Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính: Bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh

Chia sẻ: Tomhum999 Tomhum999 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

14
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn và hoàn thiện pháp luật, đảm bảo phát huy tối đa tính dân chủ, chính xác, khách quan, toàn diện trong hoạt động tố tụng hình sự, đảm bảo xu hướng bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính: Bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA LÊ NGỌC LAM ĐIỀN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BI CAN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 8 38 01 02 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2020
  2. Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TUẤN KHANH Phản biện 1: PGS.TS. Huỳnh Văn Thới – Học viện Hành chính Quốc gia Phản biện 2: PGS.TS. Võ Trí Hảo – Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Địa điểm: Phòng họp 206, Nhà A – Phân viện Học viện Hành chính Quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh. Số: 10 Đường 3/2, Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh Thời gian: vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 23 tháng 5 năm 2020 Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia Hoặc trên trang Web Ban Quản lý đào tạo Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia.
  3. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quyền con người là một trong những vấn đề cơ bản nhất của nhận thức và thực tiễn chính trị, vì vậy, nó gắn với các thời đại trong lịch sử cụ thể và chính bản thân nó cũng bị hạn chế bởi lịch sử, bởi các điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia. Quyền bào chữa trong Hiến pháp 2013 được sắp xếp trong nhóm quyền cơ bản của công dân, quyền con người. Như vậy, Hiến pháp đã xác định rõ quyền bào chữa là quyền con người, quyền công dân nên không chỉ cơ quan xét xử mà tất cả các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội phải có trách nhiệm tôn trọng và được Nhà nước đảm bảo thực hiện. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 đã quy định luật sư được tham gia tố tụng từ trước khi có quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định tạm giữ, cụ thể tại Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự. Như vậy, kể cả khi chưa có quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định tạm giữ của cơ quan điều tra thì người bào chữa là luật sư được quyền tham gia tố tụng từ khi người phạm tội bị bắt, tạm giữ và được đưa về trụ sở cơ quan điều tra. Thực tiễn cho thấy, mặc dù Hiến Pháp và pháp luật Tố tụng hình sự đã quy định tương đối đầy đủ và chặt chẽ nhưng trong các vụ án hình sự, quyền của bị can vẫn chưa được các cơ quan tố tụng, cụ thể là Cơ quan cảnh sát điều tra và người tiến hành tố tụng, cụ thể là điều tra viên thực sự tôn trọng và bảm đảm thực hiện. Cụ thể là : Thứ nhất: Vai trò của người bào chữa trong thực tế còn hạn chế và trong thực tế nhiều khi chưa được một số cơ quan có thẩm quyền thực sự tôn trọng, chưa tạo điều kiện cho người bào chữa thực 1
  4. hiện nhiệm vụ của mình như việc tham gia tố tụng của người bào chữa sau khi có quyết định khởi tố bị can còn gặp nhiều khó khăn; nhiều trường hợp sau khi ra quyết định khởi tố bị can, cơ quan điều tra đã không giao quyết định này và cũng không giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ của mình. Do vậy, bị can không biết là mình có quyền nhờ người bào chữa ngay từ khi bị khởi tố mà họ cứ tưởng khi ra toà mới được mời luật sư. Thứ hai: Đối với những trường hợp bào chữa chỉ định vì nhiều lí do khác nhau mà việc bào chữa thường chỉ mang tính hình thức, qua loa, đại khái. Thứ ba: Điểm b, Khoản 1, Điều 72 BLTTHS quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa như sau: “Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can...”. Theo quy định này thì việc có cho phép được hỏi bị can hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của điều tra viên, cho nên có trường hợp điều tra viên không cho người bào chữa hỏi mà chỉ cho “ngồi nghe” hỏi cung. Điều tra viên dường như không để ý đến sự có mặt của người bào chữa và ý kiến đề xuất của họ. Đối với các hoạt động điều tra khác thì hầu như người bào chữa cũng không được tham gia mặc dù có trường hợp họ rất muốn tham gia nhưng đều bị điều tra viên từ chối. Sau khi kết thúc điều tra, hầu hết cơ quan điều tra không thông báo cho người bào chữa biết về việc kết thúc điều tra. Việc này đã làm cho người bào chữa gặp khó khăn trong việc đọc hồ sơ và ghi chép những điều cần thiết sau khi kết thúc điều tra. Thực tế có nơi cán bộ điều tra khuyên bị can thuê 2
  5. luật sư là vô ích vì tội trạng đã rành rành và vụ án đã được quyết định. Tình trạng vi phạm các quyền tố tụng của bị can vẫn còn diễn ra. Một số người tiến hành tố tụng còn chưa nhận thức được việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và minh oan cho người vô tội cũng như xử lý nghiêm minh đối với người phạm tội. Ở giai đoạn điều tra, nhiều điều tra viên cho rằng người bị tạm giữ không cần mời người bảo vệ/luật sư vì chưa cần thiết. Trong quá trình điều tra thường chú ý đến việc không bỏ lọt tội phạm hơn là việc không làm oan cho người vô tội và coi việc tham gia tố tụng của người bào chữa/bảo vệ chỉ là để cho đủ thủ tục mà thôi. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ quyền của bị can, dẫn đến tình trạng oan sai trong tố tụng. Vì vậy, việc nghiên cứu về bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án đúng người đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế tối đa tình trạng oan sai. Với nhận thức trên, học viên chọn đề tài : Bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Vấn đề bảo đảm quyền của bị can trong tố tụng hình sự đã được nhiều tác giả nghiên cứu như : - Luận án tiến sĩ luật học “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Huy Hoàng. 3
  6. - Luận án tiến sĩ luật học “Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt nam “ của tác giả Nguyễn Quang Hiền. - Luận án tiến sĩ luật học “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt nam” của tác giả Lại Văn Trình. - Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà nội – khoa luật 2006 “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt nam” do GS.TSKH Lê Văn Cảm, TS. Nguyễn Ngọc Chí, Ths. Trịnh Quốc Toàn đồng chủ biên. - Chuyên khảo “Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt nam” của TS. Trần Quang Tiệp. Trong thực tiễn điều tra, xử lý các vụ án hình sự vẫn còn những vi phạm nhân quyền. Vì vậy, việc nghiên cứu để bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự từ góc độ lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật có vai trò rất quan trọng trong quá rình thực hiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh hội nhập quốc tế cũng như công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta. Đây là lý do để học viên quyết định chọn đề tài : “Bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm luật văn thạc sĩ cho mình. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Kế thừa một cách có chọn lọc kết quả nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố, người viết hướng đến mục đích muốn làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra theo Bộ luật tố tụng hình sự 4
  7. hiện hành, chỉ ra những bất cập còn tồn tại khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can ở nước ta hiện nay mà cụ thể là ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Qua đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn và hoàn thiện pháp luật, đảm bảo phát huy tối đa tính dân chủ, chính xác, khách quan, toàn diện trong hoạt động tố tụng hình sự, đảm bảo xu hướng bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Với mục đích nghiên cứu như trên, người viết tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ chính như sau : a. Làm rõ khái niệm bị can, khái niệm quyền và nghĩa vụ pháp lý của bị can. b. Tìm hiểu sơ lược các quyền và nghĩa vụ của bị can trong giai đoạn điều tra theo luật pháp quốc tế c. Tìm hiểu sơ lược quy định pháp luật Việt nam qua các thời kỳ về quyền và nghĩa vụ của bị can trong giai đoạn điều tra. d. Đi sâu vào phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng hình sư Việt nam hiện hành về quyền và nghĩa vụ của bị can trong giai đoạn điều tra. e. Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị can trong giai đoạn điều tra trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. f. Đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm đảm bảo quyền của bị can trong giai đoạn điều tra trong tố tụng hình sự, hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu 5
  8. Là quyền và nghĩa vụ pháp lý của bị can trong giai đoạn điều tra tại địa bàn Tp Hồ Chí Minh. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: Thành phố Hồ Chí Minh Phạm vi thời gian: giai đoạn 2018 đến quý 1/2020 Luận văn nghiên cứu là các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong thời kỳ từ năm 1945-1988, thời kỳ pháp luật tố tụng hình sự năm 1988 – 2003, thời kỳ pháp luật tố tụng năm 2003 – 2015 và pháp luật tố tụng hiện nay. 5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn Luận văn sử dụng phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về nhà nước và pháp luật, về xây dựng nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp và quyền con người. - Phương pháp thu thập và hồi cố thông tin dữ liệu từ các nguồn khác nhau. - Phương pháp hệ thống. - Phương pháp tổng hợp, phân tích, lịch sử - Phương pháp so sánh và thống kê. Ngoài ra người viết cũng khảo sát thực tiễn tố tụng và tham khảo ý kiến chuyên gia để làm rõ các vấn đề nghiên cứu. 6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn Luận văn khi hoàn thành dự kiến sẽ góp phần: - Làm rõ hơn các vấn đề lý luận về bị can, quyền và nghĩa vụ của bị can trong giai đoạn điều tra trong pháp luật tố tụng hình sự Việt nam hiện hành và qua các thời kỳ. 6
  9. - Đi vào phân tích việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ pháp lý của bị can trong giai đoạn điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt nam hiện hành. - Chỉ ra được các vấn đề, các khó khăn vướng mắc trong việc thực thi pháp luật bảo vệ, bảo đảm quyền của bị can trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành. - Chỉ ra những điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về quyền và nghĩa vụ của bị can. - Đưa ra được các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự góp phần bảo đảm quyền của bị can trong tố tụng hình sự Việt nam. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học cấp độ thạc sĩ về bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra trong tố tụng hình sự. Luận văn đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của bị can, phân tích thực trạng, chỉ ra khó khăn và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra. Luận văn sẽ đóng góp một phần vào việc giải quyết về mặt khoa học các khái niệm về bị can, quyền và nghĩa vụ của bị can trong giai đoạn điều tra. Đồng thời, luận văn là một tài liệu có giá trị tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, cho những người hoạt động tư pháp cũng như thực tiễn điều tra các vụ án hình sự. 7
  10. PHẦN MỞ ĐẦU CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CAN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA 1.1. Quan niệm, đặc điểm về bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra Một trong các hình thức thực hiện quyền cơ bản của công dân được nhà nước đảm bảo thực hiện là quyền được bảo vệ mình trước cơ quan pháp luật trong đó có quyền bào chữa. Điều 12 BLTTHS quy định: “Cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án có nhiệm vụ đảm bảo cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình”. 1.1.1 . Quan niệm về bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra Quan điểm của BLTTHS Việt Nam hiện nay là quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can, bị cáo chứ không thuộc về đối tượng nào khác và quyền này chỉ giới hạn trong việc bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can, bị cáo. Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định bị can, bị cáo có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ. 1.1.2 Đặc điểm bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra Quy định tại khoản 2 Điều 60 BLTTHS năm 2015 1.2. Nội dung, trình tự, thủ tục bảo vệ quyền của bị can trong giai đoạn điều tra 1.2.1 Nội dung về quyền của bị can trong giai đoạn điều tra 8
  11. a) Đặc điểm quyền của bị can trong việc bị tạm giữ, tạm giam - Trong giai đoạn điều tra, nghi can có thể bị tạm giữ, tạm giam để đảm bảo cho việc điều tra vụ án.  Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam mới đã cụ thể hoá là “Người bị tạm giữ là người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ trong thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ theo quy định của BLTTHS”  Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam nay đã quy định cụ thể về những quyền cơ bản nhất, bổ sung một số quyền quan trọng cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam tại Điều 9, Điều 19 và Điều 22. b) Quyền của bị can trong giai đoạn hỏi cung - Không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; được đề nghị giám định, định giá; được đọc, ghi chép tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu... - Quyền được giải thích quyền và nghĩa vụ: - Giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can là việc làm bắt buộc của Điều tra viên trước khi tiến hành hỏi cung bị can. - Quyền yêu cầu khi hỏi cung: Là việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. - Quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; - Quyền yêu cầu có người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. 1.2.2 Trình tự, thủ tục bảo về quyền của bị can trong giai đoạn điều tra 9
  12. - Quyền bào chữa, bảo vệ của bị can (Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị cáo,…); Người bào chữa; Cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố (thời điểm tham gia tố tụng, đăng ký bào chữa). - Người bào chữa - Cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố:  Thời điểm tham gia tố tụng: Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.  Đăng ký bào chữa 1.3 Những yếu tố tác động đến bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra 1.3.1 Quy định của pháp luật về bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra Giải thích rõ quyền và nghĩa vụ cho người bị bắt; Tiếp nhận xử lý đơn yêu cầu nhờ người bào chữa; Tổ chức cho người bào chữa gặp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định; Đề nghị thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế của người bào chữa. 1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan điều tra và cơ quan tư pháp - Cơ quan điều tra – Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan điều tra: 10
  13.  Cơ quan điều tra của Công an nhân dân  Cơ quan điều tra của Quân đội nhân dân  Cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao  Nhiệm vụ: tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc phát hiện hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự. - Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân: Thực hiện quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp (Điều 3, Điều 13 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân). 1.3.3 Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức Quy định tại Điều 11, 12 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13. 1.3.4 Năng lực, chuyên môn, ý thức trách nhiệm của điều tra viên Xác định Điều tra viên là người đóng vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả điều tra vụ án hình sự là có cơ sở lý luận, thực tiễn. Muốn nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp hình sự, cần nhận thức, hoạt động điều tra tội phạm là cái gốc của cả hoạt động này và hoạt động đó do điều tra viên tiến hành với vai trò chủ đạo. 1.3.5 Nhận thức, ý thức pháp luật của bị can Bị can có quyền biết mình bị khởi tố về tội gì, đưa ra chứng cứ và yêu cầu; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Bị can được giao nhận bản sao quyết định khởi tố, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn; được giao nhận bản kết luận điều tra, bản cáo trạng sau khi viện kiểm sát quyết định truy tố; được giao 11
  14. nhận quyết định đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra; có quyền khiếu nại các quyết định của cơ quan điều tra và viện kiểm sát. 1.3.6 Sự giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sự giám sát của xã hội Được quy định tại Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự tại Điều 11 về chức năng giám sát của Viện kiểm sát Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra; Điều 12 về trách nhiệm giám sát của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hoạt động điều tra hình sự; Điều 13 về chức năng Giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động điều tra hình sự. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CAN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Những yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến bảo đảm quyền của bị can tại giai đoạn điều tra tại TP.HCM  Lịch sử hình thành và yếu tố lịch sử từng thời kì và Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh trải qua;  Được xem là thủ đô kinh tế của cả nước;  Địa bàn tiêu thụ ma tuý lớn;  Văn bản pháp luật mới có nhiều điểm hạn chế thẩm quyền của cơ quan thực thi pháp luật. 2.2 Tình hình tội phạm trong giai đoạn từ năm 2018 đến quý 1/2020 tại Tp. Hồ Chí Minh 2.2.1 Tình hình tội phạm của năm 2018 (Số liệu từ báo cáo của Thiếu tướng Lê Đông Phong, giám đốc công an TP.HCM tại buổi gặp mặt báo chí ngày 05/01/2019) 2.2.2 Tình hình tội phạm của năm 2019 12
  15. 2.2.3 Tình hình tội phạm tại Quý 1/2020 (Số liệu lấy từ Báo cáo của Ban chỉ đạo 138 – Công an TP.HCM 0 đã được duyệt sử dụng) BẢNG THỐNG KÊ VỀ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRONG CÁC NĂM 2017 ĐẾN quý I/2020 (Số liệu đã được thu thập theo nguồn chính thức do CATPHCM duyệt cung cấp) Năm Tổng Đối Tỉ lệ Thiệt Tỉ lệ Tỉ lệ Nguồn số vụ tượng phá án hại tăng giảm so so với Số liệu Hình bị bắt tài sản với sự và xử năm lý (tỷ Năm liền kề đồng) trước liền kề trước Báo cáo của 2018 3.405 3.818 74,41% 4,85% CATP Báo cáo của 2019 3.080 1.188 76,98% 8,25% CATP Báo cáo của ban Quý 1.001 19 10% chỉ đạo 1/2020 138 13
  16. 2.3 Thực tiễn về bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra tại TP.HCM 2.3.1 Về việc tạm giam – tạm giữ: Nghị định 89/1998/NĐ-CP, Nghị định 98/2002/NĐ-CP và Luật thi hành tạm giữ, tạm giam quy định:  Về tiếp nhận, hồ sơ quản lý người bị tạm giữ, tạm giam;  Phân loại người bị tạm giữ, tạm giam để quản lý;  Về chế độ thăm gặp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam;  Kỷ luật người bị tạm giữ, người bị tạm giam;  Chế độ đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi;  Chế độ đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi. 2.3.2 Về bảo đảm quyền bào chữa của bị can, người bị tạm giữ tạm giam trong giai đoạn điều tra: - Giải thích rõ quyền và nghĩa vụ cho người bị bắt; - Tiếp nhận, xử lý đơn yêu cầu nhờ người bào chữa; - Tổ chức cho người bào chữa gặp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam; - Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định; - Đề nghị thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế của người bào chữa. 2.4 Đánh giá chung về bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra tại TP.HCM 2.4.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân của kết quả đạt được 14
  17. Việc đảm bảo quyền của bị can, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để điều tra đã được nâng cao nhờ sự sửa đổi của pháp luật hình sự, cụ thể là những tiến bộ của Bộ luật TTHS 2015 so với Bộ luật TTHS 2003. Thể chế hoá các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân bằng những quy định cụ thể (Khoản 2 Điều 60 BLTTHS năm 2015). Một là quyền “Được biết lý do mình bị khởi tố”, hai là quyền được “Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá, ba là quyền được “Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hoá liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu”. 2.4.2 Bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế - Bất cập và hạn chế trong việc tạm giữ, tạm giam: - Người tiến hành tố tụng vẫn mặc nhiên hiểu là người bị tình nghi phạm tội, người bị buộc tội là tội phạm nên phải tạm giam để trừng phạt, mà chưa hiểu thấu đáo nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự “người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” - Nguyên nhân chủ yếu do vướng mắc bởi các quy định của pháp luật, vướng mắc do các yếu tố khác (trang thiết bị phương tiện kỹ thuật, nhận thức về quyền con người của người tiến hành tố tụng, trình độ năng lực của một số bộ phận các bộ trong cơ quan tố tụng, nhận thức về quyền con người của người dân). - Bất cập và hạn chế trong việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can. 15
  18.  Về quyền của bị can khi hỏi cung;  Về quyền và nghĩa vụ cho bị can: Bộ luật TTHS 2015 chỉ yêu cầu giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can khi tiến hành hỏi cung bị can lần đầu tiên.  Về quyền yêu cầu của bị can khi hỏi cung: Bộ luật TTHS năm 2015 về hỏi cung bị can là việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.  Về quyền bào chữa: vai trò của người bào chữa trong thực tế còn hạn chế và chưa được tôn trọng; Bào chữa chỉ đỉnh mang tính hình thức; quyền được hỏi bị can phụ thuộc vào ý chí chủ quan của điều tra viên. CHƯƠNG III: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CAN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA 3.1 Quan điểm về bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra Nghiên cứu hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) liên quan đến bảo đảm quyền con người, đánh giá việc thực hiện các quy định đó trên thực tế để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng là một trong những nội dung quan trọng của việc nghiên cứu bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự hiện nay. 3.1.1 Quy định của Hiến pháp 2013 về quyền con người Ngoài các quy định về quyền con người, Hiến pháp cũng có những quy định để bảo đảm thực hiện quyền con người. Thứ nhất, Hiến pháp ghi nhận các quyền con người đồng thời quy định các bảo đảm cũng như trách nhiệm của Nhà nước để các quyền đó được thực hiện. 16
  19. Thứ hai, Hiến pháp quy định rõ ràng, đầy đủ quyền của người bị buộc tội. 3.1.2 Cơ chế Hiến định bảo vệ, bảo đảm quyền con người Cùng với việc quy định quyền con người, Hiến pháp cũng quy định những bảo đảm quan trọng cho việc bảo vệ quyền con người nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng. Hiến pháp quy định về trách nhiệm của Nhà nước tôn trọng, bảo vệ quyền con người. Cùng với các quy định về quyền con người, bao giờ cũng có quy định về trách nhiệm của Nhà nước hoặc bảo hộ của pháp luật nhằm thực hiện các quyền đó trên thực tế. Quy định chức năng chính của Viện kiểm sát nhân dân là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Hiến pháp năm 2013 về quyền con người đã có bước phát triển vượt bậc trong tư duy cũng như thực tiễn về bảo đảm quyền con người ở nước ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. 3.1.3 Những bảo đảm về quyền con người trong tố tụng hình sự - Các quy định về quyền con người và bảo đảm quyền con người trong hiến pháp là cơ sở Hiến định quan trọng để xây dựng hệ thống pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật ở nước ta.  Thứ nhất, Bộ luật đã quy định các nguyên tắc cơ bản liên quan đến bảo vệ quyền con người.  Thứ hai, BLTTHS năm 2015 đã hoàn thiện các quy định về các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, nhất là các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam; quy định cụ thể thẩm quyền, căn cứ và thời hạn áp dụng theo nguyên lý bảo đảm cho hoạt động tố tụng hiệu quả với việc hạn chế quyền con người khi thật cần thiết và ở mức tối thiểu nhất. 17
  20.  Thứ ba, Quy định tương đối rõ ràng địa vị tố tụng của các chủ thể tố tụng hình sự; đặc biệt là địa vị tố tụng của người tham gia tố tụng nói chung, của người bị buộc tội nói riêng. - Xem xét từ góc độ bảo vệ quyền con người, pháp luật TTHS hiện hành đã phần nào đáp ứng được các đảm đảm về bảo vệ quyền con người.  Một là, đã xác định bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người là một trong những nhiệm vụ của BLTTHS.  Hai là, đã từng bước hoàn thiện các quy định về nguyên tắc tố tụng hình sự, trong đó có các nguyên tắc liên quan trực tiếp đến bảo vệ quyền con người.  Ba là, hoàn thiện địa vị tố tụng của các chủ thể tố tụng hình sự theo hướng tăng cường các quyền tố tụng của người tham gia tố tụng, nhất là bên bào chữa.  Bốn là, hoàn thiện các quy định về các thời hạn tố tụng.  Năm là, hoàn thiện các quy định về biện pháp ngăn chặn, nhất là các biện pháp hạn chế quyền tự do của con người. 3.2 Giải pháp bảo đảm quyền của bị can trong giai đoạn điều tra từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh 3.2.1 Hoàn thiện pháp luật - Cần phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự thông qua việc sửa đổi, bổ sung các quy định về các căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam với bị can, bị cáo - Cần bổ sung các quy định rõ hơn về trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án khi xem xét quyết định áp dụng biện pháp tạm giam 18
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2