intTypePromotion=1

Tóm tắt luận án Tiến sỹ Kinh tế: Các chính sách và cơ chế nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển trung tâm tài chính TP. HCM

Chia sẻ: Đỗ Hồng | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:27

0
61
lượt xem
7
download

Tóm tắt luận án Tiến sỹ Kinh tế: Các chính sách và cơ chế nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển trung tâm tài chính TP. HCM

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tóm tắt luận án Tiến sỹ Kinh tế: Các chính sách và cơ chế nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển trung tâm tài chính TP. HCM

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt luận án Tiến sỹ Kinh tế: Các chính sách và cơ chế nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển trung tâm tài chính TP. HCM

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM PHẠM HỮU PHƯƠNG CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ NHẰM THÚC ĐẨY SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM TÀI CHÍNH TP.HCM Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng Mã số: 62.31.12.01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ Thành phố Hồ Chí Minh, 2012
  2. CÔNG TRÌNH NÀY ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. HỒ DIỆU Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM 2. TS. TRẦN ĐẮC SINH Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3: Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước Vào hồi …..giờ …. Ngày …..tháng …..năm 2012 Có thể tìm luận án tại:
  3. -1- MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong lịch sử phát triển của thế giới, các trung tâm tài chính lớn thường phát triển bên cạnh những khu vực kinh tế năng động nhất.Với vai trò đầu tàu kinh tế, Thành Phố Hồ Chí Minh được định hình là trung tâm tài chính của cả nước.Phát triển trung tâm tài chính TP.HCM sẽ là điểm đột phá trong nỗ lực xây dựng một hệ thống tài chính hiệu quả phục vụ nền kinh tế thị trường.Hiện nay, thị trường tài chính của TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung còn ở mức phát triển rất thấp so với các thị trường tài chính trong khu vực. Cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng và thị trường chứng khoán cũng cần phát triển mạnh mẽ nhiều hơn nữa cả về chất lẫn về lượng. Tuy nhiên, để xây dựng TP.HCM trở thành Trung tâm tài chính vững mạnh thì thành phố cũng phải đối diện với nhiều trở lực, đặc biệt trong bối cảnh hệ thống tài chính nước ta còn yếu kém, bên cạnh nguy cơ khủng hoảng vẫn luôn ám ảnh những nỗ lực đột phá trong lĩnh vực tài chính và các bước đi trong chiến lược phát triển trung tâm tài chính TP.HCM. Vì vậy, Trung tâm tài chính TP.HCM sẽ đóng vai trò cấp thiết cho tiến trình tự do hoá tài chính mạnh mẽ của những chủ trương cấp tiến, phát triển nhanh, đồng bộ, vững chắc thị trường vốn Việt Nam, trong đó, thị trường chứng khoán đóng vai trò chủ đạo. Vì vậy, một trong những vấn đề cấp bách là đòi hỏi Thành phố Hồ Chí Minh phải có một hệ thống giải pháp chủ yếu là các cơ chế và chính sách nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM. Từ thực tiễn trên, tác giả đã chọn đề tài: "Các chính sách và cơ chế nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM"làm đề tài Luận án tiến sĩ. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN Mục đích nghiên cứu của Luận án nhằm làm sáng tỏ các vấn đề: - Tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề Trung tâm tài chính cũng như của các chính sách và cơ chế để sớm hình thành Trung tâm tài chính. - Phân tích, đánh giá về Trung tâm tài chính của một số nước và rút ra bài học kinh nghiệm đối với TP.HCM. - Đánh giá đúng mức thực trạng Trung tâm tài chính TP.HCM cũng như các chính sách và cơ chế hiện hành.Đồng thời, nêu lên những thuận lợi, hạn chế và những nguyên nhân hạn chế. - Đưa ra hệ thống giải phápvề các chính sách và cơ chế nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCMmột cách có hiệu quả và bền vững. 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Vấn đề Trung tâm tài chính là một phạm trù kinh tế có nội dung khá rộng. Luận án chỉ tập trung nghiên cứu về các chính sách và cơ chế nhằm thúc đẩy sự
  4. -2- hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM.Lấy số liệu thực tế từ năm 2005 – 2010 làm cơ sở minh chứng. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học kết hợp với các phương pháp thống kê, kế tóan, phương pháp so sánh, mô hình hóa kinh tế vĩ mô, đối chiếu, quan sát tổng kết thực tiễn… Luận án thiết lập các bảng, biểu để minh họa và làm rõ hơn những nội dung, kết luận và số liệu đề cập trong đề tài. Luận án có tham khảo và sử dụng số liệu trong thống kê, báo cáo, các kết quả nghiên cứu của các đề tài có liên quan nhằm xây dựng các bảng, biểu đồ, sơ đồ để minh họa và làm rõ mục đích nghiên cứu. 5. KẾT CẤU LUẬN ÁN Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án kết cấu thành ba chương: Chương1: Lý luận cơ bản về các chính sách và cơ chế đối với sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính Chương 2: Thực trạng về các chính sách và cơ chế hiện hành trong thúc đẩy sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM. Chương 3: Hệ thống các chính sách và cơ chế nhằm hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM.
  5. -3- CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM TÀI CHÍNH 1.1 Trung tâm tài chính và vai trò trong phát triển kinh tế 1.1.1 Khái niệm về Trung tâm tài chính Trung tâm tài chính là nơi quy tụ và tập trung nhiều nguồn cung - cầu về sản phẩm tài chính với phạm vi rộng lớn, tập trung trụ sở chính của các tổ chức tài chính tầm cỡ và có uy tín về chuyên môn, thu hút được nhiều nguồn vốn trong nước và quốc tế với nhiều hoạt động đa dạng phong phú, đáp ứng được các chuẩn mực và tiêu chí quốc tế nhằm góp phần chủ yếu vào việc huy động và sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nói cách khác, Trung tâm tài chính là một địa điểm, một thành phố hay một vùng lãnh thổ có một mạng lưới các tổ chức và thị trường tài chính được thiết lập để cung cấp tất cả các dịch vụ tài chính cho quốc gia, khu vực và quốc tế. 1.1.2 Đặc trưng của Trung tâm tài chính Có thể nêu lên một số đặc trưng cơ bản của Trung tâm tài chính: - Có các điều kiện về vị trí địa lý thuận lợi (giao thông đường thủy và đường bộ, có các hải cảng, sân bay) với các thế mạnh và lợi thế so sánh như mức độ phát triển về kinh tế, kết cấu hạ tầng, thương mại, công nghiệp và công nghệ hơn hẳn so với các khu vực khác trên phạm vi quốc gia hoặc quốc tế (ví dụ như Newyork, London, Tokyo,Hongkong, Singapore, Frankfurt, Zurich, Dubai,…). - Là nơi tập trung một số lớn các định chế tài chính với mật độ dầy đặc (hệ thống Ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng); các công cụ tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi); các dịch vụ tài chính (kiểm tóan, định mức tín nhiệm) cũng như các cơ chế họat động của chúng cùng các quan hệ tài chính-tiền tệ. - Là Trung tâm chính trị, thương mại, đầu tư, nghiên cứu, giáo dục của quốc gia, nơi tập trung số lượng lớn các chuyên gia tài chính giỏi (ví dụ khỏang 7% GDP của Anh được tạo ra bởi một triệu chuyên gia và nhân viên tài chính làm việc trong một diện tích khỏang một dặm vuông của Trung tâm tài chính London). 1.2. CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI TRUNG TÂM TÀI CHÍNH Sự cần thiết của chính sách và cơ chế: 1.2.1 Chính sách Chính sách nhằm hình thành và phát triển Trung tâm tài chính sẽ gắn chặt với bản chất Nhà nước, nền tảng của chính sách là các chức năng của Nhà nước, cụ thể là tính chính trị với vai trò của Chính phủ, sự can thiệp của Nhà nước vào các thất
  6. -4- bại thị trường và sự thể hiện trong các quy định để tạo điều kiện hình thành và phát triển Trung tâm tài chính. Trên nền tảng đó, thiết kế chính sách phát triển Trung tâm tài chính thực chất là việc giải quyết vấn đề, dưới một loạt các ảnh hưởng và điều kiện đã nêu trên. 1.2.2 Cơ chế Cơ chế để vận hành và phát triển Trung tâm tài chính có nghĩa là làm ra cách thức điều hành và quản lý hoạt động của trung tâm tài chính và những thị trường có liên quan đến Trung tâm tài chính phát triển. Điều này, có nghĩa là, Quốc hội làm luật, Chính phủ ra các nghị định về cơ cấu, tổ chức và hoạt động của các bộ, ngành liên quan đến hoạt động của trung tâm tài chính, Bộ trưởng ra các văn bản, quy chế điều hành, quản lý công công việc của bộ và các cơ quan trực thuộc. Các bộ, ngành ra các thông tư liên ngành quy định cơ chế phối hợp để vận hành và thúc đẩy trung tâm tài chính ra đời và phát triển. 1.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TP.HCM Bài học thứ nhất: Tạo lập hành lang pháp lý đầy đủ và đồng bộ. Bài học thứ hai: Đảm bảo việc tuân thủ các quy định về pháp luật của Trung tâm tài chính. Bài học thứ ba: Tính minh bạch và tính trách nhiệm. Bài học thứ tư: Chính sách tạo vốn hai bước. Bài học thứ năm: Phát triển ưu tiên thị trường trái phiếu. Bài học thứ sáu: Hạn chế sự can thiệp hành chính từ phía Chính phủ và các cơ quan hữu trách. Bài học thứ bảy: Cho phép định chế tài chính nước ngoài gia nhập thị trường với một số giới hạn pháp lý cần thiết. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÁC CHÍNH SÁCH, CƠ CHẾ HIỆN HÀNH TRONG THÚC ĐẨY SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM TÀI CHÍNH TP.HỒ CHÍ MINH 2. 1 THỰC TRẠNG VỀ TRUNG TÂM TÀI CHÍNH TP.HỒ CHÍ MINH 2.1.1Thực trạng thị trường vốn tại thành phố Hồ Chí Minh Thị trường vốn Việt Nam và TP.Hồ Chí Minh nói riêng bắt đầu xuất hiện vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, từ chủ trương của Nhà nước cho phép hình thành phát triển hình thức sở hữu doanh nghiệp dưới dạng công ty cổ phần và việc Chính phủ phát hành trái phiếu để huy động vốn bù đắp bội chi Ngân sách Nhà nước. Trong suốt thời kỳ này, thị trường vốn chưa hình thành rõ nét. Huy động vốn của các doanh nghiệp thường với quy mô rất nhỏ, trong phạm vi hẹp và chủ yếu dựa trên các quan hệ cá nhân truyền thống, còn huy động vốn dưới hình thức vay nợ của Chính phủ chủ yếu dưới dạng tín phiếu và trái phiếu bán lẻ của Kho bạc Nhà
  7. -5- nước có kỳ hạn ngắn (1,2,3 năm). Thị trường vốn lúc này chưa được Nhà nước tổ chức một cách chính thống và chưa mang tính đại chúng. Giá trị vốn hóa thị trường tại Việt Nam và TP.Hồ Chí Minh vẫn chưa vượt qua quy mô tổng tài sản của toàn hệ thống ngân hàng, trong khi thị trường vốn tại các quốc gia phát triển đã thay thế hệ thống ngân hàng thương mại trong vai trò nguồn cung cấp tài chính chủ yếu cho khu vực doanh nghiệp. Ví dụ, tại Mỹ, quá trình phi trung gian hóa hoạt động tài chính diễn ra mạnh mẽ, với kết quả là nguồn tài chính doanh nghiệp cung cấp bởi hệ thống ngân hàng thương mại chỉ còn chiếm dưới 30%. Thị trường vốn của Việt Nam và TP.Hồ Chí Minh hiện nay, chủ yếu là thị trường cổ phiếu (thị trường chứng khoán) và thị trường trái phiếu. Thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ra đời từ năm 2000, trải qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển, đã từng bước khẳng định vai trò của nó như là một kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế bổ sung cho hệ thống ngân hàng. Qua phân tích thực tiễn từ thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng trong thời gian từ 2000 – 01/05/2011, ta có thể kết luận: - TTCK Việt Nam (chủ yếu là TP.Hồ Chí Minh) phát triển muộn so với các TTCK trên thế giới, nhưng tăng trưởng khá nhanh và ngoạn mục ở cả quy mô, tính thanh khoản và sự tham gia của các thành viên của thị trường; tuy nhiên nếu so sánh với nền kinh tế và khả năng tăng trưởng của nó thì TTCK Việt Nam và TP.Hồ Chí Minh còn nhỏ. - GDCK TP.HCM giữ vai trò quan trọng trong sự vận hành của thị trường chứng khoán Việt Nam, đây là nơi giao dịch cổ phiếu của các công ty có quy mô vốn lớn (vốn điều lệ tối thiểu 0 tỷ/công ty). -Hàng hóa trên thị trường gồm có cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và ngày càng gia tăng về số lượng. Chứng khoán tham gia niêm yết trên sàn đã khẳng định được chất lượng hoạt động của các đơn vị phát hành. Tuy nhiên hàng hóa niêm yết chưa dồi dào, các Cty niêm yết chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có sức thu hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư. - Chưa chiếm ưu thế trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, nếu so sánh với các nước phát triển thì TTCK của TP.Hồ Chí Minh Việt Nam còn nhỏ bé về quy mô cũng như tỷ lệ vốn hóa thị trường/GDP, chưa vững chắc và ẩn chứa nhiều rủi ro. - Chưa phát huy hết tiềm năng của một thị trường còn non trẻ, tăng trưởng và suy thoái không ổn định, chưa đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn. Điều này chứng tỏ rằng, TTCK Việt Nam chưa có độ sâu và phát triển kém bền vững. Thị trường trái phiếu Xét về tổng thể nền kinh tế, huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu sẽ làm giảm sự tập trung nhu cầu vốn vào hệ thống ngân hàng, tạo sự cân xứng trong kỳ hạn huy động vốn và cho vay vốn ngân hàng, đồng thời hạ thấp nguy cơ nền kinh tế đối mặt với khủng hoảng cán cân vốn. Thị trường trái phiếu là một kênh huy
  8. -6- động vốn tiềm năng nhất, không chỉ cho các dự án của Chính phủ mà còn bao gồm các dự án của các thành phần kinh tế khác. Qua phân tích TTTP Việt Nam và TP.Hồ Chí Minh, cho thấy: - Thị trường trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty vẫn còn sơ khai, quy mô nhỏ với dư nợ trái phiếu chính phủ chỉ tương đương 2% GDP. Lãi suất của trái phiếu chính phủ chủ yếu chịu sự chỉ đạo của Bộ Tài chính, chưa tạo ra được đường cong lãi suất làm cơ sở cho việc phát hành trái phiếu công ty và các hoạt động đầu tư trên TTTC. - Thành phần tham gia đấu thầu trái phiếu chính phủ qua GDCK bị giới hạn trong số các thành viên đã được chấp thuận, trên thực tế các NHTM nhà nước vẫn đóng vai trò chính. - Thị trường thứ cấp chưa phát triển, các hoạt động của thị trường về cơ bản diễn ra chủ yếu trên thị trường sơ cấp. - Chỉ tiêu tổng dư nợ trái phiếu/GDP được tăng dần qua các năm, nhưng so với các nước trong khu vực thì độ sâu còn khá nông. Thị trường còn kém tính thanh khoản so với các nước trong khu vực, chưa hấp dẫn được các thành viên tham gia, đặc biệt là các nhà đầu tư có tổ chức và nước ngoài. 2.1.2. Thực trạng thị trường tín dụng ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh Ở các nước có nền kinh tế phát triển, nhu cầu vốn trung và dài hạn chủ yếu thực hiện theo hình thức trực tiếp trên thị trường chứng khoán. Ngược lại, ở Việt Nam hầu hết vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đều do các NHTM cung cấp. Thị trường tín dụng của TP.HCM nói riêng và của Việt Nam nói chung trong thời gian qua, có những điểm nổi bật như sau: - Mở rộng mạng lưới, đa dạng hóa các chủ thể tham gia trên thị trường - Tăng trưởng nguồn vốn huy động, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Hoạt động tín dụng ngân hàng được đổi mới, chuyển hướng thực sự theo cơ chế thị trường và hiệu quả kinh doanh ngân hàng ngày càng nâng lên. - Tỷ lệ nợ quá hạn của các NHTM trên địa bàn TP.HCM thấp hơn so với tình hình chung của cả nước. Tuy nhiên thị trường tín dụng tại TP.HCM cũng có những hạn chế: - Một số không nhỏ các Ngân hàng thương mại cổ phần còn có vốn điều lệ thấp. - Nguồn thu Ngân hàng chủ yếu từ sản phẩm tín dụng truyền thống. - Thị trường liên Ngân hàng còn tự phát và chưa có sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước với tư cách là người cho vay cuối cùng khiến lãi suất biến động mạnh theo cung cầu. - Tiềm ẩn nhiều rủi ro kỳ hạn. - Thị trường tín dụng và ngoại tệ còn chia cắt trên phạm vi cả nước. Các sản phẩm phái sinh chưa được áp dụng rộng rãi. 2.1.3 Thực trạng phát triển các định chế tài chính phi ngân hàng - Công ty tài chính:
  9. -7- Chưa hấp dẫn cổ đông, lợi nhuận thấp, không thực hiện được nghiệp vụ do thiếu thị trường vốn. - Công ty chứng khoán: Quy mô nhỏ, cạnh tranh không lành mạnh, chưa thực hiện được đầy đủ hoạt động kinh doanh theo luật. - Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ: ố lượng còn hạn chế, hoạt động của nhà đầu tư chuyên nghiệp chưa nhiều. 2.2 THỰC TRẠNG VỀ CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ HIỆN HÀNH TÁC ĐỘNG ĐẾN TRUNG TÂM TÀI CHÍNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Theo Quyết định số 12 /2007/QĐ-TTg ngày 02/0 /2007 của Thủ tướng Chính phủ: “Thị trường tài chính TP.HCM phải được phát triển nhanh, an toàn và bền vững; đóng vai trò nền tảng và chủ đạo trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế thành phố; phấn đấu quy mô thị trường dịch vụ tài chính đến năm 2020 đạt 70% GDP; là ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố, phát triển mạnh các dịch vụ thương mại, tài chính ngân hàng, viễn thông, du lịch; phát triển tốt thị trường hàng hóa, thị trường tài chính… từng bước phát triển thành phố thành trung tâm thương mại, tài chínhcủa cả nước và khu vực Đông Nam Á”. Để đạt được mục tiêu đề ra, Việt Nam đã xây dựng hệ thống chính sách hoạt động cho các trung gian tài chính; các cơ chế vận hành, phát triển thị trường tài chính nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM. 2.2.1 Thực trạng chính sách và cơ chế trên thị trường tiền tệ Trong thời gian qua, Việt Nam đã xây dựng hành lang pháp lý cho các loại hình tổ chức tín dụng hoạt động, quy định một cách bao quát tại điều 4 Luật các tổ chức tín dụng. Khung pháp lý thị trường tiền tệ của Việt Nam trong thời gian qua đã từng bước hoàn thiện và đạt được những kết quả như sau: - Ngành ngân hàng đã có Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng. Cấu trúc hệ thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ về chiều rộng (cả ở khu vực quản lý lẫn khu vực kinh doanh). Duy trì các chi nhánh Ngân hàng nhà nước đến từng tỉnh, thành… - Hoàn thiện thị trường tiền tệ, các công cụ chính sách tiền tệ và nâng cao vai trò của Ngân hàng trung ương. - Tự do hóa tài chính và mở cửa tài khoản vốn thận trọng, theo trình tự: Ổn định kinh tế vĩ mô, lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, tự do hóa tài khoản vãng lai, và tự do hóa tài khoản vốn, thường là đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài trước rồi đến đầu tư gián tiếp và các khoản vay thương mại. - Đổi mới về cơ bản cấu trúc tài chính, cấu trúc tổ chức, cấu trúc sở hữu và môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng trong cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. Ngân hàng Trung ương tương đối độc lập với Chính phủ. - Các tổ chức tín dụng được tự do hoá trong hoạt động kinh doanh, được tạo điều kiện mở rộng không gian hoạt động ra ngoài lãnh thổ, chấm dứt mô hình hoạt
  10. -8- động đan xen giữa tín dụng thị trường với tín dụng chính sách trong một định chế tài chính hạch toán độc lập. - Đổi mới cơ bản về cơ chế quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào hoạt động ngân hàng. - Đảm bảo thông tin minh bạch, chuẩn mực hóa hệ thống giám sát, kế toán, kiểm toán theo chuẩn mực quốc tế. - Hoàn thiện tính đồng bộ của chiến lược phát triển theo các nội dung then chốt, đó là: Hoàn thiện môi trường pháp lý; cấu trúc lại hệ thống Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tín dụng; phát triển năng lực quản lý và năng lực hoạt động kinh doanh; kích thích cạnh tranh bình đẳng, nhất quán theo cơ chế thị trường, mở cửa, có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng XHCN. - Mục tiêu xuyên suốt của chính sách tiền tệ là giữ ổn định giá trị đồng tiền, cải thiện sức mua của 1 đơn vị tiền tệ cùng với quá trình ổn định niềm tin của nhân dân vào đồng tiền Việt Nam,từng bước làm cho đồng tiền Việt Nam là đồng tiền chuyển đổi trong khu vực và ở phạm vi rộng hơn.Tuy nhiên, họat động của thị trường này cũng có nhiều hạn chế về pháp lý: - Thị trường tiền tệ chưa hình thành được lãi suất tham chiếu để các thành viên thị trường điều chỉnh lãi suất cũng như các quyết định đầu tư thích hợp. - Các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ chưa phát huy được hiệu quả mong muốn. Cơ quan quản lý là Ngân hàng Nhà nước vẫn sử dụng nhiều biện pháp can thiệp thị trường mang tính hành chính. 2.2.2 Thực trạng chính sách và cơ chế trên thị trường chứng khoán ự ra đời của Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 1/1/2007 đã tạo khung pháp lý cao cho TTCK Việt Nam hoạt động hiệu quả và chuyên nghiệp hơn. Chính sách của Nhà nước khuyến khích ra đời các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển để tạo ra hàng hóa cho thị trường. Quy chế hành nghề chứng khoán ban hành theo Quyết định số 15/200 /QĐ- BTC ngày 27/03/200 quy định khá chi tiết về chứng chỉ hành nghề chứng khoán. Tuy nhiên, khung pháp lý cho hoạt động thị trường này vẫn còn một số hạn chế: - Hạn chế vai trò của các nhà bảo lãnh phát hành và các nhà tạo lập thị trường: Các nhà bảo lãnh phát hành ở Việt Nam chủ yếu là các NHTMQD và các công ty chứng khoán, các nhà bảo lãnh phát hành có vai trò rất nhỏ trong việc phát hành các loại trái phiếu trên thị trường trái phiếu, các nhà bảo lãnh phát hành chỉ thực hiện bảo lãnh phát hành đối với trái phiếu chính phủ. Cho đến nay, các công ty chứng khoán ở Việt Nam vẫn chưa đóng vai trò của các nhà tạo lập thị trường trên thị trường chứng khoán. - Thị trường tự do (thị trường cổ phiếu phi tập trung) thiếu sự quản lý của nhà nước cũng chiếm thị phần không nhỏ, cổ phiếu của nhiều doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa thuộc các lĩnh vực như ngân hàng, điện lực, viễn thông, hàng hải,
  11. -9- vẫn giao dịch trên thị trường không chính thức, gây bất ổn cho hệ thống tài chính. Cho đến nay chưa có luật điều chỉnh họat động của thị trường này. - Trong từng thời điểm, sự tham gia không có định hướng và mang tính “bầy đàn” của nhiều nhà đầu tư trong khi nguồn cung hạn chế đã gây mất cân đối cung cầu, đưa giá chứng khóan thóat ly giá trị thực của doanh nghiệp, gây mất ổn định thị trường. 2.2.3 Thực trạng chính sách và cơ chế cho hoạt động thị trường trái phiếu Kể từ tháng 6/200 , trái phiếu chính phủ được giao dịch tập trung tại ở giao dịch Chứng khoán Hà Nội, tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch của trái phiếu chính phủ phát hành nội tệ. Trong thời gian đầu, trái phiếu chính phủ niêm yết tại GDCK Hà Nội được giao dịch chung hệ thống giao dịch vớicổ phiếu. Ngày 24/9/2009, GDCK Hà Nội đã khai trương và đưa vào hoạt động hệ thống giao dịch trái phiếu chính phủ chuyên biệt, tách biệt với hệ thống giao dịch cổ phiếu, tạo sự phát triển toàn diện cho thị trường giao dịch trái phiếu chính phủ. Tuy nhiên, thị trường trái phiếu cũng có nhiều hạn chế về mặt pháp lý: - Lãi suất trái phiếu Chính phủ do Bộ tài chính chỉ đạo dẫn đến chưa tạo được đường cong lãi suất làm cơ sở cho việc phát hành trái phiếu công ty và các họat động đầu tư trên thị trường tài chính. - Thị trường trái phiếu công ty còn trong giai đọan phát triển sơ khai khiến rất khó huy động vốn đầu tư dài hạn cho việc phát triển các doanh nghiệp. Tóm lại, trong trong thời gian qua Việt Nam đã xây dựng được một số Luật, Nghị định, Thông tư, Quy định và cũng đã xây dựng một số cơ chế và chính sách tạo hành lang pháp lý cho Thị trường tài chính hoạt động nhằm tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập: - Khung pháp lý vẫn chưa tạo cho các tổ chức hoạt động an toàn cho Thị trường tài chính và còn bị nhược điểm cố hữu: Thực thi, chấp hành luật pháp chưa nghiêm, buông lỏng trật tự kỹ cương. Mặt khác, việc thưởng, phạt, chế tài chưa đủ răn đe và khuyến khích để làm tốt hay ngăn ngừa sai trái. - Nội dung pháp quy đúng, nhưng do làm sai hoặc cố tình vi phạm nên cho rằng nội dung đó “không phù hợp thực tiễn hoàn cảnh nước ta” và dẫn đến đề nghị phải điều chỉnh nội dung đúng đắn. - Các cơ chế phối hợp chưa đồng bộ, thiếu thống nhất: Thực tế cho thấy, việc xây dựng và thực hiện kế hoạch phát hành trái phiếu và tín phiếu kho bạc của Bộ Tài Chính còn thiếu sự phối hợp nhịp nhàng với thực thi chính sách tiền tệ của NHNN. Bộ Tài Chính còn đưa ra mức lãi suất của trái phiếu chính phủ hoặc lãi suất chỉ đạo trong trường hợp đấu thầu qua NHNN hoặc đấu thầu qua thị trường giao dịch chứng khoán tập trung. Nói cách khác, thị trường chứng khóan và thị trường tiền tệ chưa liên thông, bắt nhịp và phối hợp trong điều hòa vốn cho nền kinh tế. Các dịch vụ tạo sự liên thông giữa hai thị trường tiền tệ và chứng khóan chưa được phát triển như dịch vụ đầu tư tài chính, dịch vụ đấu thầu trái phiếu, tín phiếu…
  12. - 10 - - Chính sách cấp ưu đãi tín dụng của chính phủ một phần làm cho nguồn cung trái phiếu ít hơn. Chẳng hạn, các Quỹ hỗ trợ phát triển được thành lập với mục đích là hỗ trợ cho các dự án đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư. Tuy vậy, nguồn tín dụng ưu đãi mà quỹ cung cấp gây tác động tiêu cực nhất định đối với sự phát triển của thị trường trái phiếu, do phần nào khuyến khích các doanh nghiệp trực tiếp vay vốn từ các Quỹ mà chưa quan tâm đúng mức tới việc phát hành trái phiếu và niêm yết trên thị trường. - Trong các văn bản pháp luật đối với phát triển thị trường vốn hiện nay vẫn còn thiếu các quy định cần thiết, chưa thống nhất và phù hợp, chẳng hạn như: Chưa có văn bản nào quy định về các yêu cầu và thủ tục phát hành trái phiếu không niêm yết của các công ty thành lập theo Luật Doanh nghiệp; chưa có quy định yêu cầu các chủ thể bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ theo Nghị định 01/CP phải bán ít nhất bao nhiêu % tổng số trái phiếu nhận bảo lãnh cho các nhà đầu tư. 2.3 TRIỂN VỌNG CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM TÀI CHÍNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.3.1 Những thuận lợi cho việc hình thành và phát triển Trung tâm tài chính thành phố Hồ Chí Minh Một là, TP.HCM hội tụ đầy đủ các điều kiện vĩ mô, cơ sở hạ tầng thiết yếu để hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM. Hai là, TP.HCM tập trung, thu hút một khối lượng lớn các định chế tài chính trung gian, đặc biệt là ở Giao dịch chứng khoán là điều kiện căn bản để hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM. Ba là, Thành phố HCM là một trung tâm lớn về kinh tế, thương mại của cả nước, tập trung được đầu mối giao lưu kinh tế, các Trung tâm thương mại lớn, thu hút được nhiều tập đoàn quốc tế. Bốn là, Thành phố HCM có tiềm năng lớn về nguồn nhân lực, có đội ngũ chuyên gia kinh tế, Tài chính - Ngân hàng dồi dào, đảm bảo điều kiện chắc chắn để hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM. 2.3.2 Những khó khăn * Đứng trên phương diện tổng thểTrung tâm tài chính tại TP.Hồ Chí Minh còn có những khó khăn như sau: Thứ nhất, các thị trường tại TP.Hồ Chí Minh chưa theo kịp những đòi hỏi của đời sống kinh tế - xã hội và yêu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế. ự phát triển các thị trường nhân tố sản xuất như: Thị trường vốn, thị trường đất đai bất động sản, thị trường lao động, thị trường công nghệ,… còn chưa đồng bộ, vừa thiếu tính thị trường, vừa thiếu sự quản lý, giám sát hợp lý và tính hiệu lực. Thứ hai, trung tâm tài chính tại TP.Hồ Chí Minh tuy bước đầu hình thành các yếu tố cấu thành cơ bản, song vẫn còn thiếu vắng một số định chế tài chính quan trọng như các Quỹ hưu trí, Quỹ đầu tư hỗ trợ, Quỹ đầu tư mạo hiểm trong nước,
  13. - 11 - Công ty định mức tín nhiệm…Nhiều công cụ tài chính hiện đại, nhất là các công cụ tài chính phái sinh mà tập trung chủ yếu là giao dịch kỳ hạn (forward), hoán đổi (swaps), tương lai (future) và quyền chọn (options),…chưa được hoặc ít được sử dụng. Mức độ phát triển của TTTC TP.Hồ Chí Minh xét theo chiều sâu vẫn còn rất thấp, thiếu bền vững. Thứ ba, hệ thống tài chính, nhất là của hệ thống ngân hàng còn nhiều rủi ro: Tỷ lệ nợ xấu còn cao hơn mức an toàn theo thông lệ quốc tế; kỷ luật về minh bạch thông tin chưa thường xuyên được đảm bảo; khả năng giám sát cũng như quản trị rủi ro còn nhiều yếu kém, trong khi hệ thống ngân hàng phải đảm trách gánh nặng là huy động và cung ứng vốn cho nền kinh tế. Thứ tư, thị trường tài chính nói chung, các thị trường tiền tệ và thị trường vốn nói riêng còn ở trình độ phát triển thấp so với nhiều nước trong khu vực. Hiện nay, các thị trường thứ cấp vẫn chưa phát triển mạnh mẽ, mối liên kết tác động qua lại giữa các thị trường trong hệ thống còn thiếu chặt chẽ, tính thanh khoản còn thấp. * Đứng trên phương diện cụ thể của từng thị trường, Trung tâm tài chính tại TP.Hồ Chí Minh có những hạn chế: - Đối với thị trường cổ phiếu Thứ nhất, nguồn cung cổ phiếu còn ít và nghèo nàn Trên thị trường số lượng cổ phiếu được giao dịch còn quá ít, chưa đa dạng, hầu như chỉ có cổ phiếu của các DNNN được cổ phần hoá. Điều này là do, quá trình cổ phần hoá trong thời gian gần đây diễn ra chậm, chưa gắn với thị trường chứng khoán. Thứ hai, hệ thống kế toán, thông tin tài chính và công bố thông tin còn nhiều bất cập, độ tin cậy và tính pháp lý chưa cao. Các chuẩn mực kế toán chưa theo chuẩn mực quốc tế, chưa có chế tài xử phạt khi không được chấp hành, hệ thống thông tin tài chính của doanh nghiệp chưa được chú trọng phát triển. Việc thiếu những quy định về công bố thông tin đang gây nên nhiều trở ngại cho việc quản lý doanh nghiệp và đang là cản trở cho việc đưa chứng khoán của các doanh nghiệp ra niêm yết trên thị trường, đồng thời chưa tạo ra niềm tin cho các nhà đầu tư. Thứ ba, lượng cầu đối với cổ phiếu còn thấp Các nhà đầu tư trên địa bàn và cả nước chưa thực sự quan tâm, chưa có nhu cầu kinh doanh cổ phiếu. Điều này được giải thích như sau: - Lợi ích thu được từ việc đầu tư vào cổ phiếu chưa chắn chắn, trong khi lợi ích thu được từ đầu tư vào các hoạt động kinh doanh khác dễ nhận biết hơn; - Thu nhập và tiết kiệm của các nhà đầu tư, nhất là cá nhà đầu tư cá nhân còn thấp. Tập quán, thói quen đầu tư chứng khoán hầu như chưa hình thành, hiện nay người dân TP.Hồ Chí Minh và Việt Nam thích gửi tiền vào Ngân hàng để hưởng lãi suất ổn định hơn;
  14. - 12 - - Các nhà đầu tư chưa biết nhiều thông tin, chưa thực sự tin tưởng vào các công ty phát hành chứng khoán. Đặc biệt là sự tham gia của các nhà đầu tư có tổ chức còn chưa đáng kể. - Đối với thị trường tiền tệ Thứ nhất, thị trường tiền tệ còn kém phát triển mặc dầu đã có tương đối đầy đủ các yếu tố cấu thành. Quy mô giao dịch trên thị trường còn nhỏ. Các công cụ tài chính chưa đa dạng về chủng loại và thời hạn. Thành viên tham gia thị trường tiền tệ chủ yếu là các tổ chức tín dụng có quy mô vốn lớn (các NHTM lớn). Thứ hai, mối liên kết, tác động qua lại giữa các thị trường cấu thành của thị trường tiền tệ còn yếu. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng chưa phản ánh chính xác quan hệ Cung - Cầu. Thứ ba, việc thanh tra giám sát nội bộ và cơ chế giám sát hiệu quả còn thấp, còn mang nặng hình thức, thiếu những chuẩn mực về quản lý tín dụng và nợ. Vì vậy, các vi phạm trong hoạt động ngân hàng chưa được phát hiện và xử lý kịp thời. Thứ tư, khuôn khổ điều tiết các nghiệp vụ ngân hàng vẫn còn một số hạn chế. Thiếu các tiêu chuẩn rõ ràng về độ an toàn, lành mạnh của nghiệp vụ ngân hàng. Hệ thống kế toán không tương thích và nghiệp vụ của các thanh tra viên chưa cao. Thứ năm, quy chế dự trữ bắt buộc quy định không trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc và trả lãi cho tiền dự trữ vượt. Điều này không khuyến khích các tổ chức tín dụng tận dụng tối đa vốn khả dụng, mà có thể khuyến khích nhiều tổ chức tín dụng để mức dự trữ tương đối cao. - Đối với thị trường trái phiếu Hiện nay đã có hơn 60 loại trái phiếu được niêm yết tại GDCK thành phố Hồ Chí Minh với tổng giá trị khoảng trên 3.000 tỷ đồng nhưng giao dịch không thường xuyên. - Đối với các định chế tài chính trung gian Thứ nhất, đặc thù của các Công ty tài chính thường đầu tư và các dự án lớn, nhưng do vốn tự có thấp nên Công ty tài chính rất khó thực hiện các dự án đồng thời cũng khó mở rộng quy mô hoạt động của mình. Thứ hai, thị trường của các Công ty tài chính chưa ổn định. Khả năng thu hút vốn trung và dài hạn của các Công ty tài chính rất hạn chế, trong khi thời gian qua, NHNN liên tục điều chỉnh lãi suất, điều này đã gây khó khăn lớn cho các tổ chức tài chính hoạt động có tỷ trọng vốn trung và dài hạn cao. 2.3.3 Nguyên nhân hạn chế. Thứ nhất, nguyên nhân xuất phát từ nội tại nền kinh tế - Việt Nam nói chung và TP Hồ Chí Minh nói riêng có xuất phát điểm thấp, lại đang trong quá trình chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu. Vì vậy, việc tiếp cận, hình thành, phát triển và quản lý thị trường tài chính là một thị trường phức tạp với những công cụ hiện đại, phương pháp điều hành chặt chẽ và linh hoạt nên tất yếu sẽ gặp nhiều khó khăn.
  15. - 13 - - Tình trạng can thiệp hành chính trực tiếp của các cơ quan quản lý nhà nước vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DNNN, tuy đã giảm song vẫn được duy trì với các hình thức khác nhau theo yêu cầu quản lý nhà nước theo định hướng XHCN. Môi trường kinh doanh chưa thuận lợi, chưa lành mạnh, thiếu cạnh tranh và chưa minh bạch. - Thói quen sử dụng tiền mặt còn phổ biến. Bên cạnh đó, những méo mó trong các thị trường, nhất là thị trường bất động sản và thị trường tín dụng cũng là nguyên nhân khiến nhiều chính sách, chủ trương phát triển thị trường chứng khóan trở nên thiếu hiệu lực và mất tác dụng. - Tư duy lý luận và nhận thức thực tiễn về vị trí, vai trò và chức năng của TTTC chưa ngang tầm với tiến trình đổi mới và phát triển kinh tế dẫn đến những bất cập trong hoạch định có tính chiến lược và trong việc lựa chọn chính sách, giải pháp. Đã có quan niệm tập trung ngăn chặn các nguy cơ gây rủi ro, làm chệch hướng các mục tiêu phát triển xã hội của TTTC. - Các yếu tố về khung pháp lý, thông tin, môi truờng kinh doanh, vốn đầu tư, nguồn nhân lực còn nhiều bất cập, chưa thích ứng kịp thời với sự phát triển nhanhcủa nền kinh tế, tạo ra không ít trở lực làm hạn chế sự phát triển lĩnh vực tài chính ngân hàng. Thứ hai,việc thực thi các nguyên tắc quản lý đối với TTTC tuy đã từng bước được hình thành, song chưa thống nhất và thiếu triệt để. Trung tâm tài chính bao gồm các thị trường cấp cao, tinh xảo, và rất nhạy cảm với các biến động chính trị, kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, các nguyên tắc về minh bạch hoá, thông tin, kế toán, kiểm toán, và giám sát phải được đảm bảo. Tuy nhiên, các nguyên tắc này chưa được coi trọng đúng mức và thực thi nghiêm chỉnh ở nước ta. Thứ ba, Trung tâm tài chính chậm hình thành và phát triển một phần còn do các cơ quan quản lý nhà nước chưa có các chức năng và quyền hạn đầy đủ. NHNN trên thực tế chưa có đủ thẩm quyền để chủ động thực thi chính sách tiền tệ. UBCKNN là cơ quan đồng thời thực hiện xây dựng pháp luật, giám sát thực thi và thực thi pháp luật, trong khi thực quyền trong việc tăng cung và cầu chứng khoán, phối hợp các cơ quan quản lý nhà nước hữu quan còn chưa đầy đủ. Thứ tư, năng lực quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước cũng như năng lực quản trị của các định chế tài chính còn hạn chế so với đòi hỏi thực tế và yêu cầu phát triển TTTC. Đối với TTTC thì năng lực con người, năng lực công nghệ và năng lực thể chế đều vô cùng quan trọng. Ở nước ta, do chưa có đầy đủ các thể chế cần thiết, năng lực quản lý của bộ máy quản lý và năng lực quản trị, nhất là quản trị rủi ro của các định chế tài chính còn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển TTTC trong giai đoạn hiện nay. Thứ năm, vai trò hạn chế của các nhà bảo lãnh phát hành và cả nhà tạo lập thị trường
  16. - 14 - Các nhà bảo lãnh phát hành ở TP Hồ Chí Minh chủ yếu là các NHTM và các công ty chứng khoán. Tuy nhiên, các nhà bảo lãnh phát hành có vai trò rất nhỏ trong việc phát hành các loại trái phiếu trên thị trường trái phiếu. các nhà bảo lãnh phát hành chỉ thực hiện bảo lãnh phát hành đối với trái phiếu chính phủ và chưa bảo lãnh phát hành bất kỳ loại trái phiếu công ty nào. Các nhà tạo lập thị trường (thường là các công ty chứng khoán) cũng đóng vai trò thiết yếu trên thị trường, tạo ra sự sôi động trên thị trường. Tuy nhiên, hiện nay, các công ty chứng khoán ở Việt Nam vẫn chưa đóng vai trò của các nhà tạo lập thị trường trên thị trường chứng khoán.. Thứ sáu, thiếu vắng các tổ chức định mức tín nhiệm và các tổ chức tự quản ự thiếu vắng của các tổ chức định mức tín nhiệm ở thị trường chứng khoán làm cho các nhà đầu tư và các công ty chứng khoán gặp khó khăn trong việc lựa chon loại cổ phiếu đầu tư. Thứ bảy, bất cập trong tổ chức quản lý, điều hành trên thị trường chứng khoán. Việc tổ chức quản lý trực tiếp thị trường chứng khoán thức được tổ chức thành 2 cấp, cấp quản lý do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đảm trách và cấp quản lý là ở Giao dịch chứng khoán đảm trách. Cả hai tổ chức này cùng một chủ thể quản lý là Nhà nước nên thực chất chỉ là sự phân công, phân cấp về chức năng và nhiệm vụ hoạt động.
  17. - 15 - CHƯƠNG 3 CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ NHẰM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM TÀI CHÍNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM TÀI CHÍNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2020 3.1.1 Định hướng Định hướng phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM cần tuân thủ những nguyên tắc như sau: - Quán triệt đầy đủ các quan điểm của Đảng trong việc phát triển thị trường tài chính và Trung tâm tài chính (các Nghị quyết IXĐại hội Đảng toàn quốc, Nghị quyết VIII, IX Đại hội Đảng bộ TP.Hồ Chí Minh). Nền kinh tế Việt Nam nói chung và TP.Hồ Chí Minh nói riêng đang trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Việc phát triển kinh tế bền vững lại đòi hỏi quá trình lâu dài của việc khai thác các yếu tố của năng suất các nhân tố tổng hợp TPP trong đó tập trung cho việc cải tiến quy trình sản xuất, quy trình quản lý và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Để đáp úng vốn một cách hiệu quả cho quá trình phát triển kinh tế theo mô hình mới nêu trên, hết sức cần thiết phải hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.Hồ Chí Minh, coi đây là đầu tàu để huy động và cung ứng vốn đầu tư cho vùng kinh tế động lực phía Nam (Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu) và cho cả nước. - Một trong ba khâu đột phá để chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 là việc tập trung hòan thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa. Do đó, phải đặt việc hình thành, phát triển Trung tâm tài chính TP.Hồ Chí Minh trong tổng thể việc phát triển đồng bộ các lọai thị trường (thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường lao động, thị trường bất động sản v.v...) trong đó có thị trường tài chính với một dự báo đầy đủ các mặt thuận lợi và khó khăn trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. - Từng bước hiện đại hoá và đa dạng hoá việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cho công chúng, đẩy nhanh tiến trình cấu trúc lại hệ thống tài chính, gia tăng quy mô thị trường tài chính, thu hút các định chế tài chính nước ngoài và tăng cường năng lực cạnh tranh của các định chế trong nước. Phát triển nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng cao trong ngành tài chính – ngân hàng. - Với lợi thế của TP.HCM về nhiều mặt (vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tiềm năng kinh tế - xã hội, vật chất, con người,...) có đủ tiềm năng để trở thành Trung tâm chuyên kinh doanh các dịch vụ tài chính, ngân hàng như một nghề chuyên biệt, hướng tới xây dựng TP.HCM trở thành Trung tâm tài chính của cả nước với những
  18. - 16 - hoạt động về tài chính mang tầm cỡ khu vực. Phấn đấu đến năm 2020 đưa TP.HCM trở thành Trung tâm tài chính quốc gia và đến 2030 thành Trung tâm tài chính khu vực có khả năng cạnh tranh cùng với các Trung tâm tài chính ingapore và Hồng Kông. 3.1.2 Mục tiêu 3.1.2.1 Mục tiêu chung Mục tiêu phát triển Kinh tế - Xã hội của TP.HCM trong giai đoạn 2010 - 2020 là tăng trưởng bình quân chung đạt 13%/năm. Trong đó, nhu cầu vốn đầu tư bình quân đạt 53.000 tỷ đồng/năm. Dự kiến vào năm 2020 tỷ lệ đóng góp cho nền kinh tế tăng lên 44%, giá trị xuất khẩu đạt 22.310 U D/người/năm. Để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội như trên, theo đề án thí điểm phát triển thị truờng tài chính và Trung tâm tài chính TP.Hồ Chí Minh đến năm 2020, Thành phố cũng đã đề ra chiến lược hướng tới thành lập Trung tâm tài chính quốc gia mang tầm cỡ khu vực với các mục tiêu cơ bản như sau: - Tổ chức một thị trường tài chính có quy mô và phạm vi rộng lớn, với nhiều hoạt động đa dang và phong phú, đáp ứng các chuẩn mực, tiêu chí quốc tế, quy tụ và tập trung nhiều nguồn cung – cầu về sản phẩm tài chính. - Thu hút vốn trong nước và quốc tế, không chỉ để phục vụ phát triển hoạt động thương mại và đầu tư trong nước, mà còn có thể tác động tạo ảnh hưởng đến khu vực. - Hoàn thiện cơ chế vận hành cần thiết cho thị trường tài chính, góp phần vào việc huy động và sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thành phố, phát triển các mô hình đầu tư tài chính của thành phố. 3.1.2.2 Mục tiêu, yêu cầu cụ thể đối với các ngành và các định chế thuộc lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng Mục tiêu ngành Ngân hàng - Xây dựng hệ thống ngân hàng có trụ sở chính tại TP.HCM đủ mạnh về năng lực tài chính, công nghệ hạ tầng kỹ thuật, năng lực quản lý,…để cạnh tranh với các nước trong khu vực Asean trong đó Ngân hàng Thương mại nhà nước thật sự là lực lượng chủ lực và chủ đạo của hệ thống các Tổ chức tín dụng. Các Ngân hàng Thương mại cổ phần hoạt động an toàn, lành mạnh, hiệu quả, đúng pháp luật. - Phát triển toàn diện hệ thống các tổ chức tín dụng đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn hiệu quả , bền vững với cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô, loại hình, có khả năng cạnh tranh lớn hơn dựa trên nền tảng quản trị Ngân hàng tiên tiến để đạt được trình độ phát triển ngang tầm trong khu vực A EAN. - Cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại, nâng cao khả năng phục vụ khách hàng và khả năng cạnh tranh. Ứng dụng công nghệ để phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử nhanh chóng, an toàn, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và khách hàng trong quá trình hội nhập. Mục tiêu thị trường chứng khoán
  19. - 17 - - Hình thành ở giao dịch chứng khoán Việt Nam, nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường tài chính khu vực và quốc tế, tạo cơ sơ để mở rộng quy mô, phát triển đa dạng sản phẩm, đầu tư hiệu quả vào hạ tầng và nguồn nhân lực, phát triển ngang tầm các ở giao dịch chứng khoán khu vực A EAN về các mặt công nghệ, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực trình độ cao và chuyên nghiệp. - Tăng nhanh số lượng công ty niêm yết, đạt 1.500 – 1.600 công ty, giá trị vốn hoá thị trường đạt 110% GDP của cả nước vào năm 2020. - Liên kết với các ở giao dịch chứng khu vực A EAN về thông tin, giao dịch và sau giao dịch, cung cấp các tiện ích, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài, tiến tới liên thông với thị trường chứng khoán các nước ASEAN. Mục tiêu Công ty đầu tư tài chính nhà nước thành phố Hồ Chí Minh Công ty đầu tư tài chính nhà nước TP.HCM là một doanh nghiệp vừa mang tính chất một định chế tài chính chuyên nghiệp vừa làm một công cụ tài chính của Nhà nước. Thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước đối vối các doanh nghiệp được giao, Công ty có khả năng kết hợp việc tập trung hướng sử dụng vốn nhà nước với việc tổ chức các hình thức phát hành chứng khoán, tăng mạnh nguồn lực tài chính đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các ngành kinh tế quan trọng của Thành phố. Mục tiêu các ngành và thị trường có liên quan: Phát triển các sản phẩm kết nối giữa các thị trường bảo hiểm, bất động sản với thị trường vốn. Hoàn thiện chính sách, cơ chế trong hoạt động kinh doanh dịch vụ, tạo môi trường pháp lý bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Mục tiêu các định chế dịch vụ tài chính hỗ trợ - Bảo hiểm: Phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn, hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân cư. Nâng cao năng lực kinh doanh và hiệu quả hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm. - Kế toán kiểm toán: Các doanh nghiệp kiểm toán phát triển và cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo chất lượng dịch vụ kiểm toán, tuân thủ các chuẩn mực về kề toán, kiểm toán trong nước và quốc tế. - Thẩm định giá: Phát triển các doanh nghiệp thẩm định giá chuyên nghiệp, đảm bảo đúng cam kết với khách hàng về thời gian hoàn thành hợp đồng dịch vụ, báo cáo kết quả thẩm định giá phải đúng chuẩn mực và có tính thuyết phục cao, có khả năng thực hiện được nghiệp vụ thẩm định giá tài sản vô hình. - Định mức tín nhiệm:
  20. - 18 - Hình thành và phát triển các công ty thuộc lọai hình này là yêu cầu quan trọng trong hỗ trợ và phục vụ cho chầt lượng họat động lành mạnh của Trung tâm tài chính TP.Hồ Chí Minh đảm bảo tính công khai minh bạch trong mọi quan hệ giao dịch. 3.1.3 Sự cần thiết hình thành Trung tâm tài chính TP.HCM Để thực hiện quan điểm chiến lược “vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng” chúng ta cần phải có thị trường tài chính và Trung tâm tài chính mới giải quyết được bài toán “Tiên lượng về các tiềm năng vốn - có thể khai thác trong nước và cơ chế hấp thụ vốn từ nước ngoài”. Từ những quan điểm, định hướng và mục tiêu trên cho thấy, sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM là một tất yếu của nền kinh tế thị trường. ự vận động của Trung tâm tài chính với những yêu cầu của nó về tính tiện ích, tính nhanh chóng, tính chuyên nghiệp, nhu cầu giao dịch tài chính lành mạnh, nhu cầu về quản lý hiệu quả sẽ đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn để phát triển kinh tế TP.HCM trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai. 3.2 HOÀN THIỆN CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TRUNG TÂM TÀI CHÍNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 3.2.1 Hoàn thiện cơ chế hoạt động của thị trường trái phiếu Thứ nhất, phát triển hệ thống đại lý cấp I cho trái phiếu Chính phủ bao gồm các Ngân hàng, Tổ chức tài chính lớn, Công ty chứng khoán trong và ngoài nước. Thứ hai, tổ chức điều phối các kênh phát hành trái phiếu từ xây dựng, phân bổ kế hoạch cấu trúc trái phiếu theo kỳ hạn và thời gian phát hành. Thứ ba, cải tiến kỹ thuật phát hành trái phiếu đa dạng, chuẩn mực. Thứ tư, tăng cường chất lượng của trái phiếu phát hành và đảm bảo khả năng thanh toán trái phiếu. Thứ năm, liên kết giao dịch trái phiếu giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ 3.2.2 Phát triển các định chế tài chính trung gian và cung ứng dịch vụ thị trường 3.2.2.1 Phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Thứ nhất, phát triển ngân hàng theo mô hình tập đoàn tài chính đa năng. Thứ hai, định vị lại thị trường mục tiêu hoạt động. - Nguyên tắc chung là các NHTM cần từng bước hướng đến việc cung cấp tín dụng ngắn hạn hoặc trung hạn cho các doanh nghiệp và cá nhân. Việc cung ứng tín dụng dài hạn cần dành cho hoặc có sự phối hợp tích cực của các Ngân hàng phát triển hoặc các định chế tài chính phi Ngân hàng như các Công ty Tài chính, các Quỹ đầu tư, các Công ty Bảo hiểm v.v... - Phát triển mạnh các dịch vụ bán lẻ, dịch vụ mới như thẻ thanh tóan, thẻ tín dụng, dịch vụ phục vụ cá nhân và doanh nghiệp, đặc biệt là dịch vụ tư vấn tài chính và chăm sóc khách hàng.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản