intTypePromotion=1
ADSENSE

Tóm tắt Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học: Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của các giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt

Chia sẻ: Phong Tỉ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:27

55
lượt xem
5
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án được nghiên cứu với mục tiêu nhằm góp phần làm sáng tỏ các luận điểm lý thuyết, lý luận và bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu về giới từ định vị không gian “trên-dưới” theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận;

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học: Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của các giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt

  1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐẶNG THỊ HƯƠNG THẢO NGỮ NGHĨA VÀ CƠ SỞ TRI NHẬN CỦA CÁC GIỚI TỪ ĐỊNH VỊ KHÔNG GIAN THEO CHIỀU ‘TRÊN-DƯỚI’ TRONG TIẾNG ANH, ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT. Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu Mã số: 9222024 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC HÀ NỘI - 2018
  2. Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: GS. TSKH Lý Toàn Thắng PGS. TS Hồ Ngọc Trung Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3: Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội. Vào hồi .... giờ ... ngày .... tháng ..... năm 201... Có thể tìm hiểu luận án tại: - Thư viện Quốc gia Việt Nam - Thư viện Học viện Khoa học xã hội
  3. 1 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Giới từ tiếng Anh chiếm số lượng nhỏ nhưng nó đóng một vai trò không thể thiếu trong ngôn ngữ và xuất hiện khá thường xuyên và là từ loại đa nghĩa vì một giới từ có thể được sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau để diễn đạt các nghĩa khác nhau. Giới từ định vị không gian cũng có sự đa dạng về ngữ nghĩa. Qua thực tế giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên, trao đổi với đồng nghiệp và kết quả khảo sát thực nghiệm bước đầu, chúng tôi nhận thấy người học Việt Nam gặp khó khăn trong việc sử dụng giới từ định vị không gian “trên- dưới”. Người học Việt Nam thường nhầm lẫn cách dùng của over và above cũng như under và below. Ngoài ra, các giáo viên cũng gặp khó khăn trong việc lý giải các sự lựa chọn của các giới từ trên. Có rất nhiều sách chuyên khảo và sách bài tập về giới từ tiếng Anh nhưng số lượng bài tập về giới từ định vị không gian “trên-dưới” còn chiếm số lượng khá khiêm tốn đặc biệt là bốn giới từ over, above, under và below. Do đó, việc nghiên cứu ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” của tiếng Anh trong sự đối chiếu với tiếng Việt cung cấp các luận cứ để lí giải những điểm tương đồng và dị biệt trong cách sử dụng các giới từ chỉ không gian tương ứng giữa hai ngôn ngữ. Qua đó, người học có thể hiểu rõ được cách sử dụng của các giới từ này và giúp cho việc dịch thuật về các giới từ này được chính xác hơn. Với những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án là “Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của các giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt.” 2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” trong tiếng Anh so sánh đối chiếu với tiếng Việt. 2.2. Phạm vi nghiên cứu Do dung lượng luận án có hạn, luận án chỉ dừng lại nghiên cứu những vấn đề về ngữ nghĩa và cơ chế tri nhận không gian của bốn giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” over, above, below và under và so sánh đối chiếu ngữ nghĩa và cơ chế tri nhận của chúng với tiếng Việt 3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3.1. Mục đích nghiên cứu - Góp phần làm sáng tỏ các luận điểm lý thuyết, lý luận và bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu về giới từ định vị không gian “trên-dưới” theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận;
  4. 2 - Góp phần làm rõ sự tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa của giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” trong tiếng Anh và tiếng Việt; - Góp phần làm rõ sự tương đồng và khác biệt trong cơ chế tri nhận đối với giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” của người Anh và người Việt. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Phân tích, miêu tả ngữ nghĩa của giới từ định vị không gian theo chiều “trên- dưới” trong tiếng Anh và tiếng Việt. - So sánh và đối chiếu về mặt ngữ nghĩa của giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” tiếng Anh với tiếng Việt nhằm chỉ ra nét giống và khác nhau về ngữ nghĩa của nhóm giới từ này; - Phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau trong cơ chế, cách thức tri nhận về giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” của người Anh và người Việt qua mối quan hệ tư duy và ngôn ngữ; - Khảo sát việc sử dụng giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” đối với người học của một số trường đại học ở Việt Nam và người bản ngữ để bước đầu kiểm chứng sự tương đồng và khác biệt về cơ chế tri nhận giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” của người bản ngữ và người Việt. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp miêu tả-phân tích-tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp khảo sát thực nghiệm và thủ pháp thống kê, phân loại. 5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 5.1. Về lí thuyết Luận án nghiên cứu lý luận về giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” dưới góc độ của ngôn ngữ học tri nhận, do đó luận án góp phần làm sáng tỏ các luận điểm lý thuyết, lý luận và bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu về giới từ định vị không gian “trên-dưới” theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận. Luận án cũng đi sâu vào nghiên cứu bốn giới từ đặc trưng cho nhóm giới từ định vị không gian “trên-dưới” trong tiếng Anh so sánh đối chiếu với tiếng Việt, các kết quả khảo sát về nhóm giới từ này góp phần giúp cho các nhà nghiên cứu có thêm luận chứng để đi sâu nghiên cứu thêm về ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của chúng. 5.2. Về thực tiễn Việc phân tích ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của các giới từ định vị không gian “trên-dưới” có ý nghĩa thực tiễn vì nó giúp cho việc dạy và học nhóm giới từ này hiệu quả hơn. Thực tế, qua việc khảo sát bốn giới từ thuộc nhóm này cho thấy hầu hết người học Việt Nam gặp khó khăn trong việc sử dụng chúng vì họ chưa hiểu rõ nghĩa của chúng do có sự khác nhau về tri nhận
  5. 3 không gian giữa người bản ngữ và người Việt. Ngoài ra, người bản ngữ cũng có khó khăn trong việc hiểu rõ và phân biệt cách dùng của chúng trong các ngữ cảnh khác nhau. Kết quả nghiên cứu các giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” trong tiếng Anh so sánh đối chiếu với tiếng Việt sẽ giúp người học Việt Nam hiểu sâu hơn về sự tương đồng và khác biệt giữa chúng, cũng như đóng góp thêm một hướng nghiên cứu mới với một màu sắc riêng về giới từ định vị không gian “trên-dưới” trong hai ngôn ngữ. Thêm vào đó, luận án cung cấp một khối ngữ liệu Anh – Việt về nhóm giới từ này giúp ích cho việc biên soạn tài liệu tham khảo, từ điển và giáo trình phục vụ cho việc dạy và học các giới từ này nói riêng và tiếng Anh nói chung. 6. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN Luận án được chia thành ba chương (ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục những công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục): Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu giới từ định vị không gian và cơ sở lí luận; Chương 2: Ngữ nghĩa của giới từ định vị không gian “trên-dưới” trong tiếng Anh (over, above, under và below) đối chiếu với tiếng Việt; Chương 3: Cơ sở tri nhận của giới từ định vị không gian “trên-dưới” trong tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt. Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIỚI TỪ ĐỊNH VỊ KHÔNG GIAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu giới từ định vị không gian 1.1.1. Tình hình nghiên cứu về giới từ định vị không gian trên thế giới Halliday [48] cho rằng giới từ không tách rời khỏi các từ loại khác mà luôn được xếp đặt, kết hợp, sử dụng trong tình huống, ngữ cảnh, trong mối quan hệ tầng bậc gồm ngữ cảnh ngữ nghĩa, từ vựng-ngữ pháp. Có nhiều nghiên cứu mới về ngữ nghĩa của giới từ như nghiên cứu của Klebanowaska’s [58], Lakoff [60], Leech [65] và Leech và Svartvit [66]. Các tác giả cũng đề cập đến giới từ chỉ vị trí, chỉ ra sự khác nhau thú vị giữa các giới từ over, above, under và below. Ngoài ra, các công trình chuyên sâu về biểu đạt không gian từ góc nhìn ngôn ngữ và tri nhận của giới từ không gian phải kể đến là nghiên cứu của Talmy [85], [86], Herskovits [50], [51] và Przybylska [74]. Muộn hơn về sau này, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Tyler và Evans [89] trình bày một phân tích lý thuyết cơ bản về ngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh. Các tác giả nhấn mạnh đến một khái niệm rất quan trọng trong ngữ nghĩa của các giới từ là ‘kịch cảnh không gian’ (spatial scene). Một điều đáng chú ý khác là Tyler và Evans [89] đã dành cả chương 4 để bàn về hệ thống nghĩa của riêng một giới từ over, sử dụng 5 tiêu chí để phân biệt 15 nghĩa của giới từ này. Tiếp đó, ở chương 5, các tác giả trình bày thêm về 3 giới từ theo
  6. 4 phương thẳng đứng là: above, under và below. Ngoài ra, Conventry và Garrod’s [36] và Seth Lindstromberg [79] đã đóng góp thêm cho mảng nghiên cứu này thông qua việc đưa ra các yếu tố để phân biệt các thành tố chức năng trong các nghĩa không gian. Một nghiên cứu gần đây nhất là nghiên cứu của Brenda [30] đã miêu tả các khía cạnh khác nhau của giới từ over và cấu trúc ngữ nghĩa được mã hóa trong các nghĩa khác nhau của giới từ over. 1.1.2. Tình hình nghiên cứu giới từ định vị không gian ở Việt Nam Đối với tiếng Việt, trong ngữ pháp truyền thống (phi tri nhận luận), giới từ định vị không gian không được nghiên cứu tách biệt mà thường được nghiên cứu chung trong cùng một bình diện với hư từ và quan hệ từ, kết từ. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu về giới từ định vị không gian ở Việt Nam: Hoàng Trọng Phiến [14], Hoàng Phê và đồng tác giả [15: 263, 997-998] và Đinh Văn Đức [8]. Đi theo hướng nghiên cứu tri nhận luận, không thể không kể đến tác giả Lý Toàn Thắng với một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về sự tri nhận không gian. Trước tiên là công trình nghiên cứu về “Mô hình không gian của thế giới: sự tri nhận, văn hoá và tâm lí học tộc người”. Tiếp theo, các nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến sự tri nhận không gian, trong đó có nhiều chỗ ông bàn về ‘trên – dưới’, bình diện nghĩa của câu; và gần đây là nghiên cứu về “Định vị không gian “trên-dưới” trong tiếng Việt” [22:222]. Ngoài ra, dáng chú ý là ba luận án tiến sĩ nghiên cứu về giới từ với các khía cạnh khác nhau. Trước tiên phải kể đến nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Hoa [11] về ngữ pháp và ngữ nghĩa của giới từ tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt. Cùng năm 2001, luận án tiến sĩ của Trần Quang Hải với đề tài “Nghiên cứu giới từ định vị theo hướng ngữ dụng” (trên cứ liệu tiếng Anh – tiếng Việt) [9] khảo sát tám quan hệ về vị trí (ba vị trí tôpô, năm vị trí quy chiếu), cùng chín quan hệ theo đường dẫn (phối hợp ba vai đường dẫn với ba loại đường dẫn). Đồng thời khi khảo sát các vấn đề ngữ nghĩa –ngữ dụng, tác giả đã tìm ra 5 khác biệt giữa giới từ định vị (GTĐV) tiếng Anh và tiếng Việt: sự mô tả về quan niệm “trên”, sự mô tả quan hệ “trên” và “dưới”, sự phân biệt vị trí ngay giữa, việc sử dụng GTĐV và các giới từ chuyển động theo đường dẫn trong tiếng Việt và tiếng Anh. Ngoài ra, còn có luận án tiến sĩ của Lê Văn Thanh [18] nghiên cứu về ngữ nghĩa của các giới từ chỉ không gian trong tiếng Anh (trong sự đối chiếu với tiếng Việt), tập trung vào phân tích, mô tả và khái quát hoá về nghĩa của ba giới từ at, on, in. 1.2. Giới từ 1.2.1. Giới từ tiếng Anh Giới từ đã được nghiên cứu qua các công trình khác nhau. Mỗi nhà nghiên cứu có các quan điểm khác nhau về giới từ. Điều này được thể hiện rõ thông qua các nghiên cứu cụ thể: Asher [27: 303], Chalker [31], Choy và
  7. 5 McCormick [33:25], Collins Cobuild [35:3], Coventry và Garrod [36], Jakendoff [54: 345], Liles [67:229], Herkovits [51], Lakoff [60], Radford [77:45] và Talmy [85]. Qua các nghiên cứu về giới từ trên, chúng tôi lựa chọn định nghĩa của Quirk và đồng tác giả [76: 143-165] về giới từ làm khái niệm làm việc để lựa chọn ngữ liệu cho nghiên cứu. “Giới từ được định nghĩa là một từ loại thuộc hệ thống đóng. Chúng không đứng một mình mà phải có thành phần bổ ngữ ở sau. Thành phần bổ ngữ có thể là danh ngữ hoặc các yếu tố có danh tính”. [76: 143-165] 1.2.1.1. Phân loại giới từ trong tiếng Anh Việc phân chia giới từ tiếng Anh cũng rất đa dạng. Điều này được chứng minh qua các nghiên cứu của Landau & Jackendoff [61], Downing & Locke [39] và Collin Cobuild [35]. Theo Brenda [30] dựa vào hình vị của giới từ phân chia giới từ thành 3 loại: Giới từ đơn, giới từ phức và giới từ ghép. Chúng ta cần phân biệt giới từ với các loại từ khác: trạng từ, liên từ, tính từ và động từ để giúp cho việc lựa chọn ngữ liệu cho nghiên cứu được chính xác hơn. 1.2.1.2. Ngữ nghĩa của giới từ Căn cứ vào ngữ nghĩa thì giới từ có thể được chia ra thành các nhóm sau: giới từ chỉ thời gian, giới từ chỉ địa điểm, giới từ chỉ nguyên nhân, giới từ chỉ thái độ, giới từ chỉ nhượng bộ, giới từ chỉ mục đích và giới từ chỉ hướng. Theo cách phân chia trên, giới từ định vị không gian thuộc nhóm giới từ chỉ địa điểm. 1.2.2. Giới từ tiếng Việt Giới từ trong tiếng Việt đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến nhưng chưa nhiều. Các nghiên cứu trình bày các quan điểm khác nhau về giới từ trong tiếng Việt. Nguyễn Kim Thản [16: 330-347] đã tách giới từ thành một từ loại. Đinh Văn Đức [7] cũng phân chia quan hệ từ thành ba tiểu loại: các liên từ thuần túy, các giới từ thuần túy và các liên từ-giới từ. Diệp Quang Ban [1: 164] đã nhận định giới từ dùng để nối danh từ – thành tố chính hoặc bổ ngữ gián tiếp của động từ – thành tố chính. Tuy nhiên, Nguyễn Lai [13] xếp giới từ vào nhóm từ chỉ hướng. Nguyễn Kim Thản [17: 330] coi giới từ là một loại hư từ. Trong khi Diệp Quang Ban [2] xếp giới từ vào nhóm kết từ thì Bùi Đức Tịnh [25] cho giới từ là tiếng dùng để chỉ sự tương quan ý nghĩa giữa một tiếng và túc từ của nó. Nguyễn Cảnh Hoa [11: 92-107] đã nhận định các tác giả nghiên cứu về giới từ tiếng Việt chỉ đề cập đến một loại giới từ là giới từ đơn. Cao Xuân Hạo [10: 113] và đồng tác giả đã tách giới từ và liên từ ra thành hai loại riêng biệt. Đinh Văn Đức cho rằng: “Giới từ trong ngôn ngữ truyền thống, từ xa xưa đến hiện tại, vẫn được coi là những loại từ thuộc phạm trù hư từ” [8:250]. Diệp Quang Ban [3: 313-314] đã
  8. 6 phân chia vốn từ tiếng Việt thành hai lớp thực từ và hư từ. Các nghiên cứu đã khái quát các quan điểm về giới từ tiếng Việt. 1.2.3. Giới từ định vị không gian Giới từ không gian thường được phân chia thành giới từ định vị Clark [34] và giới từ chỉ hướng Bennett [28]. Theo Coventry và Garrod’s [36:8], giới từ định vị dùng để miêu tả vị trí của một vật trong mối quan hệ với vật khác. Michel và Laure [71:28] đã nhận xét “Giới từ không gian dùng để chỉ quan hệ không gian giữa hai vật x và y hay nói cách khác x và y có mối quan hệ như thế nào trong không gian”. Langacker [62] and Talmy [86] cho thấy tiếng Anh có các giới từ không gian mà điển cảnh của chúng ưu tiên những trục hay chiều có hướng nhất định. Các giới từ không gian over, under, above và below góp phần phân tách không gian ý niệm theo trục thẳng đứng Tyler và Evans [89: 130]. Coventry và Garrod’s [36:10] cũng khẳng định giới từ không gian thường được dùng trong các diễn đạt về không gian. Tuy nhiên, có rất nhiều thuật ngữ dùng để biểu đạt vật được định vị và mốc định vị như: chủ tố và đối tượng quy chiếu Jackendoff [54], hình và nền Langacker [63] hay vật chính và vật phụ Talmy [83]. Theo Coventry và Garrod’s [36:7], xét về ngữ nghĩa giới từ được chia thành giới từ chỉ không gian và giới từ chỉ thời gian. Giới từ định vị gồm 2 loại: tôpô logic và chiều không gian và thuộc nhóm giới từ chỉ không gian. Brenda [30] cho rằng con người sử dụng giới từ không gian để nói về vị trí của mình với môi trường xung quanh, vị trí của các vật và các mối quan hệ giữa chúng. Giới từ định vị không gian theo chiều trên - dưới gồm các giới từ: above, over, on top of, under, below, underneath… và các giới từ định vị không gian theo chiều ngang gồm các giới từ: before, in front of, behind, after,… 1.3. Ngôn ngữ học tri nhận Nói đến ngôn ngữ học tri nhận, không thể không kể đến các công trình nghiên cứu nổi tiếng như lý thuyết về hình và nền của Talmy [84], ngữ nghĩa học khung của Fillmore [44], không gian tinh thần của Fauconnier [42], ngữ pháp học tri nhận của Langacker [62] và ẩn dụ, phạm trù và điển mẫu/ điển dạng của Lakoff [60]. Theo Tore Nesset [87:9], ngôn ngữ học tri nhận là một cách tiếp cận lý thuyết tương thích mở rộng dựa trên nguyên tắc chia sẻ các giả thuyết cơ bản mà ngôn ngữ là một phần tích hợp của tri nhận. Ngoài ra, Janda [55: 4] cho rằng “đối với một nhà ngôn ngữ học tri nhận thì ngôn ngữ học tri nhận là tri nhận giản đơn”. Ngoài ra, có rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng: ngôn ngữ học tri nhận cho rằng bản thân ngôn ngữ không thể tồn tại độc lập trong tâm trí con người [32], [38], [43], [46] và [47]. 1.3.1. Khái niệm về tri nhận Trần Văn Cơ [4] cho rằng tri nhận biểu hiện một quá trình nhận thức hoặc là tổng thể những quá trình tâm lí (tinh thần, tư duy) – tri giác, phạm trù
  9. 7 hoá, tư duy, lời nói v.v. phục vụ cho việc xử lí và chế biến thông tin. Lý Toàn Thắng [23: 14] đã nhận xét: “Tri nhận được hiểu như là một quá trình xử lí thông tin diễn ra trong tâm trí mỗi cá nhân con người. Thêm vào đó, tác giả cũng đưa ra nhận xét của Evans [41] như sau: Tri nhận liên quan đến mọi phương diện của chức năng tinh thần hữu thức và vô thức. 1.3.2. Khái niệm cơ bản về không gian Theo Frawley [45] thì khi nghiên cứu về không gian và cách biểu hiện nó trong ngôn ngữ chúng ta cần hiểu rõ khái niệm cơ bản của chúng. Một trong những nội dung quan trọng nhất về phạm trù không gian là vấn đề định vị không gian được biểu đạt trong ngôn ngữ. Theo tác giả Lý Toàn Thắng [22:55], khi xác định mối quan hệ trong không gian, chúng ta không chỉ xác định vị trí tĩnh tại của chủ thể mà còn xác định cả quan hệ động của chủ thể khi chủ thể chuyển động từ vị trí này đến vị trí khác. Điều này được chứng minh qua mô hình Frawley [45] và Trujillo [88:171]. Ngoài ra, chúng ta cần hiểu rõ khái niệm kịch cảnh không gian như Tyler và Evans [89: 28] đã đưa ra. Ngoài ra, theo như Maria và Elsa [70] không gian tinh thần cũng cần được đề cập vì nó được kiến tạo nên bởi các khung và các mô hình tri nhận. 1.3.3. Nghĩa của từ trong ngữ nghĩa học truyền thống và ngữ nghĩa học tri nhận Các nhà nghiên cứu đã có quan niệm khác nhau về ngữ nghĩa học như Đỗ Hữu Châu [5: 105-106], Đỗ Hữu Châu [6:6], Lê Quang Thiêm [24], và Lyons [69]. Các nghiên cứu cho thấy ý nghĩa của từ là do quan hệ phản ánh hay biểu hiện của các thực thể của thế giới khách quan bên ngoài. Theo như Lý Toàn Thắng [23:53] thì với ngữ nghĩa học tri nhận, từ có nghĩa là vì nó biểu đạt cái ý niệm có trong tâm trí chúng ta về một thực thể nào đó. Nó chú trọng và nhấn mạnh vai trò của tri giác, cái tri giác và hình ảnh trong hoạt động tri nhận. Evans và Green [40:157] cũng như nhiều nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học tri nhận như: Croft và Cruse [37], Evans [39], Lakoff [60] và Langacker [62] cho rằng nghĩa tồn tại trong đầu óc con người. Những khái niệm của chúng ta về thế giới xung quanh được gọi là các mô hình tinh thần mà các mô hình này được xây dựng dựa trên sự tiếp nhận, sự tưởng tượng, kiến thức và những trải nghiệm có thể được thay đổi và cập nhật [52], [59]. 1.3.4. Quan điểm đa nghĩa Tyler và Evans [89:37] đưa ra một quan điểm đa nghĩa có nguyên tắc để lý giải cho việc các nghĩa của các giới từ có mối quan hệ với nhau một cách hệ thống và có lý do. Ngoài ra, Tyler và Evans [89:42] cũng đã nhận định rằng tất cả các phân tích ngôn ngữ học đều ít nhiều có tính chủ quan và các tác giả muốn đưa ra một phương pháp luận nhằm làm giảm tính chủ quan trong phân tích của mình và đồng thời tạo ra một điểm khởi đầu hữu ích cho
  10. 8 các nhà nghiên cứu lý luận khác khi tiến hành các nghiên cứu một cách hệ thống tính đa nghĩa được biểu hiện qua các hình thức từ vựng khác. 1.3.5. Nghiệm thân Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về ‘nghiệm thân’ được thể hiện qua nghiên cứu của Johnson [56] và Johnson và Tim Rohrer [57]. Theo Brenda [30: 10], một trong những yếu tố quan trọng của ngôn ngữ học tri nhận là khái niệm nghiệm thân vì nó nhấn mạnh vai trò trung tâm của thân thể trong sự trải nghiệm của con người trong thế giới khách quan. Lý Toàn Thắng [23:16] đã đúc kết mọi phương diện của tri nhận đều được tạo hình bởi các bình diện của thân thể, phụ thuộc vào nhiều thứ của kinh nghiệm con người và sự tương tác với môi trường xung quanh. Tyler và Evans [89: 32-35] cũng bàn về việc “thế giới vật chất của sự trải nghiệm không gian có ý nghĩa như thế nào đối với con người chúng ta”. Tyler và Evans [89] đã đưa ra hai khái niệm “tương quan trải nghiệm” và “tương đồng tri giác” để giải thích các nghĩa của các giới từ trong nghiên cứu của mình. 1.3.6. Kinh nghiệm nghiệm thân Ngoài nghiệm thân chúng ta cần phải nói đến kinh nghiệm nghiệm thân vì cách chúng ta thuyết giải về thực tại xung quanh phần lớn là có sự trung gian môi giới của kinh nghiệm đối với thân thể chúng ta. Johnson [57] và Lakoff [60] cho rằng: kinh nghiệm nghiệm thân được bộc lộ ra ở cấp độ tri nhận là thông qua lược đồ hình ảnh ở mức tiền ý niệm. Lý Toàn Thắng [23:18] đưa ra một kết luận: bản chất của các ý niệm và cái cách thức mà chúng ta được tổ chức, được cấu trúc hóa là bị chế định bởi bản chất của kinh nghiệm nghiệm thân. Hay nói một cách khác: ngôn ngữ phản ánh cấu trúc ý niệm và vì thế nó phản ảnh kinh nghiệm nghiệm thân. 1.3.7. Tri nhận nghiệm thân Các nhà nghiên cứu cho rằng, tâm trí của con người được ‘đóng dấu bởi kinh nghiệm nghiệm thân’. Cần chú ý rằng có một mối tương quan giữa tri nhận nghiệm thân và môi trường, đáng chú ý là một số luận điểm: tri nhận là tại vị, tri nhận bị áp lực bởi thời gian và tri nhận bị giới hạn bởi những khả năng xử lí thông tin của chúng ta. Lý Toàn Thắng [23:19] đã đưa ra một nhận xét của Evans và Green [40] như sau: chúng ta chỉ có thể nói về những gì mà chúng ta có thể cảm nhận và nhận thức được, và những gì mà chúng ta có thể cảm thấy và nhận thức thì được phái sinh ra từ sự kinh nghiệm nghiệm thân. Ngôn ngữ vì thế không phản ánh trực tiếp thế giới, mà đúng hơn là nó phản ánh cái cách chúng ta thuyết giải về thế giới đó, với một ‘cách nhìn thế giới’ nhất định thông qua lăng kính nghiệm thân.
  11. 9 1.3.8. Thuyết giải (Construal) Các nhà nghiên cứu Herskovits [50], Langacker [62], Svorou [82] cho rằng chúng ta lí giải và nói về thế giới của chúng ta bằng ngôn ngữ theo cách chúng ta tin. Lý Toàn Thắng [23:187] đã nhận xét: mỗi sự tình có thể được “thuyết giải” theo cách khác nhau và những cách thức ký mã khác nhau của sự tình đó tạo nên những sự ý niệm khác nhau. Langacker [64:61] cho rằng nghĩa không phản ánh trực tiếp thế giới mà đúng hơn nó phản ánh cái cách chúng ta giả thuyết về thế giới đó, với một cách nhìn thế giới nhất định thông qua lăng kính nghiệm thân. Langacker [64: 326, 328] cho rằng chúng ta “thuyết giải” thế giới của chúng ta bằng hai cách: chủ quan và khách quan. Cách “thuyết giải” khác nhau là do sự khác nhau về mối quan hệ giữa ý niệm và tri giác, mối quan hệ giữa kịch cảnh với người tham gia vào kịch cảnh đó cũng như mối quan hệ người tham gia với kịch cảnh mà người đó ý niệm hóa. Theo Paradis và đồng tác giả [73] cho thấy cách thuyết giải đóng một vai trò quan trọng trong ngôn ngữ học tri nhận vì nó là cơ sở giải thích cho các sự ý niệm hóa khác nhau. Đây có thể coi là luận điểm nòng cốt của ngôn ngữ học tri nhận. 1.3.9. Các mô hình của ngôn ngữ học tri nhận Cấu trúc ngữ nghĩa quan trọng nhất trong ngữ nghĩa học tri nhận là cấu trúc ‘giản đồ hình’ vì các giản đồ hình luôn biểu diễn các phương tiện truyền tải nghĩa cơ bản nhất như: cái bao chứa, nguồn-đường dẫn- đích, và sự liên kết. Theo Lý Toàn Thắng [23:92-93], trong giới ngôn ngữ học tri nhận có những cách phân loại khác nhau về các quá trình ý niệm hóa hay các thao tác thuyết giải; trong số đó có hai sự phân loại đáng chú ý nhất, của Langacker [62] và Talmy [86]. 1.3.10. Ẩn dụ ý niệm Theo Lý Toàn Thắng [23] cho rằng ẩn dụ dựa trên sự nghiệm thân về thế giới xung quanh chúng ta và là một công cụ quan trọng để chúng ta biểu thị các suy nghĩ của mình. Lý Toàn Thắng [23:106-107] cho rằng ẩn dụ là một một quá trình tri nhận, một cơ chế tri nhận, bao gồm hai miền nguồn (Source) và đích. Như vậy, ẩn dụ ý niệm là một phương thức để ý niệm hóa một miền tâm trí này (miền nguồn) qua một miền tâm trí khác (miền đích), hình thành và biểu hiện những ý niệm mới, tri thức mới. Thông thường, các phạm trù ở mô hình nguồn sẽ cụ thể hơn, các phạm trù ở mô hình đích sẽ trừu tượng hơn. 1.3.11. Sự ý niệm hóa không gian Theo Lý Toàn Thắng [23:123-125]: Trong những sự ý niệm hoá thì đặc sắc nhất có lẽ là sự ý niệm hoá không gian và trong đó cụ thể hơn là cái cách thức mà một sự định hướng không gian được ý niệm hoá cũng như những quá trình ý niệm hoá diễn ra ở địa hạt này. Tác giả cũng nhấn mạnh: ngôn ngữ nào cũng có sự định hướng không gian chỉ xuất liên quan đến người nói hay liên
  12. 10 quan đến sự vật, nhưng hệ thống và chiến lược của những sự định hướng này thì có thể khác nhau Heine [49:12-14]. Ngoài ra, tác giả cũng đúc kết lại quan điểm của Svorou [82]: trong sự ý niệm hoá về định hướng không gian con người chủ yếu sử dụng ba Miền Nguồn: các bộ phận cơ thể người (trong tư thế thẳng đứng chuẩn tắc), các vật mốc (Landmarks) của môi trường xung quanh, các ý niệm động, chủ yếu là các họat động và hành động như "đi", "về", "đứng","ngồi"... là lĩnh vực ít dùng hơn cả. 1.3.12. Về nguyên lý “con người là trung tâm” của sự tri nhận không gian Lý Toàn Thắng [22:59] cho rằng vấn đề “con người” trong sự tri nhận không gian có liên hệ sâu xa với ba phương diện: cấu tạo cơ thể con người, môi trường xung quanh con người và các chuẩn mực, cách thức hoạt động của con người. Theo Trần Văn Cơ [4], mọi quá trình phạm trù hóa, điển dạng hóa, khuôn mẫu hóa, biểu trưng hóa đều không thoát ra khỏi mối quan hệ của hoạt động tri nhận trong mối quan hệ với con người, hoạt động này dựa trên một nguyên lí mang tính phương pháp luận chủ đạo là nguyên lí dĩ nhân vi trung. 1.3.13. Về các chiến lược định vị và định hướng trong không gian Lý Toàn Thắng [22] đã cho rằng: Về nguyên tắc người ta có thể sử dụng những chiến lược khác nhau để định vị, định hướng (cho mình hay cho sự vật khác) trong một không gian nào đó và tuỳ ngôn ngữ mà một chiến lược này hay một chiến lược khác có được vai trò quan trọng hay thứ yếu. Ngoài ra, tác giả cũng khẳng định là có hai chiến lược định vị định hướng không gian: trực tiếp và gián tiếp. Lý Toàn Thắng [21: 228] nhận xét rằng trong tiếng Việt có sử dụng hai chiến lược định vị: chiến lược trực tiếp và chiến lược gián tiếp Tiểu kết chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy chưa có công trình nào đi sâu vào phân tích, so sánh, đối chiếu về ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” trong tiếng Anh với tiếng Việt một cách hệ thống, đặc biệt là phân tích, so sánh, đối chiếu các nghĩa và cơ sở tri nhận của bốn giới từ above, over, below và under. Và đây chính là khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu. Giới từ được coi là từ loại thuộc hệ thống đóng và đây là một đặc điểm giúp phân loại giới từ với từ loại khác. Giới từ được phân chia dựa vào các tiêu chí khác nhau. Giới từ có các nghĩa khác nhau là do các tri nhận khác nhau của con người. Dựa vào trải nghiệm của mỗi người mà chúng ta có những lý giải khác nhau về nghĩa của giới từ. Tri nhận liên quan đến rất nhiều vấn đề: ẩn dụ ý niệm, các mô hình tri nhận, chiến lược định vị, nguyên lý…Hai khái niệm giúp giải thích sự tương đồng và khác biệt về nghĩa của giới từ định vị không gian “trên-dưới” là “tương quan trải nghiệm” và “tương đồng tri giác”.
  13. 11 Chương 2 NGỮ NGHĨA CỦA GIỚI TỪ ĐỊNH VỊ KHÔNG GIAN “TRÊN- DƯỚI” TRONG TIẾNG ANH (OVER, ABOVE, UNDER VÀ BELOW) TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT 2.1. Nghĩa không gian của các giới từ định vị không gian “trên” trong tiếng Anh so sánh đối chiếu với tiếng Việt Chúng tôi phân chia các nghĩa của 4 giới từ định vị không gian over, above, under và below dựa theo mối quan hệ giữa vật được định vị (TR) và mốc định vị (LM) và sự phân chia nghĩa theo chiều trên-dưới trong tiếng Việt. Nghĩa của 4 giới từ tiếng Anh trên được phân chia theo cách của Tyler và Evans [89] đã được tác giả Lâm Quang Đông và Nguyễn Minh Hà [90] dịch tương đương sang tiếng Việt. Và chúng tôi đã tham khảo các tên nghĩa tiếng Việt đó trong phần phân tích nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, khi khảo sát ngữ liệu tiếng Anh, chúng tôi chưa tìm thấy 5 nghĩa sau của giới từ over: “bên trên và vượt quá hoặc Quá I”, “chuyển giao”, “tập trung chú ý”, “phản thân” và “vượt quá và phía trên (Quá II)”, nhưng chúng tôi lại tìm ra nghĩa “thích hơn” của giới từ above. Ngoài ra, chúng tôi loại bỏ hai nghĩa của over: nghĩa “hoàn thành” và nghĩa “lặp lại” vì over trong hai nghĩa này là trạng từ chứ không phải là giới từ. Kết quả, các nghĩa của các giới từ định vị không gian “trên – dưới” trong tiếng Anh và tiếng Việt chúng tôi tìm được được phân chia theo thành hai nhóm: nhóm giới từ trên và nhóm giới từ dưới. Các nghĩa của hai nhóm giới từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt được sắp xếp theo bảng 2.2. Bảng 2.2: Nghĩa của các giới từ định vị không gian “trên-dưới” trong tiếng Anh và tiếng Việt Nghĩa của giới Nghĩa của giới Nghĩa của giới Nghĩa của giới từ trên trong từ trên trong từ dưới trong từ dưới trong tiếng Anh: tiếng Việt tiếng Anh: tiếng Việt over, above under, below 1. “nguyên 1. “nguyên thủy” 1. “nguyên thủy” 1. “nguyên thủy” thủy” 2. “nhiều hơn” 2. “ít hơn” 2. “ít hơn” 2. “bên kia” 3. “kiểm soát” 3. “kiểm soát” 3. “thời gian” 4. “che phủ” 4. “che phủ” 4. “che phủ/ bao 5. “không tồn tại” 5. “không tồn tại” phủ” 6. “kém hơn/yếu 6. “kém hơn/yếu 5. “kiểm tra” hơn” hơn” 6. “nhiều hơn” 7. “tiếp theo ở 7. “tiếp theo ở 7. “kiểm soát” dưới” dưới”
  14. 12 8. “thích hơn” 8. “khoảng cách 9. “khá hơn/ tốt địa hình” hơn” 10. “tiếp theo ở trên” 11. “khoảng cách địa hình” Ngoài ra, căn cứ vào các nghĩa của các giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” trong tiếng Anh và tiếng Việt cũng như mục đích nghiên cứu, chúng tôi phân chia các nghĩa của các giới từ trên thành hai nhóm chính: nghĩa không gian và nghĩa phi không gian như bảng 2.3: Bảng 2.3. Các nghĩa không gian và phi không gian của các giới từ định vị không gian theo chiều “trên-dưới” trong tiếng Anh và tiếng Việt Các nghĩa Các nghĩa phi Các nghĩa Các nghĩa phi không gian của không gian của không gian của không gian giới từ định vị giới từ định vị giới từ định vị của giới từ không gian trên không gian trên không gian định vị không dưới gian dưới 1. “nguyên 1. “thời gian” 1. “nguyên 1. “ít hơn” thủy” 2. “kiểm tra” thủy” 2. “kiểm soát” 2. “bên kia” 3. “nhiều hơn” 2. “che phủ” 3. “không tồn 3. “che phủ/ bao 4. “khá hơn/ tốt 3. “tiếp theo ở tại” phủ” hơn” dưới” 4. “kém 4. “khoảng cách 5. “thích hơn” 4. “khoảng cách hơn/yếu hơn” địa hình” 6. “kiểm soát” địa hình” 5. “tiếp theo ở trên” Căn cứ vào cách phân chia nghĩa của các giới từ định vị không gian “trên-dưới” trong tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi đi sâu vào miêu tả, so sánh đối chiếu các nghĩa để tìm ra sự tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa giữa hai ngôn ngữ. 2.1.1. Nghĩa “nguyên thủy” (The Primary Sense) So sánh với điển cảnh của over và above, chúng ta có thể thấy rõ sự khác biệt về khoảng cách giữa TR và LM. Khoảng cách của TR và LM trong điển cảnh của above lớn hơn so với khoảng cách của chúng trong điển cảnh của over. Hay nói cách khác, điển cảnh của above cho thấy vị trí TR nằm ngoài vùng tiếp xúc so với LM. Căn cứ vào nghĩa “nguyên thủy” của hai giới từ over và above, chúng ta thấy tiếng Việt có sự tương đồng về nghĩa này. Qua đây, tiếng Anh có nhiều từ biểu hiện mối quan hệ trên giữa TR và LM
  15. 13 còn tiếng Việt chỉ có sử dụng duy nhất một giới từ trên để diễn đạt mối quan hệ đó giữa TR và LM. Như vậy, xét về nghĩa “nguyên thủy” thì giới từ trên trong tiếng Việt có nhiều hàm ý hơn so với các giới từ định vị trên của tiếng Anh. 2.1.2. Nghĩa “che phủ” (The Covering Sense) Nghĩa “che phủ” của giới từ over là nghĩa phái sinh từ nghĩa gốc. Ở nghĩa này TR lớn hơn LM và có sự dịch chuyển điểm thuận lợi mặc định từ điểm hậu trường tới một điểm cao hơn TR. Điểm thuận lợi có một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên nghĩa “che phủ” của giới từ over. Nghĩa “che phủ” của giới từ over được dịch chuyển tương đương sang tiếng Việt như sau: che lấp, xõa xuống, vắt, trên, phủ lên, che kín mít và xuống. Trong trường hợp này tiếng Việt có các hình thức diễn đạt phong phú hơn so với tiếng Anh. Người bản ngữ căn cứ vào vị trí của TR và LM để lựa chọn giới từ. Điều này cho thấy người Việt không quan tâm nhiều đến sự phân biệt TR có nằm trong vùng của LM không, mà thường chia cắt không gian thành hai vùng: bên trên và bên dưới. Điều này tạo nên sự khác biệt cơ bản giữa tiếng Anh và tiếng Việt trong định vị không gian. Nghĩa “che phủ” không tồn tại trong mạng lưới nghĩa của giới từ trên trong tiếng Việt. Điều này cho thấy sự khác biệt về nghĩa giữa giới từ định vị không gian “trên” trong tiếng Anh và tiếng Việt. Nghĩa “che phủ” chỉ xuất hiện trong nghĩa của giới từ over còn không xuất hiện trong nghĩa của giới từ above do nét khác biệt về khoảng cách giữa TR và LM. 2.1.3. Nghĩa “bên kia” (The On-the-other-side of Sense) Giới từ over trong trường hợp này mang nghĩa “bên kia”, và không còn mang nghĩa ‘above’ nữa vì vị trí của TR không cao hơn so với vị trí của LM như mối quan hệ của chúng trong nghĩa “nguyên thủy”. Nghĩa “bên kia” của giới từ over đã tạo nên một sự khác biệt về nghĩa so với nghĩa của từ trên trong tiếng Việt. Trường hợp này, nghĩa của giới từ định vị không gian trên không diễn đạt nghĩa vị trí này cao hơn so với vị trí khác. Theo kết quả khảo sát ngữ liệu, nghĩa “bên kia” không xuất hiện trong mạng lưới nghĩa của giới từ định vị trên trong tiếng Việt. 2.1.4. Nghĩa “khoảng cách địa hình” (The Topographical-distance Sense) Nếu chúng ta sử dụng over trong nghĩa này là không thích hợp vì over gồm sự ý niệm hóa giữa TR và LM liên quan đến khoảng cách tương đối và khả năng tiếp xúc trong khi above lại thể hiện một khoảng cách tương đối xa và không có khả năng tiếp xúc. Nghĩa “khoảng cách địa hình” cũng là một nghĩa giúp phân biệt cách dùng của giới từ over và giới từ above. Trong nghĩa này giới từ above được sử dụng do TR có một khoảng cách về vị trí địa lý so với LM. Các khoảng cách này khá cụ thể. Nghĩa “khoảng cách địa hình” cũng không nằm trong danh mục nghĩa của từ trên trong tiếng Việt.
  16. 14 2.1.5. Nghĩa Tiếp theo ở trên (The Next-one-up Sense) Nghĩa này của giới từ above biểu thị yếu tố tiếp theo phía trên theo một trình tự ở chiều thẳng đứng. Nghĩa này chỉ xuất hiện với giới từ above và đây cũng là một nét khác biệt khác về nghĩa với giới từ over. Trong tiếng Việt, từ trên không biểu thị nét nghĩa này. 2.2. Nghĩa phi không gian của giới từ định vị “trên” trong tiếng Anh và so sánh đối chiếu với tiếng Việt 2.2.1. Nghĩa “nhiều hơn” (The More Sense) Over và above đều biểu đạt nghĩa “nhiều hơn”. Tuy nhiên, căn cứ vào điển cảnh của chúng, chúng ta có thể thấy được sự khác nhau giữa over và above. Sự khác biệt này cũng được thể hiện rõ trong nghĩa “nhiều hơn”. Over thường được dùng để chỉ sự nhiều hơn về số lượng trong các trường hợp nói về tốc độ, sản lượng… Trong khi, above dùng để chỉ sự nhiều hơn về thời gian, tuổi, khoảng cách, mức độ…Qua đây, chúng ta thấy tiếng Anh và tiếng Việt có sự tương đồng về nghĩa “nhiều hơn”. Tuy nhiên, tiếng Anh vẫn có sự phân biệt rõ ràng hơn so với tiếng Việt vì tiếng Anh sử dụng của hai giới từ over và above để biểu đạt nghĩa này và mỗi giới từ có một đặc điểm nghĩa riêng còn tiếng Việt chỉ sử dụng từ trên để biểu đạt các nghĩa này. 2.2.3. Nghĩa “kiểm tra” (The Examining Sense) Nghĩa “kiểm tra” là nghĩa mở rộng từ nghĩa “nguyên thủy” của giới từ over như là kết quả của hai sự thay đổi trong mô hình không gian giữa TR và LM – điểm nhìn thuận lợi ở cùng vị trí với TR và điểm nhìn của TR trực tiếp về phía LM. Nghĩa “kiểm tra” có nguồn gốc từ kịch cảnh không gian mà ở đó TR cao hơn LM và có thể kiểm tra được. 2.2.4. Nghĩa “thời gian” (The Temporal Sense) Trong nghĩa này, over biểu thị mối quan hệ thời gian giữa một TR nào đó với một khoảng thời gian. Giới từ over trong trường hợp này được dịch sang tiếng Việt là hơn và trước. Nghĩa “thời gian” này cũng chỉ xuất hiện với giới từ over mà không xuất hiện với giới từ above và nó cũng không biểu thị nghĩa của từ trên trong tiếng Việt. 2.2.5. Nghĩa “khá hơn/ tốt hơn” (The Superior Sense) Nghĩa “khá hơn” là một trong các nghĩa của giới từ above được dùng để chỉ vị trí của cá nhân này cao hơn so với cá nhân khác trong một tổ chức hoặc trong một hệ thống xã hội. Giới từ above trong trường hợp này được dịch tương ứng sang tiếng Việt là trên. Tuy nhiên, nghĩa này dùng chỉ TR tốt hơn LM về phương diện quyền hạn và sự hiểu biết. Nghĩa này cũng chỉ xuất hiện với giới từ above. Căn cứ vào ngữ liệu khảo sát nghĩa của giới từ trên trong tiếng Việt, chúng tôi không thấy giới từ trên không có nghĩa này. 2.2.6. Nghĩa “thích hơn” (The preference Sense)
  17. 15 Nghĩa “thích hơn” của giới từ over xuất phát từ việc phân tích lại cấu hình không gian giữa TR và LM mà ở đó TR cao hơn LM nhưng nằm trong phạm vi ảnh hưởng của LM. Vị trí cao hơn của TR tương liên với khối lượng lớn hơn và được thích hơn so với khối lượng nhỏ hơn. Giới từ over và above đều biểu thị nghĩa “thích hơn” với ý để chỉ khối lượng của TR nhiều hơn LM. Nghĩa “thích hơn” này cũng không nằm trong nghĩa của từ trên trong tiếng Việt. 2.2.7. Nghĩa “kiểm soát” (The Control Sense) Nghĩa này cho thấy rõ mối liên hệ của tương quan trải nghiệm của con người với độ cao thẳng đứng. Và nghĩa “kiểm soát” này cũng không tồn tại trong mạng lưới nghĩa của giới từ trên trong tiếng Việt. Mặc dù, tiếng Việt cũng có sự trải nghiệm tương tự như tiếng Anh nhưng tiếng Việt có cách diễn đạt khác với tiếng Anh. 2.3. Nghĩa không gian của các giới từ định vị không gian “dưới” trong tiếng Anh so sánh đối chiếu với tiếng Việt 2.3.1. Nghĩa “nguyên thủy” (The Primary Sense) Điển cảnh của giới từ under chỉ ra mối quan hệ chức năng không gian giữa TR và LM mà ở đó TR ở vị trí thấp hơn hoặc bằng so với LM. Giới từ under tương tự như giới từ over đều chỉ ra các mối quan hệ không gian mà TR gần và tiếp xúc với LM. Giới từ below có nghĩa là TR “ở một vị trí thấp hơn” và không tiếp xúc với LM. Ở đây có sự khác biệt trong sự định vị không gian giữa người Anh và người Việt. Tiếng Anh và tiếng Việt có sự khác biệt về quy chiếu và nghĩa sử dụng của giới từ định vị không gian “trên-dưới”. Tiếng Anh và tiếng Việt có sự tương đồng trong nghĩa này nhưng tiếng Anh có sự phân biệt rõ ràng về nghĩa dưới hơn so với tiếng Việt vì tiếng Anh dùng hai giới từ under và below để chỉ nghĩa này còn tiếng Việt chỉ dùng từ dưới. 2.3.2. Nghĩa “khoảng cách địa hình” (The Topographical – distance Sense) Giới từ below còn có nghĩa “khoảng cách địa hình”. Nghĩa này dùng để phân biệt chính xác yếu tố kế tiếp trong mối quan hệ theo chiều thẳng đứng dưới TR. Do giới từ above và giới từ below có nghĩa trái ngược nhau nên giới từ below cũng có nghĩa “khoảng cách địa hình”. Điều này giúp cho việc phân biệt cách dùng của giới từ under và below cũng như cho thấy rõ sự khác biệt về nghĩa giữa tiếng Anh và tiếng Việt. Giới từ dưới trong tiếng Việt cũng có nghĩa tương đồng so với nghĩa của giới từ below trong tiếng Anh. 2.3.3. Nghĩa “che phủ” (The Covering Sense) Do giới từ under trái nghĩa với giới từ over nên hai giới từ này đều có nghĩa “che phủ” nhưng biểu thị sự đối lập về vị trí. Nghĩa này cũng chỉ xuất hiện với giới từ under mà không xuất hiện với giới từ below do điển cảnh của hai giới từ này quy định. Trong trường hợp này, giới từ under được dịch sang
  18. 16 tiếng Việt là dưới. Trong tiếng Việt, giới từ dưới cũng mang nghĩa “che phủ”. Như vậy, nghĩa “che phủ” có sự tương đồng trong tiếng Anh và tiếng Việt. 2.3.4. Nghĩa “tiếp theo ở dưới” (The Next-one-down Sense) Căn cứ vào điển cảnh của giới từ under và below cũng như mối quan hệ giữa giới từ under và below chúng ta có thể dễ dàng nhận ra nghĩa “tiếp theo ở dưới” chỉ xuất hiện với giới từ below. Trong ngữ liệu chúng tôi tìm được, chúng tôi chưa thấy nghĩa này xuất hiện trong mạng lưới nghĩa của giới từ dưới. Do đó, điều này có thể tạo ra khác biệt về nghĩa này giữa giới từ định vị không gian dưới của tiếng Anh so với tiếng Việt. 2.4. Nghĩa phi không gian của các giới từ định vị không gian “dưới” trong tiếng Anh so sánh đối chiếu với tiếng Việt 2.4.1. Nghĩa “ít hơn” (The Less Sense) Giới từ under và below đều có nghĩa “ít hơn”. Tuy nhiên, hai giới từ này có sự khác biệt về cách dùng. Under dùng để chỉ về số lượng ít hơn về số người, tuổi tác, thời gian, tiền bạc…còn below dùng để chỉ thấp hơn trong đo đạc như: nhiệt độ, mực nước, chiều cao…Nghĩa này trùng với một nghĩa của từ dưới trong tiếng Việt. Như vậy, tiếng Anh và tiếng Việt đều có nghĩa “ít hơn”. 2.4.2. Nghĩa “kém/ yếu hơn” (The Inferior Sense) Giới từ below biểu hiện một nghĩa thấp hơn nhưng không phải là do TR thấp hơn về mặt vật lý so với LM mà là nói đến vị trí quyền lực. Nghĩa này chỉ xuất hiện với giới từ below và đây cũng là nghĩa dùng để phân biệt cách dùng của hai giới từ under và below. Trong tiếng Việt, nghĩa “kém/ yếu hơn” được thể hiện với nghĩa thấp hơn về vị trí trong xã hội. Tóm lại, tiếng Anh và tiếng Việt có sự tương đồng về nghĩa “kém/yếu hơn”. Điều này cho thấy, người bản ngữ và người Việt phần nào có sự tương đồng trong trải nghiệm. 2.4.3. Nghĩa “điều khiển” (The Control Sense) Giới từ under còn mang nghĩa điều khiển. Nghĩa này được thể hiện TR ở vị trí cao hơn về địa vị và có sự ảnh hưởng đến LM. TR có khả năng chỉ đạo và điều khiển LM. Nghĩa này không xuất hiện với giới từ below. Trong nghĩa này, tiếng Anh và tiếng Việt có sự tương đồng về mặt ý nghĩa. Hay nói cách khác, người bản ngữ và người Việt có tương quan trải nghiệm tương đồng với nhau. 2.4.4. Nghĩa “không tồn tại” (The non-existene Sense) Nghĩa này xuất phát từ trải nghiệm về cái chết của con người. Khi con người qua đời thì thường đươc chôn dưới đất. Trong trường hợp này, TR ở vị trí thấp hơn so với LM nhưng biểu hiện không còn xuất hiện trên thế gian. Người Việt cũng có sự tương quan trải nghiệm so với người bản ngữ. Do đó, người Việt cũng có các cách diễn đạt tương đương. Như vậy, người bản ngữ diễn đạt nghĩa trực tiếp còn người Việt diễn đạt nghĩa gián tiếp. Qua đây,
  19. 17 chúng ta nhận thấy tiếng Anh và tiếng Việt có sự tương đồng về nghĩa “không tồn tại” nhưng có sự khác biệt về cách diễn đạt nghĩa. 2.5. Tiểu kết Giới từ định vị không gian “trên-dưới” trong tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt có sự tương đồng và khác biệt. Giới từ định vị không gian “trên” có nhiều nghĩa hơn giới từ định vị không gian ‘dưới” vì ngôn ngữ gắn liền với tương quan trải nghiệm và tương đồng tri giác của con người. Theo thực tế, con người có nhiều trải nghiệm với những thứ dễ quan sát hơn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chưa tìm thấy 5 nghĩa sau của giới từ over: “bên trên và vượt quá hoặc Quá I”, “chuyển giao”, “tập trung chú ý”, “phản thân” và “vượt quá và phía trên (Quá II)”. Ngoài ra, chúng tôi tìm thấy nghĩa “thích hơn” của giới từ above. Sự khác biệt về nghĩa giữa giới từ định vị không gian “trên” và giới từ định vị không gian “dưới” là do điển cảnh của các giới từ quy định. Sự tương đồng và khác biệt của giới từ định vị không gian “trên-dưới” trong tiếng Anh so sánh với tiếng Việt được thể hiện qua các điểm sau: Người Việt không phân biệt rõ ràng khoảng cách giữa TR và LM. Vị trí của TR và LM gần hay xa không quan trọng đối với người Việt. Tuy nhiên, người Anh lại có sự phân biệt rõ hơn về khoảng cách giữa TR và LM. Nếu TR và LM “nằm trong tầm tiếp xúc tiềm năng” thì tiếng Anh dùng hai giới từ over và under để biểu thị nghĩa “trên-dưới” nhưng nếu TR và LM không “nằm trong tầm tiếp xúc tiềm năng’ thì tiếng Anh lại dùng hai giới từ above và below để biểu thị nghĩa “trên-dưới”. Tóm lại, giới từ định vị không gian “trên - dưới” trong tiếng Anh có biểu đạt đa dạng và rõ ràng hơn so với tiếng Việt. Chương 3 CƠ SỞ TRI NHẬN CỦA GIỚI TỪ ĐỊNH VỊ KHÔNG GIAN TRÊN – DƯỚI TRONG TIẾNG ANH SO SÁNH ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT Dựa vào phân tích điển cảnh của over và above, chúng ta có thể nhận thấy sự khác biệt giữa over và above là do thành tố chức năng quyết định. Thành tố chức năng gắn với điển cảnh của over là TR nằm trong tầm tiếp xúc tiềm năng với LM. Trái lại, thành tố chức năng gắn với điển cảnh của above nhấn mạnh khoảng cách không kết nối giữa TR và LM sao cho TR không nằm trong tầm tiếp xúc tiềm năng với LM. Tương tự như vậy, cặp giới từ trái nghĩa với over và above là under và below cũng cho thấy sự khác nhau về khoảng cách giữa TR và LM tương ứng. 3.1. Sự tri nhận không gian của giới từ định vị không gian “trên” trong tiếng Anh so sánh đối chiếu với tiếng Việt Con người có thể định hướng không gian theo ba chiều: “trước - sau”, ‘trên - dưới’ và ‘phải - trái’. Và định hướng theo chiều ‘trên – dưới’ là chiều nổi trội nhất. Người bản ngữ định vị không gian dựa vào vị trí của TR so với
  20. 18 LM chứ không phụ thuộc vào vị trí của người nói. Dù người nói có xuất hiện hay không xuất hiện trong khung cảnh không gian đó thì họ vẫn có chung một kịch cảnh không gian. Còn người Việt thì không phân biệt rõ mối quan hệ không gian giữa TR và LM nên sử dụng chung một từ trên cho cả hai trường hợp. Như vậy, người bản ngữ thuyết giải mối quan hệ giữa TR và LM theo cách khách quan, sử dụng chiến lược định hướng không gian trực tiếp và định hướng không gian tương đối. Người Việt quan niệm TR cao hơn LM thì TR được coi là trên LM nếu như TR tính từ gốc của hệ tọa độ là mặt đất và TR ở tư thế chính tắc. Do đó, người Việt thuyết giải mối quan hệ không gian giữa TR và LM theo cách chủ quan và định hướng tuyệt đối. Như vậy, định vị không gian trong tiếng Việt rất thú vị là dù con người ở tư thế nằm ngang hay thẳng đứng thì mối quan hệ không gian “trên – dưới” giữa TR và LM không thay đổi. Điều này cho thấy mối quan hệ không gian giữa TR và LM được bảo lưu tuyệt đối. Người Việt sử dụng định hướng tuyệt đối còn người bản ngữ thì sử dụng định hướng tương đối và người Việt sử dụng chiến lược gián tiếp còn người bản ngữ sử dụng chiến lược trực tiếp. Tiếng Anh còn sử dụng các giới từ on, on the top và upon ngoài hai giới từ over và above để chỉ mối quan hệ không gian giữa vật X và Y. Trong khi tiếng Việt chỉ sử dụng từ trên. Do đó từ trên trong tiếng Việt khó có thể miêu tả chính xác sự khác biệt về quan hệ định vị không gian giữa hai vật X và Y. Điều này dẫn đến, tiếng Việt sử dụng biện pháp bổ sung là chỉ đích danh cái bộ phận (hay khu vực không gian) hữu quan ở vật định vị Y mà vật được định vị X chiếm chỗ. Người Việt sử dụng các từ bổ sung để làm rõ quan hệ không gian giữa TR và LM: mé trên, trên mặt, phía trên, bên trên và ngay trên. Một điều thú vị ở đây là người bản ngữ căn cứ vào vị trí không gian và khoảng cách giữa TR và LM để lựa chọn giới từ over và above. Người Việt chỉ phân chia hai vùng không gian trên và dưới mà không cần chú ý tới quan hệ không gian và khoảng cách giữa TR và LM. Như vậy, người bản ngữ có sự tri nhận về không gian rõ ràng hơn người Việt. Tiếng Việt còn có một nét thú vị trong tri nhận không gian đó là sự định hướng trong không gian dựa vào nhân tố mang bản chất tâm lí hay văn hoá-xã hội. Ví dụ: người Việt hay nói trên bộ, trên trung ương…Ở đây, bộ và trung ương được đánh giá cao hơn (trong bậc thang giá trị xã hội) chứ không phải bộ và trung ương ở vị trí cao hơn về mặt địa lý. 3.2. Sự tri nhận không gian của giới từ định vị không gian “dưới” trong tiếng Anh so sánh đối chiếu với tiếng Việt Tiếng Việt cho rằng TR thấp hơn LM thì TR được coi là “dưới” LM nếu như TR tính từ gốc của hệ tọa độ là mặt đất và TR ở tư thế chính tắc. Người Việt dùng biểu tượng chân của con người như bộ phận dưới cùng có tác dụng nâng đỡ các bộ phận còn lại. Trong khi đó, tiếng Anh rất chú ý đến mối quan
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2