intTypePromotion=3

Vai trò của tổ chức định mức tín nhiệm tại các thị trường chứng khoán đang nổi

Chia sẻ: Bibo Bibo | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
72
lượt xem
7
download

Vai trò của tổ chức định mức tín nhiệm tại các thị trường chứng khoán đang nổi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giới thiệu Bài viết này muốn nêu lên vai trò của tổ chức định mức tín nhiệm ở các thị trường chứng khoán đang nổi, qua đó cung cấp một khuôn khổ hiểu biết các vấn đề tối quan trọng về chính sách cần được xem xét trong việc thành lập một tổ chức định mức tín nhiệm. Vai trò của các tổ chức định mức tín nhiệm trong các thị trường tài chính Một tổ chức định mức tín nhiệm chuyên về dịch vụ đưa ra ý kiến về độ tin cậy tín dụng của người phát hành chứng khoán. Nó...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vai trò của tổ chức định mức tín nhiệm tại các thị trường chứng khoán đang nổi

  1. Vai trò của tổ chức định mức tín nhiệm tại các thị trường chứng khoán đang nổi Giới thiệu Bài viết này muốn nêu lên vai trò của tổ chức định mức tín nhiệm ở các thị trường chứng khoán đang nổi, qua đó cung cấp một khuôn khổ hiểu biết các vấn đề tối quan trọng về chính sách cần được xem xét trong việc thành lập một tổ chức định mức tín nhiệm. Vai trò của các tổ chức định mức tín nhiệm trong các thị trường tài chính Một tổ chức định mức tín nhiệm chuyên về dịch vụ đưa ra ý kiến về độ tin cậy tín dụng của người phát hành chứng khoán. Nó là một ý kiến quan trọng về rủi ro tín dụng, hay là một đánh giá về khả năng của người phát hành thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó. Vì vậy, định mức tín nhiệm phải là một sự đánh giá trước khả năng của người phát hành hoàn trả gốc và lãi đúng hạn. Bởi vì các công cụ của thị trường tiền tệ là ngắn hạn, nên chúng dễ đánh giá hơn các loại trái phiếu dài hạn. Định mức tín nhiệm là gồm cả đánh giá định tính và định lượng về sức mạnh tín dụng của người phát hành. Người phát hành có thể là các doanh nghiệp, chính quyền địa phương thậm chí là cả một quốc gia trong trường hợp phát hành nợ của chính phủ. Ngoài các nhân tố về định tính, như là chất lượng của ban quản trị công ty, các tiêu chuẩn phân tích bao gồm các tỷ số tài chính chủ yếu như là tỷ lệ sinh lời trên vốn hoặc tài sản, hệ số nợ so với vốn, các hệ số về tính thanh khoản, thu nhập trên chi phí cố
  2. định, dòng tiền so với tổng nợ. Một định mức tín nhiệm không phải là một lời khuyên mua hoặc bán một chứng khoán cụ thể nào đó. Ở nhiều quốc gia, điều này có thể là một lưu ý quan trọng trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của một tổ chức định mức tín nhiệm trong trường hợp vỡ nợ, hoặc sự chấm dứt của một công ty hoặc các tổ chức khác phát hành chứng khoán. Để thành công, một tổ chức định mức tín nhiệm phải có các đặc điểm cơ bản, bao gồm: tính tin cậy,  tính độc lập,  tính khách quan,  kỷ thuật thành thạo,  có đủ các nguồn lực và khả năng tiếp cận các thông tin tin cậy về  người phát hành chứng khoán. Định mức được biển hiện dưới hình thức các ký hiệu dễ hiểu được thừa nhận bởi nhà đầu tư. Ví dụ trái phiếu bình thường được xếp hạng từ AAA (nghĩa là ít bị vỡ nợ nhất) cho đến D (nghĩa là đã bị vỡ nợ rồi) phụ thuộc vào khả năng của người phát hành trả nợ gốc và lãi đúng hạn. Ở Mỹ và các thị trường khác, có một vài khác biệt về ký hiệu và thang bậc được sử dụng. Nói chung, trái phiếu hạng BBB hoặc cao hơn hoặc Baa được xem là hạng đầu tư. Trái phiếu được xếp hạng thấp hơn được xem là đầu cơ có thể không thích hợp cho các tổ chức tài chính trung gian hoặc các nhà đầu tư tổ chức như ngân hàng, các quỹ đầu tư và các công ty bảo hiểm. Các định nghĩa và
  3. các phương pháp được sử dụng trong xác định mức tín nhiệm quan trọng cho cả nhà đầu tư lẫn các nhà quản lý. Trong những năm gần đầy, định mức tín nhiệm trái phiếu đã được sử dụng ngày càng thường xuyên hơn bởi các nhà quản lý ngân hàng và chứng khoán để quản lý các tiêu chuẩn cẩn trọng hoặc xác định tính thích hợp đầu tư cho một số loại quỹ đầu tư. Để trở thành tin cậy và hữu ích cho nhà đầu tư, định mức tín nhiệm phải được xem là đáng tin cậy và khách quan của các chủ thể tham gia thị trường. Để một định mức đáng tin cậy, tổ chức định mức tín nhiệm phải có kỹ thuật chuyên nghiệp, đủ nguồn lực tài chính, tiếp cận các thông tin tài chính tin cậy về người phát hành, và các thủ tục hoạt động nội bộ đưa đến công tác định mức nhất quán và tin cậy. Nói chung các thủ tục tương tự đang được thực hiện ở cả các thị trường đã phát triển lẫn đang nổi. Ở hầu hết các quốc gia, định mức tín nhiệm thường được thực hiện theo yêu cầu của người phát hành. Tuy nhiên, ở Mỹ việc các tổ chức định mức tín nhiệm định giá chứng khoán không theo yêu cầu của người phát hành không phải là không thường thấy. Tính độc lập của các tổ chức định mức tín nhiệm. Tính độc lập của một tổ chức định mức tín nhiệm là tối quan trọng cho tính tin cậy và thành công cuối cùng cho nhà cung cấp dịch vụ. Vì vậy, quyền sở hữu và cấu trúc quản lý quan trọng đối với sự thành công cuối cùng của một tổ chức định mức tín nhiệm. Một tổ chức định mức tín nhiệm phải tự do từ cả ảnh hưởng chính trị và áp lực lớn từ các tổ chức phải chịu sự đánh giá tín nhiệm. Có một sự khuyến khích kinh tế mạnh mẽ cho một tổ chức định mức tín nhiệm duy trì tính độc lập của nó từ cảm nhận của công chúng về tính công bằng và khách quan trong đánh giá sẽ quyết định sự thành công cuối cùng hoặc thất bại của
  4. một tổ chức định mức tín nhiệm dù cho thị trường mà nó phục vụ là thị trường đã phát triển, mới nổi hay thị trường quốc tế. Các loại công cụ được định mức tín nhiệm. Một loạt các công cụ tài chính rộng rãi có thể phải chịu sự định mức tín nhiệm bao gồm các chứng từ thương mại, trái phiếu công ty, các công cụ tài chính có cấu trúc và cổ phiếu ưu đãi. Ở hầu hết các quốc gia, định mức tín nhiệm giới hạn đối với các công cụ thị trường trái phiếu và tiền tệ nhưng ở một số quốc gia cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi cũng được định mức tín nhiệm. Không phải là không phổ biến đối với các tổ chức nhận tiền gửi, các quỹ đầu tư và các tổ chức tài chính khác như khả năng chi trả tiền bồi thường của các công ty bảo hiểm cũng được định mức. Tính sẵn sàng của định mức tín nhiệm cũng còn đóng góp cho sự phát triển các sản phẩm tài chính phức tạp như các công cụ tài chính có cấu trúc. Không có sự sẵn sàng của công tác định mức tín nhiệm của các tổ chức định mức tín nhiệm, sẽ rất khó bán các sản phẩm này cho các nhà đầu tư tổ chức tinh vi. Phí định mức tính nhiệm. Nói chung, hầu hết thu nhập của các tổ chức định mức tín nhiệm có được từ phí được trả bởi người phát hành chứng khoán. Những nhà phát hành chứng khoán nợ sẵn sàng trả cho việc định giá với mong đợi rằng một sự định mức thuận lợi sẽ giúp giảm chi phí vay mượn nói chung của họ. Cụ thể, điều này đúng cho các công ty nhỏ hơn, ít nổi tiếng hơn, nếu không sẽ không hấp dẫn được nhà đầu tư. Trong khi các nhà phát hành trả phí cho định mức tính nhiệm với kỳ vọng chi phí vay mượn thấp hơn, có một khuyến khích mạnh mẽ cho các tổ chức định mức tín nhiệm phát hành các định mức tín nhiệm chính xác trong đó danh tiếng của tổ chức định mức tín nhiệm rất quan trọng đến sự sống còn lâu dài về mặt
  5. kinh tế của nó. Trong những năm trước đây, các tổ chức định mức tín nhiệm Mỹ thực hiện các hoạt động định mức tín nhiệm của họ chủ yếu thông qua phí đặt mua được trả bởi những người sử dụng định mức tín nhiệm. Vào cuối những năm 1960, các tổ chức định mức tín nhiệm Mỹ bắt đầu chuyển sang thu phí những người phát hành. Về mặt này, rất quan trọng để chú ý sự sẵn lòng của người phát hành để trả phí phải là một hàm số niềm tin của nhà đầu tư vào định mức tín nhiệm như là một tín hiệu mà tách bạch các chứng khoán về các mức độ rủi ro và cho phép những chứng khoán có rủi ro thấp hơn thu được doanh thu phát hành cao hơn – một lợi ích mà người phát hành sẵn lòng để trả. Các xem xét về luật pháp quản lý. Nói chung, các yêu cầu luật pháp quản lý là một nhân tố quan trọng trong phát triển dịch vụ định mức tính nhiệm ở cả các thị trường chứng khoán đã phát triển lẫn mới nổi. Ở các thị trường chứng khoán đã phát triển, định mức tín nhiệm thường được sử dụng như là một công cụ quản lý để quản lý các tiêu chuẩn cẩn trọng đối với các công ty chứng khoán và các ngân hàng, hoặc chỉ ra các đầu tư được phép cho các nhà đầu tư tổ chức như là các quỹ hưu bổng, các công ty bảo hiểm, hoặc các quỹ thị trường tiền tệ.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản