong) và với các QPPL khác trong hệ thống pháp luật quốc gia (bên ngoài). 2.3.2. Tiêu chí đánh hình thức pháp luật về Chủ tịch nước - Sự phù hợp với nội dung: Tức là, đánh giá xem hình thức pháp luật về Chủ tịch nước có phản ánh đầy đủ, thống nhất, chính xác so với nội dung pháp luật về Chủ tịch nước hay không. - Tính lô gíc, hệ thống và tương thích: Tức là đánh giá xem cấu trúc bên trong của pháp luật về Chủ tịch nước có được sắp xếp theo một trật tự, nguyên tắc thống nhất; có phản ánh đúng vị trí, tính thứ bậc của từng QPPL trong hệ thống và tạo sự gắn kết giữa các QPPL với nhau hay không? Đồng thời, đánh giá xem cấu trúc bên ngoài của pháp luật về Chủ tịch nước có phù hợp với cấu trúc của hệ thống văn bản QPPL quốc gia hay không. 2.4. Yếu tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước 2.4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước - Yếu tố chính trị và hệ tư tưởng gồm: Chế độ chính trị và đường lối, chính sách của Đảng; Các học thuyết, quan điểm chính trị - pháp lý, nhất là nguyên tắc, cách thức tổ chức QLNN và BMNN (hình thức chính thể). - Yếu tố Kinh tế - xã hội: Nhu cầu quản lý, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. - Truyền thống, lịch sử pháp lý, nhất là thực trạng pháp luật hiện hành. - Phong tục tập quán và truyền thống lịch sử. - Trình độ, kỹ thuật lập pháp. 2.4.2. Điều kiện bảo đảm việc hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước - Về nguồn nhân lực về số lượng, chất lượng cho việc hoàn thiện. - Về mặt tài chính. - Về cung cấp, hỗ trợ thông tin. - Về ứng dụng công nghệ - thông tin. 2.5. Mô hình, pháp luật về nguyên thủ quốc gia ở một số nước trên thế giới và những giá trị, kinh nghiệm có thể tham khảo cho Việt Nam 2.5.1. Các mô hình nguyên thủ quốc gia và pháp luật về nguyên thủ quốc gia ở một số nước trên thế giới Để cung cấp cái nhìn lý thuyết khái quát về tổ chức các mô hình NTQG tiêu biểu trên thế giới, Luận án đã dựa trên một số căn cứ, tiêu chí để phân loại và phân
  14. 12 biệt các mô hình NTQG tiêu biểu. Trong đó, lựa chọn căn cứ phổ biến là theo hình thức chính thể để phân loại và phản ánh những đặc điểm cơ bản nhất của mô hình NTQG trong chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà. Đồng thời, để minh chứng rõ hơn về mặt pháp luật thực định, Luận án cũng lựa chọn một số nước để nghiên cứu các quy định pháp luật về NTQG ở một số nước điển hình. Cụ thể, (i) Cộng hòa liên bang Đức là một nước đại diện tiêu biểu cho mô hình Cộng hoà đại nghị (Tổng thống mang tính biểu tượng cao), lại được thống nhất từ hai miền Đông, Tây; (ii) Cộng hoà Bungari là một nước XHCN trước đây nhưng đã thực hiện chuyển đổi với mô hình Cộng hoà Nghị viện (Tổng thống thực quyền); (iii) Cộng hoà Mông cổ cũng là một nước XHCH trước đây nhưng ở Châu Á và thực hiện chuyển đổi với mô hình Cộng hoà Nghị viện (Tổng thống mang tính biểu tượng); (iv) Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là một nước XHCN láng giềng với nhiều điểm tương đồng với Việt Nam hiện nay. 2.5.2. Một số giá trị, kinh nghiệm có thể tham khảo cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước Từ việc nghiên cứu mô hình lý thuyết và pháp luật thực định một số nước trên thế giới về NTQG, Luận án đã rút ra một số luận điểm về xu thế, cơ sở của việc lựa chọn và thay đổi mô hình NTQG ở phạm vi thế giới cũng như những giá trị, kinh nghiệm từ thực trạng pháp luật NTQG ở một số nước mà Việt Nam có thể chọn lọc tiếp thu trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước trong thời gian tới. Về xu thế, việc phân loại thành các mô hình chỉ mang tính lý thuyết, mô hình chính thể thực tế các nước ngày càng có sự đan xem, hoà quyện giữa các mô hình với nhau, dần thu hẹp ranh giới và sự khác biệt nhằm phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế của mỗi mô hình; tính dân chủ - pháp lý ngày càng được đề cao và được thể chế hoá vào địa vị pháp lý của các thiết chế, nhất là thiết chế NTQG; Tính dân tộc - hội nhập cũng được coi trọng hơn. Về cơ sở lựa chọn và điều chỉnh mô hình chính thể và tương ứng là mô hình NTQG của các quốc gia, cơ bản phụ thuộc mang tính quyết định bởi tính dân tộc và tính chính trị - pháp lý của từng quốc gia. Về một số giá trị, kinh nghiệm đó là: (i) các QPPL về NTQG ở các nước được ghi nhận trong những văn bản pháp lý quan trọng, có giá trị rất cao; (ii) pháp luật về NTQG ở các nước cho thấy sự sáng tạo nhất định cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh riêng; hình thành xu hướng tăng thẩm quyền (Bungari) hoặc có cơ chế (Trung Quốc) để bảo đảm, đề cao, phát huy vị trí, vai trò của người ĐĐNN; (iii) pháp luật các nước luôn ghi nhận song song nhưng có sự phân biệt nhất định về vai trò của NTQG trong mối quan hệ với nhà nước và với quốc gia; chú trọng, đề cao và quy định cụ thể để bảo đảm vai trò duy trì ổn định chính trị quốc gia và kiểm soát quyền lực của NTQG; (iv) pháp luật về NTQG ở các nước có nội dung khá đầy đủ, chi tiết.
  15. 13 Tiểu kết chương 2 Chủ tịch nước là một thiết chế có vị trí, vai trò đặc biệt, quan trọng đối với Nhà nước và Quốc gia. Pháp luật về Chủ tịch nước là một bộ phận tầm chế định của hệ thống pháp luật quốc gia; là công cụ, đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng, có ảnh hưởng lớn tới việc hình thành, kiện toàn tổ chức và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của thiết chế Chủ tịch nước. Tuy nhiên, pháp luật về Chủ tịch nước không phải là tập hợp giản đơn và bất biến của các QPPL, mà phải được hình thành bởi những nhóm QPPL cơ bản, mang tính phổ biến và được gắn kết với nhau theo một trật tự nhất định để hình thành hệ thống; đồng thời, phải được hoàn thiện qua từng giai đoạn để phù hợp với thực tiễn trong nước và xu thế chung của thế giới. Để có thể hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước một cách tốt nhất thì cần thiết phải dựa trên những tiêu chí nhất định cũng như phải tính tới các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm thực hiện. Chương 2 của Luận án đã cung cấp những cơ sở lý luận cần thiết phục vụ cho việc đánh giá thực trạng pháp luật và đề xuất quan điểm, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước. Chương 3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHỦ TỊCH NƯỚC 3.1. Quá trình hình thành, phát triển pháp luật về Chủ tịch nước 3.1.1. Khái quát pháp luật về Chủ tịch nước trong các giai đoạn Để phản ánh khái quát quá trình hình thành, phát triển về nội dung, hình thức của pháp luật về Chủ tịch nước, Luận án đã chia thành 4 giai đoạn để nghiên cứu: * Giai đoạn 1946-1958: Pháp luật về Chủ tịch nước ra đời trong điều kiện Nhà nước mới được thành lập - Mô hình Chủ tịch nước hết sức độc đáo, là cá nhân, theo hướng thực quyền (đồng thời đứng đầu Chính phủ) nhưng lại mềm dẻo nhờ có sự đan xen, hoà quyện giữa mô hình Liên bang Xô Viết (HP năm 1917, 1924) và mô hình Cộng hoà đại nghị, Cộng hoà Tổng thống. Sơ đồ 3.1: Chủ tịch nước trong bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1946
  16. 14 * Giai đoạn 1959-1979: Pháp luật về Chủ tịch nước thay đổi cơ bản, có sự hoàn thiện hơn trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc - Mô hình Chủ tịch nước vẫn là cá nhân nhưng là một thiết chế có vị trí “độc lập”, không đồng thời đứng đầu Chính phủ, mang tính biểu tượng với nhiều đặc trưng của mô hình Cộng hoà đại nghị. Sơ đồ 3.2: Chủ tịch nước trong bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1959 * Giai đoạn 1980-1991: Pháp luật về Chủ tịch nước lại thay đổi cơ bản trong điều kiện thống nhất nước nhà - Mô hình HĐNN là Chủ tịch tập thể, thuộc cơ cấu lập pháp, mang tính thực quyền cao với nhiều đặc trưng của mô hình Cộng hòa XHCN Xô viết - “Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô” theo HP Liên Xô năm 1977. Sơ đồ 3.3: Hội đồng Nhà nước trong bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1980
  17. 15 * Giai đoạn 1992-2012: Pháp luật về Chủ tịch nước lại thay đổi cơ bản nhưng có sự phát triển vượt bậc trong điều kiện xây dựng NNPQ, mở cửa, hội nhập - Trở lại mô hình Chủ tịch nước là cá nhân, mang tính biểu tượng có nhiều điểm tương đồng với HP năm 1959 nhưng gắn kết hơn với các thiết chế khác trong BMNN. Sơ đồ 3.4: Chủ tịch nước trong bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1992 3.1.2. Đánh giá quá trình hình thành, phát triển pháp luật về Chủ tịch nước Đánh giá: Luận án đã đánh giá pháp luật về Chủ tịch nước trong 4 giai đoạn. Từ đó, rút ra một số đánh giá chung về quá trình hình thành, phát triển pháp luật về Chủ tịch nước, đó là: (1) Luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta trong suốt quá trình hình thành, phát triển; (2) Qua các giai đoạn, ngày càng hoàn thiện hơn về hình thức, nội dung; được thể hiện chủ yếu trong những văn bản QPPL có giá trị pháp lý cao; (3) Trong mỗi giai đoạn, đã thể hiện, phán ánh một cách khá phù hợp với bối cảnh, tình hình chính trị - kinh tế - xã hội ở trong và ngoài nước; có sự kế thừa, sáng tạo từ các giai đoạn trước và tiếp thu những kinh nghiệm hay từ các nước; cho thấy những giá trị cốt lõi, xuyên suốt phản ánh nhận thức thống nhất của Đảng, Nhà nước ta về mục tiêu xây dựng một đất nước độc lập, tự do, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; một nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân; một đất nước, dân tộc hoà bình, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, vì sự nghiệp chung của nhân loại là phát triển và vì con người. (4) Trước giai đoạn 1992-2012, mô hình Chủ tịch nước thường xuyên có sự thay đổi cơ bản nhưng từ năm 1992 cho đến nay đã cơ bản ổn định; (5) Dù đã được hoàn thiện nhưng nhìn chung, pháp luật về Chủ tịch nước vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần tiếp tục hoàn thiện. Bài học kinh nghiệm: (1) Hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước là công việc khó khăn, phức tạp, cần phải cẩn trọng, kỹ lưỡng; (2) Pháp luật về Chủ tịch
  18. 16 nước mang tính chính trị - pháp lý sâu sắc nên Đảng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, mang tính quyết định trong việc hoàn thiện; (3) Hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước cốt lõi vẫn phải xuất phát từ chính bối cảnh, hiện thực chính trị - kinh tế - xã hội trong nước; (4) Hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước là cơ sở, tiền để cho đổi mới tổ chức BMNN nhưng có tác động tới đổi mới kinh tế-xã hội và mọi mặt của đời sống xã hội; (5) Tìm ra mô hình thích hợp và bảo đảm sự ổn định là một trong những tiền đề quan trọng cho phát triển nhanh, bền vững; (6) Hoàn thiện pháp luật về Chủ tịch nước là nhu cầu, yêu cầu tất yếu, là cơ sở để thể hiện, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và cho thấy trình độ, năng lực quản lý của Nhà nước; (7) Pháp luật về Chủ tịch nước càng hoàn thiện thì càng giúp hoạt động Chủ tịch nước công khai, minh bạch, hiệu quả hơn. 3.2. Thực trạng pháp luật về Chủ tịch nước 3.2.1. Nội dung và hình thức của pháp luật về Chủ tịch nước hiện hành Về nội dung: Chủ tịch nước theo HP năm 2013 kế thừa, phát triển mô hình Chủ tịch nước theo HP năm 1992 (2001), là cá nhân, mang tính biểu tượng nhưng có một số thay đổi theo hướng cụ thể, lô gic, hài hoà hơn. Vì vậy, nội dung pháp luật về Chủ tịch nước giai đoạn này không thay đổi nhiều so với giai đoạn liền trước. Để tránh trùng lặp, bảo đảm yêu cầu về quy mô, Luận án đã tập trung làm rõ một số nội dung mới được sửa đổi, bổ sung. Phải kể đến là việc bổ sung quy định về tuyên thệ; bổ sung quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước; mở rộng thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức đối với tất cả các Thẩm phán để khẳng định, đề cao vai trò của Chủ tịch nước và góp phần tăng tính độc lập trong hành động xét xử… Sơ đồ 3.7: Chủ tịch nước trong bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 2013
  19. 17 Về hình thức: Luận án đã phân loại để phản ánh thực trạng hình thức pháp luật về Chủ tịch nước theo loại hình, cấp độ văn bản gồm: (i) Hiến pháp; (ii) các đạo luật về tổ chức BMNN; (iii) các đạo luật về các lĩnh vực, các văn bản QPPL khác. 3.2.2. Kết quả đạt được và nguyên nhân Kết quả đạt được: (1) Nội dung pháp luật về Chủ tịch nước hiện hành đã ngày càng hoàn thiện hơn, dần đáp ứng một cách khá cơ bản trên cả 4 tiêu chí gồm: tính đầy đủ, toàn diện; tính chính trị, hợp hiến và chính xác, tính thực tiễn và khả thi; tính thống nhất, đồng bộ và tương thích. So với giai đoạn 1992-2012, đã có sự hoàn thiện theo hướng tích cực, hợp lý, với việc đề cao hơn vị trí, vai trò của Chủ tịch nước; phân định hợp lý, chính xác, rõ ràng, cụ thể hơn về nhiệm vụ, quyền hạn. So với các giai đoạn trước đó, đã có bước tiến dài, quan trọng, mang tính đột phá; điều chỉnh cơ bản đúng, trúng và toàn diện các quan hệ pháp luật cốt lõi, cơ bản, nền tảng liên quan đến tổ chức, hoạt động của Chủ tịch nước; nhiều nhóm quan hệ pháp luật trong số đó đã dần mang tính đồng bộ, đầy đủ, cụ thể và khả thi hơn. (2) Hình thức pháp luật về Chủ tịch nước cũng đã có bước hoàn thiện vượt bậc xét trên cả hai nhóm tiêu chí là sự phù hợp với nội dung và bảo đảm tính lô gíc, hệ thống và tương thích. QPPL về Chủ tịch nước ngày càng gia tăng về số lượng, được ban hành theo quy trình, thủ tục chặt chẽ hơn, có giá trị pháp lý cao, mang tính ổn định hơn; quy mô lớn lên, cấu trúc chặt chẽ, khoa học, lôgic hơn giữa trong và ngoài hệ thống. (3) Kết quả, nhìn chung, pháp luật về Chủ tịch nước được triển khai thi hành nghiêm túc, phát huy hiệu lực, hiệu quả trên thực tế; nhờ đó, thiết chế Chủ tịch nước được kiện toàn về tổ chức, chất lượng, hiệu quả hoạt động được nâng lên, góp phần khẳng định vị thế của Chủ tịch nước và đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của đất nước. Nguyên nhân: (1) Nhận thức, tư duy lý luận của Đảng, Nhà nước về tổ chức quyền lực nhà nước, tổ chức BMNN và về pháp luật trong NNPQ XHCN ngày càng rõ và đầy đủ hơn; (2) Do yêu cầu, đòi hỏi của công cuộc đổi mới, của NNPQ XHCN và chủ trương hội nhập quốc tế đối với pháp luật; (3) Do nhu cầu lập hiến và yêu cầu thể chế hoá Hiến pháp năm 2013; (4) Do đã có kinh nghiệm trong xây dựng và thực hiện pháp luật về Chủ tịch nước; (5) Do chất lượng nguồn nhân lực tăng lên; sự nỗ lực, trách nhiệm của cá nhân Chủ tịch nước. 3.2.3. Những hạn chế, bất cập của pháp luật về Chủ tịch nước và nguyên nhân Hạn chế, bất cập về nội dung pháp luật về Chủ tịch nước: Đánh giá chung, vẫn còn những hạn chế, bất cập so với 4 tiêu chí đánh giá như: chưa điều chỉnh đầy đủ, toàn diện các nhóm quan hệ; chưa thể chế hoá một cách sâu sắc quan điểm của Đảng, chưa cụ thể hoá hết các quy định của HP năm 2013; một số quy định còn chưa thật thống nhất, đồng bộ, tương thích nên phần nào ảnh hưởng tới tính khả thi và khả năng điều chỉnh của pháp luật về Chủ tịch nước. Để làm sâu sắc hơn, Luận án đã chỉ ra, làm rõ 14 hạn chế, bất cập lớn gắn với 4 nhóm nội dung cơ bản. Có thể
  20. 18 kể đến như: (1) chưa phản ánh chính xác, đầy đủ vị trí, vai trò của Chủ tịch nước đối với quốc gia nên chưa cho thấy tính tính chính danh, chính thức và tính đại diện cho sự thống nhất của toàn dân tộc của Chủ tịch nước; (2) thiếu quy định tiêu chuẩn, điều kiện riêng đối với ứng viên Chủ tịch; (3) quy định về trình tự bầu Chủ tịch nước chưa thực sự phù hợp; (4) chưa quy định thật cụ thể về lời tuyên thệ, tổ chức thực hiện tuyên thệ của Chủ tịch nước; (5) chưa thể hiện đầy đủ, chính xác vị trí, vai trò của Phó Chủ tịch nước; (6) thiếu nhiều quy định cụ thể, chi tiết và rõ ràng về những vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức của thiết chế Chủ tịch nước. (7) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với quốc gia còn mờ nhạt, chưa đại diện cho sự thống nhất toàn quốc gia; (8) nhiều nhiệm vụ, quyền hạn trong đối nội còn chung chung, chưa rõ ràng, hợp lý như: chưa quy định cụ thể về thời hạn Chủ tịch nước phải công bố Hiến pháp; chưa hợp lý về thẩm quyền công bố Nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; thiếu cụ thể về quyền ban hành Lệnh, Quyết định; chưa hợp lý về quyền quy định tổ chức, hoạt động của Chủ tịch nước…; (9) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong đối ngoại còn chưa thống nhất hoặc thiếu rõ ràng, chưa hợp lý như: thẩm quyền liên quan đến ĐƯQT còn chưa rõ, còn đan xen với Quốc hội, Chính phủ; thẩm quyền cử, triệu hội đại sứ đặc mệnh toàn quyền và phong, thăng, hạ và tước hàm, cấp ngoại giao chưa thống nhất...; (10) quy định điều chỉnh mối quan hệ của Chủ tịch nước với lập pháp, hành pháp, tư pháp và các cơ quan khác trong BMNN còn ở mức độ nguyên tắc, chưa tương xứng với vị trí, vai trò, nhất là trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; (11) thiếu nhiều quy định về phương thức hoạt động, cơ chế phối hợp và điều kiện bảo đảm thực hiện hoạt động của Chủ tịch nước… Hạn chế, bất cập về hình thức pháp luật: (1) Chưa phản ánh đầy đủ, đồng bộ và phù hợp với nội dung pháp luật về Chủ tịch nước; còn một số nội dung pháp luật về Chủ tịch nước chưa được quy phạm hoá hoặc đã được quy phạm hoá nhưng lại được thể hiện trong văn bản QPPL với tên gọi, giá trị pháp lý chưa tương xứng với tính chất của nội dung QPPL; (2) Chưa bảo đảm tính thống nhất, chính xác; một số văn bản hoặc QPQL về Chủ tịch nước chưa phản ánh đúng tinh thần, ý nghĩa nội dung pháp luật vốn có hoặc chưa thống nhất với các văn bản hoặc QPPL khác; (3) Thiếu tập trung, còn rải rác trong rất nhiều văn bản QPPL với tên gọi, giá trị pháp lý và thời điểm ban hành khác nhau nên chưa ổn định, còn đan xen, phức tạp; (4) Tính hệ thống, tính lôgic chưa cao, một số văn bản hoặc QPPL còn sử dụng văn phong, từ ngữ chưa mang tính pháp lý, chưa chặt chẽ, ngắn gọn, dễ hiểu và đơn nghĩa. Nguyên nhân khách quan: (1) Do lý thuyết về mô hình BMNN XHCN còn chưa sáng tỏ và tính chất quan trọng, phức tạp của quan hệ pháp luật về Chủ tịch nước; trong khi đó, kinh nghiệm chưa nhiều và năng lực, trình độ của con người là giới hạn. (2) Do Hiến pháp năm 2013 mới được ban hành chưa lâu; lại trong giai đoạn chuyển giao giữa hai nhiệm kỳ nên chưa có đủ thời gian cần thiết để thể chế
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2