
1
Bài của GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm
- ĐH Quốc Gia TP.HCM
Văn hóa Doanh nghiệp
Kinh doanh là hoạt động đem lại lợi nhuận rất cao. Việt Nam có thành ngữ “Một vốn
bốn lời”. Trung Hoa còn có thành ngữ “Nhất bản vạn lợi” → tham vọng của nhà doanh
nghiệp!
Do mục đích của kinh doanh là kiếm lời → hoạt động kinh doanh thường để lại ấn
tượng xấu. Trong kinh doanh buôn bán: kiếm lời bằng hàng giả, hàng rởm, lừa đảo,
buôn lậu, đầu cơ, trốn thuế... Trong kinh doanh sản xuất: kiếm lời bằng cách khai thác
bừa bãi tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường, bóc lột quá mức tài nguyên
con người...
→ Trong nhận thức chung của nhiều dân tộc, kinh doanh thường đối lập với văn hoá.
Vai trò của văn hoá trong kinh doanh
Gần đây, người ta bắt đầu nói nhiều đến vai trò của văn hoá trong kinh doanh.. Có hai
lý do chính dẫn đến hiện tượng này.
1) Lý do khách quan: Trào lưu hội nhập và toàn cầu hoá với tốc độ chóng mặt kéo
theo sự nhất thể hoá về mọi mặt và đe doạ nghiêm trọng sự sinh tồn của các nền văn
hoá cùng những bản sắc riêng của mỗi dân tộc. → Trên phạm vi toàn thế giới xuất hiện
xu hướng đề cao văn hoá, quay trở về với văn hoá dân tộc để tạo thế cân bằng.
2) Lý do chủ quan: Sự thất bại của nhiều tập đoàn kinh doanh lớn do cách hành xử
phi văn hóa, thiếu đạo đức.
Tập đoàn Nike bị người tiêu dùng Mỹ tẩy chay do sử dụng lao động trẻ em ở Pakistan
vào việc sản xuất bóng dùng trong giải vô địch bóng đá thế giới. Việc tẩy chay → cổ
phiếu của công ty này giảm từ 76 USD năm 1997 xuống còn 27 USD năm 2000. Công
ty phải đưa ra bản Hiến chương về đạo đức đối với các nhà cung ứng ở châu Á.
Tập đoàn khổng lồ Daewoo phá sản năm 1999 với số nợ là 75 tỷ USD. Chủ tịch và
người sáng lập Kim Woo-chung từ một nhân vật huyền thoại sau 6 năm trốn chạy ở
nước ngoài đến 14-6-2005 đã bị bắt.
Các vụ thảm hoạ về môi trường, nạn rửa tiền, tệ tham nhũng đã cuốn vào vũng bùn biết
bao công ty và tập đoàn kinh tế hùng mạnh, biết bao chính khách và cả các ngân hàng...
Do vậy, ngày nay các doanh nghiệp thức thời dù muốn làm ăn có uy tín hay chỉ đơn
thuần muốn có uy tín để làm ăn đều phải quan tâm, hoặc chí ít là tỏ ra quan tâm đến
VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP. Các hội thảo được tổ chức, các câu lạc bộ được mở ra,
các trung tâm được thành lập...
Trên đây là đoạn trích trong bài giảng của Giáo sư - Viện sỹ - Tiến sỹ khoa học Trần
Ngọc Thêm về "Văn hóa doanh nghiệp", ông đã tập trung nêu bật các vấn đề về VĂN
HÓA - CÁC LOẠI HÌNH VĂN HÓA - VĂN HÓA DOANH NGHIỆP và đi đến kết
luận:
Để xây dựng VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP như một hệ thống giá trị, cần phải xây
dựng từng tiểu hệ giá trị của nó, bao gồm: văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức, văn hoá
ứng xử. Trong mỗi tiểu hệ ấy lại có các tiểu-tiểu hệ nữa.
Để xây dựng các tiểu hệ và tiểu-tiểu hệ thì cần CÓ những gì và cần phải LÀM những
gì?
Một thứ duy nhất cần có, đó là Hiểu Biết. Hiểu biết cần thiết cho việc xây dựng văn

2
hoá doanh nghiệp, theo ông, gồm ít nhất là bốn loại tri thức sau:
- Thứ nhất, đó là những tri thức và quy luật chung về văn hoá.
- Thứ hai, đó là những tri thức về lịch sử và thành tựu của các loại hình văn hoá doanh
nghiệp, đặc biệt là loại hình văn hoá doanh nghiệp Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật
Bản, Triều Tiên).
- Thứ ba, đó là những tri thức về văn hoá và truyền thống văn hoá doanh nghiệp Việt
Nam.
- Thứ tư, nếu doanh nghiệp là đa quốc gia, thì còn cần phải có hiểu biết về văn hoá và
truyền thống văn hoá doanh nghiệp của tất cả các quốc gia thành viên nữa.
Sau khi có đủ bốn loại tri thức trên, quá trình xây dựng văn hoá doanh nghiệp cần làm
phải kinh qua năm bước: suy ngẫm – sáng tạo – trưng cầu – đúc kết – phổ biến.
SUY NGẪM và SÁNG TẠO là hai bước mà kết quả của nó hoàn toàn lệ thuộc vào
năng lực riêng của từng chủ doanh nghiệp, nên ở đây miễn bàn.
Sau khi những thành tố cơ bản của văn hoá doanh nghiệp đã định hình, cần đưa ra trao
đổi và TRƯNG CẦU ý kiến của các đồng nghiệp và thuộc cấp, những người mà cuộc
đời họ gắn bó với doanh nghiệp.
Sau khi góp ý, những phác thảo của văn hoá doanh nghiệp cần được ĐÚC KẾT lại
thành hệ thống chặt chẽ, rõ ràng, dễ hiểu. Rồi tiếp tục rút gọn và trình bày dưới dạng
những công thức, quy tắc, khẩu hiệu, logo, bài hát... cho dễ nhớ dễ thuộc (những thứ
này người ta hay ngộ nhận là toàn bộ văn hoá doanh nghiệp, thực ra chỉ là những biểu
hiện bề ngoài được đúc kết trong khâu áp chót của quy trình xây dựng văn hoá doanh
nghiệp mà thôi!). Phật giáo có kinh sách hàng trăm bộ, hàng chục ngàn trang, nghiên
cứu cả đời không hết; nhưng toàn bộ trí tuệ ấy cũng có thể cô nén lại trong một bài “Tứ
diệu đế” mà đức Thích Ca từng trình bày trong một buổi. Cô nén nữa, chỉ cần ba chữ là
Khổ và Khổ Diệt.
Cuối cùng là PHỔ BIẾN. Trong Phật giáo có tam bảo là ba của báu: Phật-Pháp-Tăng.
Trong doanh nghiệp cũng có ba của báu là Người Sáng Lập Doanh Nghiệp, Văn Hoá
Doanh Nghiệp, và Đội Ngũ Lãnh Đạo Cơ Sở. Ở các doanh nghiệp lớn, Người Sáng
Lập thường là người có tài năng, trí tuệ đặc biệt (và trong phần lớn trường hợp, cả đức
độ nữa), do vậy, đó chính là một của báu. Văn Hoá Doanh Nghiệp, hay ít ra là những
nét cơ bản của nó, bao giờ cũng do chính Người Sáng Lập tạo ra; có thể nói không
ngoa rằng người sáng lập thế nào thì văn hoá doanh nghiệp sẽ có hình hài thế ấy.
Nhưng có văn hoá doanh nghiệp rồi, nó có duy trì và phát huy hiệu lực được hay
không là nhờ vào Đội Ngũ Lãnh Đạo Cơ Sở, những mắt xích nối kết doanh nghiệp với
hàng ngàn nhân viên. Bởi vậy, việc phổ biến văn hoá doanh nghiệp trước hết phải
nhằm vào đội ngũ này. Đội ngũ này cần phải hiểu thấu đáo văn hoá doanh nghiệp, cả
về lý trí và tình cảm. Bởi vậy, cần có những lớp tập huấn, nghiên cứu, thảo luận dành
cho họ.
Đối với đại chúng nhân viên, cần mở những lớp hướng dẫn đơn giản, dễ hiểu, hấp dẫn,
ấn tượng. Cần thường xuyên lưu hành những tài liệu phát không, những tờ rơi giới
thiệu và hướng dẫn về văn hoá doanh nghiệp. Tổ chức thường kỳ những cuộc thi tìm
hiểu văn hoá doanh nghiệp, hàng năm tổng kết và tuyên dương những điển hình gương
mẫu về văn hoá doanh nghiệp.
Với chương trình đòi hỏi phải tích luỹ bốn loại tri thức và thực hiện năm bước vừa nêu,
có thể thấy việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp hoàn toàn không đơn giản.
Nếu là một doanh nghiệp quan tâm đến văn hoá chỉ đơn thuần vì muốn có uy tín để
làm ăn thì một logo bắt mắt, một khẩu hiệu thật kêu đã là quá đủ.
Còn đối với những con người nghiêm túc, doanh nghiệp nghiêm túc, thì làm gì có việc
gì đơn giản? Nhất là đối với xây dựng văn hoá doanh nghiệp là công việc hệ trọng, liên

3
quan đến Lợi và Nghĩa, tức là đến sự Phát triển Bền vững trong nhiều thế hệ của cả
một doanh nghiệp! Tôi tin rằng các quý vị ngồi đây sẽ không ngại bắt tay vào xây dựng
một cách nghiêm túc một văn hoá cho doanh nghiệp mình!

4
V
VĂ
ĂN
N
H
HÓ
ÓA
A
D
DO
OA
AN
NH
H
N
NG
GH
HI
IỆ
ỆP
P
G
GS
S.
.V
VS
S.
.T
TS
SK
KH
H.
.
T
TR
RẦ
ẦN
N
N
NG
GỌ
ỌC
C
T
TH
HÊ
ÊM
M
(
(Đ
Đạ
ại
i
h
họ
ọc
c
Q
Qu
uố
ốc
c
g
gi
ia
a
T
Tp
p.
.H
HC
CM
M)
)
N
NỘ
ỘI
I
D
DU
UN
NG
G
N
Nh
hậ
ập
p
đề
đề:
:
V
Vă
ăn
n
h
ho
oá
á
và
và K
Ki
in
nh
h
d
do
oa
an
nh
h
I
I-
-
V
Vă
ăn
n
h
ho
oá
á
và
và V
Vă
ăn
n
hoá
hoá d
do
oa
an
nh
h
n
ng
gh
hi
iệ
ệp
p
I
II
I-
- Loạ
Loại
i
hì
hìn
nh
h
v
vă
ăn
n
h
ho
oá
á
và
và V
Vă
ăn
n
hoá
hoá d
do
oa
an
nh
h
n
ng
gh
hi
iệ
ệp
p
T
Th
ha
ay
y
l
lờ
ời
i
k
kế
ết
t:
:
Đ
Để
ể x
xâ
ây
y
d
dự
ựn
ng
g
m
mộ
ột
t
V
Vă
ăn
n
hoá
hoá d
do
oa
an
nh
h
n
ng
gh
hi
iệ
ệp
p
Nhập đê:
VĂN HÓA VA KI NH DOANH
1. Kinh tế, kinh doanh, văn hóa
F. Engels: hai đặc điểm quan trọng nhất khu biệt con người với con vật là lao động
và ngôn ngữ.
Lao động = một loại hoạt động – hoạt động kinh tế – nhằm đáp ứng một cách chủ
động những nhu cầu thiết thân nhất của con người.
Ngôn ngữ = một loại sản phẩm – sản phẩm tinh thần – nhằm liên kết con người lại
với nhau, tạo nên một xã hội.
Lao động và ngôn ngữ ≈ kinh tế và xã hội = những thành tố của một thuộc tính
chung nhất khu biệt con người với con vật = văn hoá. Con người, một cách chung nhất,
là một động vật có văn hoá.
Hoạt động kinh tế phục vụ cho các nhu cầu của chính bản thân mình.
→ mở rộng ra phục vụ cho các nhu cầu của những người khác nhằm kiếm lợi để
gián tiếp phục vụ cho các nhu cầu của riêng mình → kinh doanh.
Hình thức kinh doanh kiếm lời cổ xưa nhất là buôn bán (người Do Thái ở Tây
Nam Á, người nhà Thương ở Đông Bắc Á). Việc kinh doanh kiếm lời thông qua sản
xuất hàng hoá chỉ thực sự nở rộ và phát đạt cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ở
phương Tây.
‘Doanh nhân’, ‘doanh nghiệp’, ‘kinh doanh’ là những khái niệm chỉ con người, tổ
chức và hoạt động gắn liền với sự ra đời của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường và
mục đích kiếm lời. Chữ “doanh” 營trong “doanh nghiệp” = ‘quản lý’; chữ “doanh”贏
trong “doanh lợi” = ‘tiền lời’.
Kinh doanh là hoạt động đem lại lợi nhuận rất cao. Việt Nam có thành ngữ “Một
vốn bốn lời”. Trung Hoa còn có thành ngữ “Nhất bản vạn lợi” → tham vọng của nhà
doanh nghiệp!
Do mục đích của kinh doanh là kiếm lời → hoạt động kinh doanh thường để lại ấn
tượng xấu. Trong kinh doanh buôn bán: kiếm lời bằng hàng giả, hàng rởm, lừa đảo,
buôn lậu, đầu cơ, trốn thuế... Trong kinh doanh sản xuất: kiếm lời bằng cách khai thác

5
bừa bãi tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường, bóc lột quá mức tài nguyên
con người...
→ Trong nhận thức chung của nhiều dân tộc, kinh doanh thường đối lập với văn
hoá.
2. Vai trò của văn hoá trong kinh doanh
Gần đây, người ta bắt đầu nói nhiều đến vai trò của văn hoá trong kinh doanh..
Có hai lý do chính dẫn đến hiện tượng này.
1) Lý do khách quan: Trào lưu hội nhập và toàn cầu hoá với tốc độ chóng mặt kéo
theo sự nhất thể hoá về mọi mặt và đe doạ nghiêm trọng sự sinh tồn của các nền văn
hoá cùng những bản sắc riêng của mỗi dân tộc. → Trên phạm vi toàn thế giới xuất hiện
xu hướng đề cao văn hoá, quay trở về với văn hoá dân tộc để tạo thế cân bằng.
2) Lý do chủ quan: Sự thất bại của nhiều tập đoàn kinh doanh lớn do cách hành xử
phi văn hóa, thiếu đạo đức.
Tập đoàn Nike bị người tiêu dùng Mỹ tẩy chay do sử dụng lao động trẻ em ở
Pakistan vào việc sản xuất bóng dùng trong giải vô địch bóng đá thế giới. Việc tẩy
chay → cổ phiếu của công ty này giảm từ 76 USD năm 1997 xuống còn 27 USD năm
2000. Công ty phải đưa ra bản Hiến chương về đạo đức đối với các nhà cung ứng ở
châu Á.
Tập đoàn khổng lồ Daewoo phá sản năm 1999 với số nợ là 75 tỷ USD. Chủ tịch và
người sáng lập Kim Woo-chung từ một nhân vật huyền thoại sau 6 năm trốn chạy ở
nước ngoài đến 14-6-2005 đã bị bắt.
Các vụ thảm hoạ về môi trường, nạn rửa tiền, tệ tham nhũng đã cuốn vào vũng bùn
biết bao công ty và tập đoàn kinh tế hùng mạnh, biết bao chính khách và cả các ngân
hàng...
Do vậy, ngày nay các doanh nghiệp thức thời dù muốn làm ăn có uy tín hay chỉ
đơn thuần muốn có uy tín để làm ăn đều phải quan tâm, hoặc chí ít là tỏ ra quan tâm
đến VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP. Các hội thảo được tổ chức, các câu lạc bộ được mở
ra, các trung tâm được thành lập...
3. Cách hiểu phổ biến về văn hoá doanh nghiệp
Khái niệm văn hoá doanh nghiệp thường được hiểu một cách rất sơ lược, đơn giản.
Một số người lý giải khái niệm “văn hoá doanh nghiệp” thông qua cặp quan hệ
“văn hoá trong kinh doanh” và “kinh doanh có văn hoá”.
Trong giới nghiên cứu phương Tây phổ biến quan niệm coi “văn hoá doanh
nghiệp” là một dạng của “văn hoá tổ chức” (organizational culture).
“Văn hoá tổ chức”, “văn hoá doanh nghiệp” thường được hiểu là một tập hợp của
những biểu hiện hình thức như khẩu hiệu, logo; cách chào hỏi, nói năng; các sinh hoạt
văn hoá nghệ thuật trong doanh nghiệp như ca hát, nội san; các truyền thuyết, huyền
thoại, tín ngưỡng của doanh nghiệp...
Để có một quan niệm đầy đủ về văn hoá doanh nghiệp, cần bắt đầu từ việc tìm hiểu
một cách nghiêm túc xem văn hoá là gì?

