intTypePromotion=1

An ninh lương thưc và thực phẩm: Một số vấn đề về lý luận thực tiễn và định hướng chính sách cho Việt Nam

Chia sẻ: Le Dang Hai | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:13

0
93
lượt xem
24
download

An ninh lương thưc và thực phẩm: Một số vấn đề về lý luận thực tiễn và định hướng chính sách cho Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá và đô thị hoá nền kinh tế xã hội. Trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá bình quân mỗi năm cả nước mất khoảng 74.000 ha đất nông nghiệp chuyển thành đất phi nông nghiệp (Nguyễn Sinh Cúc, 2008)1. Điều đáng chú ý là các diện tích đất được chuyển đổi này tập trung nhiều ở các tỉnh đồng bằng, những vùng đất nông nghiệp màu mở và đông dân cư...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: An ninh lương thưc và thực phẩm: Một số vấn đề về lý luận thực tiễn và định hướng chính sách cho Việt Nam

  1. AN NINH LƯƠNG THỰC VÀ THỰC PHẨM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM GS. TS. Đỗ Kim Chung, PGS. TS. Kim Thị Dung và KS. Lưu Văn Duy Tạp chí nông nghiệp và Phát triển nông thôb, Só 6, Tháng 6/2009, Trang 3-10 SUMMARY This paper discuses some theoretical and practical issues on food security and draw some policy recommendations for sustainable strategy for food security for Vietnam. The paper points out that policy measures should aim at promoting sustainable strategy for food supply by long term rational food production planning based on comparative advantage of each region, increasing public investment for planed food production zones, increasing consumers’ accessibility to food by generating job opportunities and income, and creating an efficient market mechanism in which all consumers can access to food at reasonable prices. Key words: Food Security, Food safety, Food security polices and strategy, Vietnam Tóm tắt Bài viết này thảo luận một số vấn đề lý luận và thực ti ễn của an ninh l ương th ực thqựuc phẩm và đề xuất một số định hướng chính sách cho chiến lược an ninh lương thực, thực phẩm bền vững cho Việt Nam. Bài viết chỉ ra rằng các gi ải pháp chính sách cần hướng vào chiến lược sản xuất bền vững LT-TP dựa trên quy ho ạch dài h ạn và l ợi thế so sánh của mỗi vùng, tăng khả năng tiếp cận của người tiêu dùng tới l ương th ực bằng việc tạo việc làm và thu nhập cho họ, tạo ra cơ chế hiệu quả cho thị trường hoạt động để mọi người tiêu dùng tiếp cận được tới lương thực thực phầm với giá hợp lý. Từ khoá: An ninh lương thực-thực phẩm, An toàn lương thực-thực phẩm, Chi ến lược và chính sách an ninh lương thực-thực phẩm, Việt nam MỞ ĐẦU Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá và đô thị hoá nền kinh tế xã h ội. Trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá bình quân m ỗi năm c ả n ước m ất kho ảng 74.000 ha đất nông nghiệp chuyển thành đất phi nông nghiệp (Nguyễn Sinh Cúc, 2008) 1. Điều đáng chú ý là các diện tích đất được chuyển đổi này tập trung nhi ều ở các t ỉnh đ ồng bằng, những vùng đất nông nghiệp màu mở và đông dân cư. Ở các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, nếu chuyển 1 ha đất nông nghi ệp thành khu công nghi ệp thì s ẽ làm mất một tài sản sinh kế và ảnh hưởng đến ít nhất 12-25 người dân sống ở nông thôn 1 Nguyễn Sinh Cúc, 2008, Làm gì để phát triển bền vững Tam nông trong thời gian tới. . Tạp chí ban tuyên giáo trung ương, http://tuyengiao.vn/Home/diendan/2008/7/74.aspx trích lúc 13h23' ngày 18/7/2008 1
  2. (Đỗ Kim Chung, 2008)2. Việc chuyển đất nông nghiệp thành các khu công nghiệp và đô thị đã tạo ra những thách thức an ninh lương thực, th ực phẩm và vi ệc làm cho nông dân, nhất là những người bị thu hồi đất. Lo ngại trước tình hình không an ninh về lương thực và thực phẩm, nhiều tỉnh, huyện đã có chủ trương giành di ện tích c ố đ ịnh đ ể s ản xu ất lương thực, thực phẩm vì mục tiêu an ninh lương thực của địa phương h ọ. Li ệu nh ững hành động và chủ trương đó là hợp quy luật và đã thực sự đảm bảo an ninh v ề l ương thực, thực phẩm cho quốc gia. Mặt khác, theo định hướng phát tri ển c ủa n ền kinh t ế nước ta, đến năm 2020, Việt Nam cơ bản là một nước công nghiệp. Với mục tiêu đó, việc chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp sẽ ti ếp tục di ễn ra. Tuy nhiên, bao nhiêu đất nông nghiệp cần được dùng để đảm bảo an ninh v ề l ương th ực - th ực phẩm quốc gia, bao nhiêu đất nông nghiệp có thể được chuyển đổi sang m ục đích phi nông nghiệp vẫn là câu hỏi được nhiều người quan tâm? Cho đến nay, ch ưa có nhi ều nghiên cứu về các vấn đề trên được tiến hành. Vì vậy, bài viết này nhằm góp phần thảo luận vấn đề trên. Mục tiêu cơ bản của bài viết này nhằm: 1) Làm rõ thêm các v ấn đ ề lý lu ận và th ực ti ễn của an ninh lương thực - thực phẩm và chính sách an ninh về l ương th ực - th ực ph ẩm; 2) Thảo luận các vấn đề thực tiễn về an ninh lương thực, thực phẩm ở Vi ệt Nam; 3) Đề xuất một số định hướng chính sách và giải pháp đảm bảo an ninh lương th ực ở Vi ệt Nam. 1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này vận dụng phương pháp tiếp cận kinh tế mở về vấn đ ề an ninh l ương thực, thực phẩm. Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này là số li ệu thứ c ấp của các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài n ước. Ngoài ra, bài viết còn sử d ụng các phương pháp dự báo về cung và cầu về lương thực, thực phẩm. 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ AN NINH LƯƠNG THỰC - THỰC PHẨM 2.1.1 An ninh lương thực hay an ninh lương thực - thực phẩm? Từ “lương thực” theo nghĩa tiếng Việt chỉ những nông sản có chứa tinh b ột. Do đó, n ếu nói “an ninh lương thực” là chưa đủ. Theo nghĩa tiếng Anh, “food” có nghĩa bao hàm c ả lương thực và thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cho con người. Hơn n ữa, việc tiêu dùng lương thực và thực phẩm quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông thường, n ếu tiêu dùng nhiều thực phẩm (thịt, rau, đậu, sữa trứng, quả) sẽ tiêu dùng lương thực ít hơn. Cơ cấu nông nghiệp sẽ thay đổi theo cầu của thị trường về lương thực và thực phẩm. Do đó, không thể tách rời lương thực với thực phẩm khi nói về vấn đề an ninh. Vì vậy, bài vi ết 2 Đỗ Kim Chung, 2008, Học thuyết kinh tế đối ngẫu trong phát triển nông thôn: những bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc cho Việt Nam, Nghiên cứu Kinh tế, số 361, tháng 6 năm 2008, Viện Kinh tế Việt Nam, trang 46-50 2
  3. này thảo luận vấn đề “an ninh lương thực - thực phẩm” h ơn là vấn đ ề “an ninh l ương thực” thông thường. 2.1.2 An ninh lương thực - thực phẩm và an toàn lương thực - thực phẩm An ninh về lương thực, thực phẩm là vấn đề trọng tâm của mọi chính sách lương thực - thực phẩm của các quốc gia. Mục tiêu cơ bản của chính sách lương th ực - th ực ph ẩm của các quốc gia nhằm đảm bảo an ninh lương thực - th ực phẩm m ột cách b ền v ững và an toàn về lương thực - thực phẩm cho con người, xã hội và môi tr ường. An ninh lương thực - thực phẩm là đảm bảo khả năng của tất cả các thành viên trong xã h ội trong m ọi lúc, mọi nơi có thể có đủ lương thực - thực phẩm cho cuộc sống kho ẻ m ạnh và hi ệu quả. An toàn về lương thực - thực phẩm là sự đảm bảo về chất lượng c ủa l ương th ực và thực phẩm, không tổn hại tới sức khoẻ con người, môi trường và xã hội. Bài vi ết này tập trung thảo luận vấn đề an ninh lương thực - thực phẩm. Khái niệm an ninh lương thực được hiểu ở các khía cạnh sau: Thứ nhất là sự đảm bảo khả năng của tất cả các thành viên trong xã hội, không phân bi ệt người có thu nhập cao hay thu nhập thấp, ở vị trí nào, nhất là những nhóm cư dân dễ bị tổn thương đều có khả năng tiếp cận tới lương thực thực-thực phẩm. Thứ hai, đảm bảo cho các thành viên đó ở mọi nơi, từ vùng gần đô thị đến vùng sâu và vùng xa, từ thành th ị đ ến nông thôn đ ều tiếp cận đủ lương thực - thực phẩm. Thứ ba, mọi thành viên trong xã hội trong mọi lúc - dù ở lúc có thu hoạch hay giáp hạt đều có đủ lương thực - thực phẩm cho cu ộc sống khoẻ mạnh và hiệu quả. Trong mọi lúc có nghĩa là m ột quốc gia hoặc một hộ gia đình hoặc một cá nhân trong m ọ i th ờ i đi ể m k ể c ả trong các tr ườ ng h ợ p g ặ p ph ả i các cú sốc bất thường (như khủng hoảng kinh tế hoặc chịu ảnh hưởng của thiên tai) cũng phải tiếp cận được với nguồn lương thực phù hợp. 2.1.3 Đẩy mạnh sản xuất lương thực - thực phẩm có phải là điều kiện đủ cho an ninh về lương thực - thực phẩm? Trọng tâm của sự an ninh về lương thực - thực phẩm là đảm b ảo khả năng s ẵn có, kh ả năng tiếp cận được và sử dụng lương thực. Mức sẵn có về lương th ực - th ực ph ẩm là sự đảm bảo khối lượng lương thực đủ lớn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng c ủa qu ốc gia. Mức sẵn có này còn được xem xét ở từng địa phương và từng h ộ. M ức s ẵn có v ề l ương thực - thực phẩm phụ thuộc vào sản xuất trong n ước và lượng nhập khẩu và d ự tr ữ. Trong đó, nhiều quốc gia coi việc đẩy mạnh sản xuất trong n ước và t ự cung t ự c ấp lương thực là điều kiện quan trọng cho an ninh về lương th ực - th ực ph ẩm. Kh ả năng tiếp cận lương thực - thực phẩm là khả năng mà từng người tiêu dùng, t ừng h ộ có đ ược lương thực - thực phẩm. Khả năng tiếp cận được lương thực và th ực ph ẩm ph ụ thu ộc vào thu nhập của người tiêu dùng giành cho chi tiêu v ề l ương th ực và h ệ th ống phân phối (sự cạnh tranh hay độc quyền của thị trường, giá lương thực - th ực ph ẩm cao hay thấp). Trong nhiều trường hợp, mức sẵn có về lương thực - thực phẩm của vùng hay quốc gia cao, nhưng thu nhập của người tiêu dùng thấp, h ệ th ống phân ph ối và th ị trường chưa phát triển, giá lương thực còn cao thì người tiêu dùng v ẫn không ti ếp c ận được lương thực và thực phẩm. Trên thế giới đã có nhiều trường hợp nạn đói xảy ra nghiêm trọng trong tình trạng quốc gia đó được mùa. Các nạn đói diễn ra nghiêm trọng ở 3
  4. Etiopia năm 1973 và ở Băng-la-đét năm 1974 đều trong bối c ảnh các qu ốc gia này đ ược mùa lớn. Lương thực - thực phẩm được dịch chuyển từ vùng đói (t ỉnh Wollo) sang vùng no (tỉnh Addis Ababa của Etiopia). Nguyên nhân c ơ bản c ủa tình tr ạng này là tuy có lương thực - thực phẩm sẵn có trên thị trường, nhưng dân nghèo không có khả năng mua được lương thực và thực phẩm mà họ cần, do họ thiếu việc làm và thu nhập của họ quá thấp3. Thực trạng này cũng đã và đang thấy lương thực-th ục phẩm chất l ượng t ốt h ơn đuợc chuyển từ nông thôn ra thành thị, từ vùng nghèo khó sang vùng giàu có ở các n ước như Thái Lan, In-đô-nê-xia, Philipine và ngay cả ở Việt Nam. Do đó, để có được an ninh về lương thực - thực phẩm, việc đẩy mạnh sản xuất luơng thực - th ực ph ẩm đảm b ảo mức sẵn có về lương thực, thực phẩm mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ cho an ninh lương thực, thực phẩm là phải tập trung giải quyết được việc làm, tăng đ ược thu nhập và phát triển được thị trường lành mạnh để người tiêu dùng mua được lương thực - thực phẩm với giá hợp lý 2.2. AN NINH LƯƠNG THỰC - THỰC PHẨM Ở VIỆT NAM 2.2.1 Tình trạng sản xuất lương thực ở Việt Nam Thành tựu nổi bật nhất về kinh tế của Việt Nam sau hơn 20 năm đ ổi m ới là phát tri ển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực đã đáp ứng được nhu c ầu trong n ước, đảm bảo dự trữ Quốc gia và liên tục xuất khẩu gạo. Tỷ lệ nghèo lương thực đã giảm từ 35,6% (giai đoạn 1998 - 1999), xuống còn 11,9% (giai đoạn 2002 - 2003). Đi ều đó chứng minh nước ta giảm cơ bản tình trạng đói. Tuy nhiên cũng cần th ấy r ằng, nh ững hộ tham gia làm lương thực có tỷ lệ nghèo cao. Cả nước có khoảng 71% dân số làm nông dân, tỷ lệ nghèo là 20,4% cao gấp 4 lần so với c ư dân không làm nông dân (5,0%). Cả nước có 53% dân số làm nghề trồng lúa và tỷ lệ nghèo của người trồng lúa là 23,4%, gấp 3 lần so với những người không làm lúa (7,5%). Thành tựu cơ bản của nông nghiệp là thâm canh tăng năng suất, đa d ạng hoá cây tr ồng. Cùng với việc phát triển nhanh một số cây lương thực khác như lúa, ngô, Việt Nam đã đưa sản lượng lương thực có hạt từ 38,1 triệu tấn năm 2000 lên 52,4 triệu tấn năm 20084, bằng 2,22 lần năm 1986, nhờ đó Việt Nam đã tự cung cấp đủ lương thực cho tiêu dùng trong nước với số dân 86,2 triệu người (năm 2008), tạo được quỹ dự trữ lương thực quốc gia với khối lượng trên 1,5 triệu tấn và xuất khẩu mỗi năm từ 4,5 đến 5,0 triệu tấn gạo. Trước năm 2000 sản lượng lúa tăng nhanh nhờ ch ủ y ế u ở tăng diện tích gieo cấy lúa (diện tích gieo cấy từ 5,68 triệu ha vào năm 1986 lên 7,66 triệu ha năm 2000) (Bảng 1). Nhưng từ năm 2001 đến nay diện tích gieo cấy lúa đã giảm từ giảm 336.825 ha, s ả n l ượ ng l ươ ng th ự c tăng ch ủ y ế u do tăng năng su ấ t ( từ 42.4 tạ/ha năm 2000 lên 49.8 tạ/ha vào năm 2007) (Bảng 2). Tuy nhiên, tốc độ tăng v ề sản l ượng l ương th ực bị chậm lại. 3 Đỗ Kim Chung, Vì sao được mùa mà vẫn còn nhiều người đói, Khoa học và đời sống số 42 (1190), 14-20- 10-1997, Liên hiệp hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam 4 Nguyễn Trí Ngọc, Đảm bảo an lương thực cho đồng bào dân tộc miền núi, Báo Kinh tế Nông Thôn, Web site: httpp:\\: Kinhtenongthon.com.vn, Ngày 17/3/2009, cập nhật lúc 9.42 AM 4
  5. Bảng 1. Diện tích lúa cả năm ở Việt Nam giai đoạn 2000-2007 Đơn vị: 1000 ha Năm Cả ĐB Đông Tây Bắc Nam Tây Đông ĐB nước SH Bắc Bắc Trung Bộ Trung Bộ Nguyên Nam Bộ SCL 2000 7.666 1.212 550 136 695 422 176 526 3.945 2002 7.504 1.196 562 140 700 399 186 484 3.834 2004 7.445 1.161 557 151 685 401 198 475 3.816 2006 7.324 1.124 553 154 683 392 208 435 3.773 2007 7.201 1.111 553 158 683 376 205 432 3.684 2007/2000 - 465 - 101 +3 + 22 - 12 - 46 - 29 - 94 - 261 Nguồn: Tổng cục thống kê, 2007, Niên giám thống kê 2007, Nhà xuất bản thống kê 2008 Bảng 2. Năng suất lúa cả nước giai đoạn 2000-2007 Đơn vị tạ/ha Năm Cả ĐB Đông Tây Nam.T Tây Đông ĐB Bắc.T Bộ Nước SH Bắc Bắc Bộ Nguyê n N. Bộ SCL 2000 42,4 54,3 40,0 29,5 40,6 39,8 33,2 31,9 42,3 2002 45,9 56,4 42,2 32,7 45,1 42,8 32,5 34,7 46,2 2004 48,6 57,8 44,7 36,3 49,3 47,1 39,5 37,5 48,7 2006 48,9 58,1 45,4 38,0 51,0 49,1 42,9 39,1 48,2 2007 49,8 56,7 45,6 36,4 47,4 50,9 41,9 42,4 50,6 2007/2000 +7,4 +2,4 +5,6 + 6,9 + 6,8 +11,1 +8,7 +10,5 +8,3 Nguồn: Tổng cục thống kê, 2007, Niên giám thống kê 2007, Nhà xuất bản thống kê 2008 Sự giảm về diện tích trồng lúa d o một số nguyên nhân sau: tr ướ c tín hi ệ u th ị tr ườ ng nông dân chuyển đất lúa sang nuôi trồng thuỷ sản hoặc trồng cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị cao hơn và một bộ phận khác chuyển sang mục đích phi nông nghiệp do các địa phương thực hiện công nghiệp hoá và đô thị hoá. Đi ều đáng chú ý là 78% diên tích lúa bị giảm (362 ha trong 465 ha) lại thuộc Đồng bằng sông Hồng và đ ồng b ằng sông Cửu Long (Bảng 1). Thực trạng này đặt ra hai tình tình hu ống, n ếu di ện tích gi ảm do chuyển sang làm các sản phẩm nông nghiệp khác (thuỷ sản, rau, màu, cây ăn trái..) thì không ảnh huởng đến an ninh về lương thực - thực phẩm. N ếu di ện tích lúa b ị gi ảm do chuyển sang mục đích phi nông nghiệp có thể ảnh hưởng lớn đến an ninh về l ương thực, thực phẩm. Từ năm 2001 đến hết năm 2007, tổng di ện tích đất nông nghi ệp b ị thu hồi trong cả nước là gần 500.000 ha (chiếm khoảng 5% đất nông nghiệp đang sử dụng), bình quân mỗi năm nông dân ước phải nhường 74.000 ha đất sản xuất phục vụ cho vi ệc phát triển các khu công nghiệp và đô thị. Do đó, cần có sự cân nhắc và lựa chọn chiến lược giữa phát triển các khu công nghiệp và đô thị với việc bảo tồn quỹ đ ất nông nghiệp. Điều đáng chú ý là đồng bằng sông Hồng có năng su ất lúa là cao nh ất nh ưng có 5
  6. tốc độ tăng năng suất là chậm nhất trong cả nước (Bảng 2). Năng su ất lúa hi ện nay đã cao hơn trước đây, những vẫn thấp hơn các nước phát triển khoảng 20-30%, nh ưng năng suất hoa mầu thấp hơn 50% so với các nước trong khu vực. Di ện tích tr ồng m ầu chiếm 1/5 tổng diện tích trồng cây lương thực, thực phẩm nh ưng s ản l ượng màu thu được lại chỉ chiếm khoảng 1/10 sản lượng lương thực phẩm của cả nước. Như vậy, khoảng cách về năng suất các loại cây lương thực, th ực ph ẩm c ủa chúng ta so v ới các nước phát triển, đang còn khá lớn, nhất là các loại hoa màu như ngô, khoai, sắn, đ ậu, đỗ, rau. Do đó, để tăng thêm đuợc sản lượng lương thực, cần tập trung cao độ vào giải pháp công nghệ để cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm. 2.2.2 Cung về lương thực giữa các vùng Trong những năm gần đây, sản lượng lúa cả nước tính bằng thóc tăng gần 3,4 ngàn tấn (từ trên 32,5 triệu tấn lên 35,9 triệu tấn) (Bảng 3). Bình quân lương thực đầu người giai đoạn 1996-2001 tăng từ 430,3 kg/năm lên 501,1 kg/năm (tăng 3,29%), giai đoạn 2002-2006 tăng từ 540,5kg/năm lên 551,2 kg/năm (tăng 1,95%). Tuy nhiên, trong khi tất cả các vùng đều tăng, đồng bằng sông Hồng lại có sản lượng gi ảm t ới 288 nghìn tấn. Hai vùng ĐBSCL và ĐBSH chiếm gần 70% tổng sản lượng lúa cả nước (24,9 triệu tấn / 35,9 triệu tấn). Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm 52 - 55% sản lượng và hơn 90% sản lượng lúa gạo xuất khẩu của cả nước. Các vùng nh ư Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ m ứ c cung v ề l ươ ng th ự c đủ tiêu dùng tại chỗ, có thể thiếu hụt vào những trường hợp thời tiết không thuận lợi đối với nông nghiệp. Các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên có sản lượng lúa thấp nhất, xét về cung cầu lúa gạo tại chỗ thì cung chưa đáp ứng được cầu, tình trạng thiếu hụt lúa gạo có thể là thường xuyên. Do đấy, giải quyết vấn đề an ninh lương thực-thực phẩm phải tiếp cận theo từng vùng. Bảng 3. Sản lượng lúa cả nước và từng vùng giai đoạn 2000 – 2007 Đơn vị: 1000 tấn Cả Vùng Đông Tây Bắc.T Nam.T Tây. Đông. ĐB Năm nước ĐBSH Bắc Bắc Bộ Bộ Nguyên N Bộ SCL 2000 32.529,5 6.586,6 2.065,0 403,6 2.824,0 1.681,6 586,8 1.679,2 16.702,7 2002 34.447,2 6.752,2 2.475,3 488,1 3.221,1 1.711,0 606,6 1.679,7 17.707,6 2004 36.148,9 6.710,2 2.490,6 548,8 3.377,8 1.890,8 781,4 1.782,1 18.567,2 2006 35.849,5 6.522,6 2.512,3 590,0 3.484,6 1.934,4 880,5 1.691,6 18.229,2 2007 35.867,5 6.298,1 2.517,3 574,0 3.239,3 1.911,8 858,4 1.831,5 18.637,1 2007/2000 +3.374,0 -288,5 +452,3 +296,4 +415 +230,2 +271,6 +152,3 +1.934,4 L. thực BQĐN (kg) 421 342 263 216 302 266 174 129 1.106 (2007) Nguồn: Niên giám thống kê 2007, TCTK, NXB Thống kê 2008; 2.2.3 Tình hình lưu thông và tiêu dùng lương thực của Việt Nam Lương thực mà chủ yếu là lúa gạo của Việt Nam sản xuất ra hàng năm được dùng vào: tiêu dùng của người dân cả nước, để làm giống, làm thức ăn chăn nuôi, dự trữ quốc gia và xuất khẩu. Trong đó, lượng lúa gạo tiêu dùng trong nước chiếm khoảng 75- 6
  7. 80%, xuất khẩu khoảng 20-25% sản lượng thóc hàng năm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008). Lượng gạo xuất khẩu: Gạo Việt Nam đã được xuất khẩu sang hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Châu Á là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, các nước nhập khẩu ở châu Á phần lớn thuộc những nhóm n ước có thu nh ập thấp và là các nước đang phát triển. Các thị trường tiêu thụ gạo chất lượng cao và rất cao là Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU, nhưng thị phần rất nhỏ và chưa có dấu hiệu tăng (Trung tâm Thông tin PTNNNT, 2008). Tình hình xuất và nhập khẩu gạo của Việt Nam thể hiện ở Hình 1 dưới đây. Năm 2005, đạt sản lượng xuất khẩu là cao nhất (5,25 tri ệu tấn). Hình 1: Xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 1976-2007 6000 5000 4000 3000 2000 1000 0 Năm XK gạo (1000 tấn) NK gạo (1000 tấn) Nguồn: Trung tâm Thông tin PTNNNT, 2008. Lượng thóc tiêu thụ trong nước: Lượng lương thực tiêu thụ trong nước hàng năm vào khoảng 29,2 triệu tấn. Trong đó: người ăn khoảng 20,2 triệu tấn (73,6%), dự trữ (1,3 triệu tấn), dùng chăn nuôi 6,4 triệu tấn (21,9%), để làm giống 1,1 triệu tấn (3,6%), chế biến 0,2 triệu tấn (0,7%). Mức lương thực tiêu dùng sản phẩm gạo bình quân đầu người ở nước ta ở mức trung bình so với các nước trong vùng (Bảng 4). So v ới Thái Lan, giai đoạn 199-2001 tăng hơn 57%. Mức tiêu dùng lương th ực m ột ng ười tăng t ừ 157 kg/người/năm những năm 1970-72 tới 167 kg những năm 1999-2001nhưng lại có xu hướng giảm xuống còn 150 kg giai đoạn 2005 - 2008 và theo dự báo có kh ả năng gi ảm xuống 110 kg giai đoạn 2015 - 2020. Điều này có thể tương đồng với m ức tiêu dùng c ủa Thái Lan giai đoạn 1999- 2000. Đến nay, cơ bản toàn quốc đã giải quyết đ ược vấn đ ề thiếu đói. Tuy nhiên, theo số liệu Tổng cục Thống kê, cả n ước hi ện có kho ảng 6,7% số hộ thiếu đói lương thực. Trong đó khu vực nông thôn chiếm 8,7% và thành th ị là 2,2%. Bình quân mức tiêu thụ calo của người tiêu dùng Việt Nam khoảng 2.200 kCalo. Đi ều đáng chú ý là ở nông thôn 60% năng lượng dinh dưỡng vẫn từ lương thực. 7
  8. Bảng 4. Tiêu dùng gạo ở một số nước châu Á Tiêu dùng bình quân đầu người Thay đổi dân số Tiêu dùng gạo (kg/người/năm) (%) Nước 1999-2001 (tấn) 1970-1972 1989-1991 1999- 2001 1970-2000 2000-2030 Các nước ASEAN Inđônêxia 31.62 105 147 149 77 33 Việt nam 13.03 157 154 167 82 41 Mianma 9.71 160 209 203 78 31 Philíppin 7.65 86 96 101 107 49 Thái lan 6.83 152 110 109 74 27 Campuchia 2.03 163 158 155 89 82 Malaixia 1.96 123 81 88 105 48 Các nước châu Á khác Trung Quốc 113.51 79 93 89 54 17 Ấn Độ 76.45 69 79 76 82 40 Bănglađét 21.37 150 153 155 94 43 Nhật Bản 7.53 89 65 59 22 -5 Hàn Quốc 4.12 119 104 88 46 12 Nêpan 2.27 82 106 99 94 81 Pakítxtan 1.78 29 14 13 128 93 Sri Lanca 1.77 95 93 94 54 21 CHDCND 1.73 82 73 78 55 19 Triều Tiên Iran 1.89 25 31 27 144 49 Các tiểu vương 0.79 23 27 39 254 120 quốc Ả Rập Nguồn: FAOSTAT database, FAO, 2004 Dân số nước ta tiếp tục tăng đòi hỏi tăng nguồn cung lương thực-th ực phẩm. Năm 2007, dân số toàn quốc trên 85,1 triệu người, theo dự báo dân số nước ta ti ếp t ục tăng bình quân khoảng 1,0-1,2%/năm trong vài thập niên tới. Đến năm 2020, dân s ố n ước ta khoảng 100 triệu người và ổn định khoảng 120 triệu người sau năm 2030. Bình quân lương thực đầu người giai đoạn 1996-2001 tăng từ 430,3 kg/năm lên 501,1 kg/năm (tăng 3,29%), giai đoạn 2002-2006 tăng từ 540,5kg/năm lên 551,2 kg/năm (tăng 1,95%) (Đào Thế Anh, 2008). 8
  9. Thóc gạo dự trữ: được hình thành ở cấp quốc gia và cấp hộ gia đình. Ở cấp hộ gia đình, thóc được dữ trữ chủ yếu ở các hộ nông dân sản xuất lúa, nhưng đồng thời cũng là thóc để tiêu dùng tại chỗ, rất khó bóc tách riêng thóc ăn và thóc dự trữ. Dự trữ cấp quốc gia do Chính phủ trực tiếp quản lý dưới hình thức thóc và gạo. Năm 2005-2006 dự trữ quốc gia tính bằng thóc vào cuối năm đạt khoảng 1,3 triệu tấn, năm 2007 chỉ còn trên 1,0 triệu tấn. Đến cuối Quý I năm 2008, khi xảy ra biến động giá gạo, dự trữ quốc gia chỉ còn khoảng trên 107 ngàn tấn. Do đó, cần tính mức dự trữ quốc gia một cách hợp lý để đảm bảo có đủ lương thực trang trải cho nhu cầu tr ước nh ững cú s ốc bất thường. 2.3. QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHO CHÍNH SÁCH AN NINH LƯƠNG THỰC -THỰC PHẨM CHO VIỆT NAM 2.3.1 Quan điểm về an ninh lương thực-thực phẩm - Ở tầm quốc gia, chiến lược an ninh lương thực đòi hỏi phải có t ầm nhìn t ổng th ể, dài hạn về sự gia tăng về dân số, quỹ đất nông nghiệp của quốc gia, m ức độ ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu toàn cầu, sự giảm diện tích nông ngh ịêp do n ước biển dâng lên để từ đó tính đến chiến lược sử dụng quỹ đất cho phát tri ển các khu công nghiệp và đô thị. Ở tầm quốc gia, có định huớng quy hoạch các vùng sản xu ất lương thực, thực phẩm theo lợi thế so sánh của vùng, không phân b ổ bình quân các chỉ tiêu quy hoạch. Từ đó, có chiến luợc đầu tư cho hình thành sản xu ất hàng hoá v ề lương thực, thực phẩm. - Ở phạm vi từng hộ và người tiêu dùng, chiến lược an ninh lương thực phải tập trung vào tạo việc làm, tăng thu nhập, phát triển thị trường để tạo điều kiện cho m ọi người có khả năng tiếp cận đủ lương thực-thực phẩm mà họ cần. - Lương thực - thực phẩm bao gồm cả lương thực, cả thực phẩm, c ả phát tri ển tr ồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản. Do đó, chiến lược an ninh lương thực, th ực phẩm ph ải góp phần tập trung vào các ngành sản xuất đó, không nên hoàn toàn tập trung vào l ương thực. - Chiến lược an ninh về lương thực - thực phẩm phải toàn diện, không ch ỉ t ập trung vào sản xuất mà còn vào điều tiết cung cầu trong nước, tăng khả năng ti ếp c ận c ủa người tiêu dùng tới lương thực, thực phẩm 2.3.2 Cầu về lương thực, thực phẩm Dự báo với dân số 5,7 tỷ người vào năm 1995 thì trong khoảng 50 - 60 năm n ữa, dân số thế giới còn tăng gấp đôi, nhu cầu lương thực cũng tăng trên m ức đó. Trước đây, lương thực chủ yếu chỉ để phục vụ nhu cầu lương thực trực tiếp để ăn và nhu c ầu gián ti ếp thông qua thực phẩm về thịt, trứng, sữa cho người, ngày nay lương thực lại còn dùng đ ể sản xuất nhiên liệu sinh học (Mạng thông tin khoa học công nghệ Vi ệt Nam, 2008). Hiện nay, có tới 41 nước khuyến khích sản xuất và sử dụng nhiên li ệu sinh h ọc đ ể 9
  10. giảm bớt phụ thuộc vào dầu mỏ. Việc sử dụng lương thực theo hướng trên đây đã làm cho sản lượng ngũ cốc dù tăng, chẳng hạn năm 2007, sản lượng ngũ c ốc trên th ế gi ới đạt hơn hai tỷ tấn, tăng 4,3%, nhưng có tới 33 nước trên thế giới vẫn thiếu lương thực . Ở Việt Nam, với dân số hiện nay là 86.2 triệu người (2008), có thể tăng lên 100 tri ệu người trong tương lai không xa, nhưng diện tích đất nông nghi ệp c ủa n ước ta không nhiều. Cả nước chỉ có hơn 9 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó có trên 4 tri ệu ha đ ất trồng lúa mà diện tích đất nông nghiệp, kể cả đất trồng lúa đang gi ảm dần trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa. Vấn đề đáng lo ngại trong tương lai không xa là s ự biến đổi khí hậu có thể tác động nặng nề đến n ước ta. Trong tương lai gần, l ương th ực ở nước ta sẽ chi dùng vào các mục đích: - Lương thực ăn cho người, chủ yếu dựa vào lúa gạo. Trong tương lai, m ức tiêu dùng bình quân đầu người giảm đi, nhưng tổng nhu cầu lương th ực vẫn còn tăng, nh ưng sản lượng lúa gạo của nước ta vẫn đủ nuôi khoảng 120 triệu người trong năm 2030. - Thức ăn cho chăn nuôi. Chủ yếu dựa vào ngô làm th ức ăn tinh, ph ục v ụ nhu c ầu th ịt, trứng, sữa tăng do mức sống và dân số tăng. Sản lượng ngô ở Vi ệt Nam r ất th ấp, khó tăng thêm nhiều, Việt Nam vẫn là một nước nhập khẩu lớn về ngô, đ ậu t ương để sản xuất thức ăn tinh cho chăn nuôi. - Về sản xuất nhiên liệu sinh học: Nước ta cũng có thể dựa vào phát tri ển mía đ ường để sản xuất ethanol nhưng quy mô không lớn, giá thành cao. Nhưng nước ta có ti ềm lực to lớn về khí hậu, đất đai, lao động để phát triển cây diesel sinh học, chủ yếu ở vùng đồi núi, dựa vào quỹ đất hơn 4 triệu ha đất đồi núi chưa sử dụng, m ột phần diện tích đất quy hoạch để trồng rừng phòng hộ chuyển m ột ph ần sang đ ất nông - lâm nghiệp và đất nương rẫy có độ dốc cao, không tranh chấp với đất tr ồng cây lương thực, tạo nguồn nguyên liệu dồi dào phát triển sản xuất ngành kỹ nghệ lớn về diesel sinh học (Mạng thông tin khoa học công nghệ Việt Nam, 2008). 2.3.3 Cân đối cung và cầu lương thực Theo d ự th ả o c ủ a Chi ến l ượ c an ninh l ươ ng th ực qu ốc gia c ủa Vi ệt Nam do B ộ nông nghi ệ p và Phát tri ển nông thôn xây d ựng thì cung và c ầu l ương th ực c ủa Vi ệ t Nam đ ến năm 2020 được thể hiện ở Bảng 5. Xoay quanh con số dự thảo này có một vài bình luận sau: - Nếu chỉ quan tâm đến cân đối cung cầu c ủa lúa gạo thì ch ưa th ật bao quát các v ấn đề lương thực, thực phẩm. Bởi lẽ các loại lương thực-thực phẩm có thể thay thế cho nhau. Vì thế, cần xem xét thêm các diện tích ngô, rau đậu, cây ăn qu ả, thu ỷ sản vào cân đối thì sẽ hợp lý hơn. - Số liệu ở Bảng 4 chỉ ra rằng trong vòng 30 năm, m ức tiêu dùng gạo c ủa ng ười Vi ệt Nam không giảm. Trong 30 năm tới, xu hướng chung là m ức tiêu dùng l ương th ực trên đầu người sẽ giảm. Tuy nhiên mức giảm này sẽ chưa đạt đến ngay m ức nh ư dự báo trong dự thảo. Như vậy, khả năng xuất khẩu gạo là mỏng manh. - Không nên coi xuất khẩu gạo là giải pháp chiến lược lâu dài. Mức xuất khẩu gạo vào những năm 2020 sẽ thấp hơn 3,3 triệu tấn. Bảng 5. Dự kiến cân đối cung cầu thóc gạo(*) của Việt Nam đến năm 2020 Chỉ tiêu 2007 2010 2015 2020 10
  11. 1. Dân số (triệu người) 85,2 88,5 93,6 98,6 2. DT. Đất lúa (triệu ha) 4,1 4,0 3,8 3,5 3. DT.trồng lúa cả năm(triệuha) 7,2 7,1 6,9 6,8 4. Năng suất lúa (tấn/ha/vụ) 4,98 5,14 5,40 5,65 5. SL. Thóc cả năm(triệu tấn) 35,8 36,5 37,2 38,5 6. Nhu cầu (triệu tấn thóc) 29,2 31,1 32,1 35,2 - Thóc giống 1,1 1,1 1,0 1,0 - Chăn nuôi và hao hụt 6,4 7,0 7,5 8,5 - Chế biến 0,2 0,3 0,5 1,0 - Để ăn và dự trữ quốc gia 21,5 22,7 23,1 24,7 Trong đó, riêng để ăn 19,97 17,98 17,55 16,95 7. Cân đối thóc + 6,6 + 5,4 + 5,1 + 3,3 8. Dự kiến xuất khẩu (triệu tấn 4,3 3,5 3,3 2,1 gạo) Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008, Chiến lược an ninh lương thực quốc gia đến năm 2020, Dự thảo lần 9. (*) Tỷ lệ quy đổi từ thóc sang gạo khoảng 64%. 2.3.4 Một số định hướng giải pháp cho chiến lược an ninh về lương thực-thực phẩm 1) Chiến lược sản xuất lương thực-thực phẩm và bền vững Chiến lược sản xuất lương thực – thực phẩm bền vững được đặt ra ở phạm vi quốc gia. Trong điều kiện, kinh tế thị trường, không nên đặt chiến lược sản xuất lương thực ở tất cả các huyện, các tỉnh. Nếu yêu c ầu tất c ả các đ ịa ph ương đ ều quy ho ạch làm lương thực thì đó là tụt lùi lại chế độ sản xuất kế hoạch tập trung kém hi ệu qu ả. Công tác quy hoạch sản xuất lương thực, thực phẩm phải được dựa trên lợi thế so sánh của từng vùng. Ở phạm vi quốc gia, chiến lược này bao gồm các nội dung sau: - Làm tốt công tác quy hoạch sử dụng đất. Công tác quy hoạch sử dụng đất hiện nay do nhiều bộ ngành tiến hành, dẫn đến tình trạng chồng chéo, lãng phí tài nguyên đ ất (nhiều đất màu mỡ đang bị chuyển đổi thành mục đích phi nông nghi ệp). Do v ậy, công tác quy hoạch đất cho các mục đích sử dụng khác nhau ch ỉ nên quy vào m ột mối - do Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhi ệm. T ừ quy ho ạch t ổng th ể, tiến hành chi tiết các quy hoạch về cồng nghiệp, nông nghiệp, giao thông.. Tuy nhiên quy hoạch về nông nghiệp phải đi trước một bước so với quy hoạch công nghiệp và đô thị. Cần có sự cân nhắc và lựa chọn chiến lược giữa phát triển các khu công nghiệp và đô thị với việc bảo tồn quỹ đất nông nghiệp. Cần tính toán th ận tr ọng hơn về quỹ đất nông nghiệp (không thuần thuý chỉ quan tâm đến diện tích trồng lúa) đến giai đoạn 2020 và 2030 đảm bảo cho Việt Nam có đủ mức cung về lương th ực và thực phẩm. - Trên cơ sở quy hoạch tổng thể, thực hiện tốt quy hoạch nông nghi ệp . Trong quy hoạch nông nghịêp, cần tập trung vào quy hoạch vùng sản xuất lương th ực-th ực phẩm trọng điểm: Trên cơ sở tính toán lợi thế so sánh của từng vùng, hình thành các vùng quy hoạch tập trung. Tập trung đầu tư cho Đồng bằng Sông Cửu Long là vùng trồng lúa và cây ăn trái nhiệt đới. Dựa trên khả năng áp dụng công nghề để tăng năng 11
  12. suất, cần ổn định diện tích khoảng 4 triệu ha. Cần xây dựng quy ho ạch tổng quan về sản xuất lúa trên phạm vi toàn quốc và theo từng vùng để trình Qu ốc h ội phê duyệt và cần có pháp lệnh quy hoạch đất đai để ổn định diện tích đ ất tr ồng lúa và một số cây trồng khác; đồng thời thiết lập hệ thống thông tin an ninh l ương th ực nhằm nắm chính xác tình hình sản xuất, thu hoạch, sản lượng lúa đ ể ch ủ đ ộng lượng lúa gạo dự trữ và xuất khẩu. Thực hiện chính sách đầu tư công cho thu ỷ lợi, giao thông, chế biến, cơ sở hạ tầng, nghiên cứu khoa học, chuyển giao, gi ảm thi ểu rủi ro và thiên tai cho các vùng được quy ho ạch cho hình thành nông nghi ệp hàng hoá. Thực hiện quy hoạch sản xuất thực phẩm như rau, quả, chăn nuôi, nuôi tr ồng thuỷ sản theo lợi thế so sánh vùng, tập trung đầu tư chiều sâu để hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung, tăng sức cạnh tranh của mặt hàng nông sản. - Tăng cường đầu tư áp dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến đ ể tăng năng su ất, sản lượng và chất lượng sản phẩm. Đây là hướng đi chủ đạo của vấn đề an ninh lương thực, thực phẩm trong những thập kỷ tới nhất là ở các vùng trọng đi ểm về lúa như đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Th ực hi ện các ch ương trình khuyến nông, bảo vệ thực vật, giảm thiểu rủi ro để giúp nông dân tăng đ ược năng suất và chất lượng sản phẩm. Áp dụng giống tốt và các bi ện pháp canh tác đ ể tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh lương thực - thực phẩm. Triển khai đề án c ơ gi ới hóa trong nông nghiệp, trọng tâm là áp dụng c ơ gi ới hóa trong các khâu làm đ ất, gieo cấy, thu hoạch, bảo quản, chế biến lúa ngô. Đi đôi với đó là phát tri ển ngu ồn nhân lực, tăng cường hợp tác quốc tế về phát triển lúa gạo, nâng cao chất lượng dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm... - Cần có chính cách hỗ trợ nông dân ở vùng quy hoạch về chuyển giao công ngh ệ, đầu tư hạ tầng, công nghệ sau thu hoạch, tiêu thụ sản xu ất lương th ực - th ực phẩm; - Khuyến khích và hướng dẫn những hộ nông dân không nằm trong vùng quy hoạch phản ứng hiệu quả với các tín hiệu thị trường để chuyển sang cây trồng khác cho giá trị kinh tế cao hơn cây lúa. 2) Thực hiện dự trữ và vận hành xuất, nhập khẩu hợp lý Tiếp tục duy trì quỹ bình ổn về lương thực - thực phẩm. M ức d ự tr ữ l ương th ực ph ải đảm bảo cho quốc gia ổn định được giá lương thực trong c ả lúc m ất mùa và đ ược mùa, vượt qua được các cú sốc về kinh tế- rủi ro về tự nhiên. Cần có chiến lược xu ất nh ập khẩu linh hoạt và hợp lý. Sự phản ứng nhanh nhạy trong đi ều hành xu ất - nhập kh ẩu có tác dụng lớn tới an ninh lương thực và thực phẩm. S ử dụng linh ho ạ t nguồn dự trữ lúa gạo quốc gia để cung cấp trực tiếp cho nhóm hộ d ễ b ị t ổ n th ươ ng, b ị thiên tai, vùng sâu vùng xa có khó khăn v ề l ươ ng th ực khi xảy ra mất mùa, thiên tai hay dịch bệnh. 3) Tạo việc làm và tăng thu nhập cho mọi người Tạo việc làm là điều kiện đủ cho người tiêu dùng có được lương th ực. Chi ến l ược v ề an ninh lương thực cần gắn chặt chẽ với việc tạo việc làm. Cần xây dựng các ch ương trình việc làm để mọi người lao động có việc làm, từ đó tăng được thu nhập và ti ếp c ận đủ lương thực - thực phẩm mà họ cần. 12
  13. 4) Tạo môi trường để cho thị trường lương thực - thực phẩm phát triển lành mạnh An ninh lương thực - thực phẩm chỉ được đảm bảo khi có th ị tr ường phát tri ển, có c ạnh tranh lành mạnh, với giá hợp lý. Do vây, Chính phủ cần đầu tư công vào phát tri ển h ạ tầng cho thị trường như đường giao thông, cầu cống, bến c ảng, kho bãi, cung c ấp thông tin, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế và thành phần kinh tế khác nhau tham gia vào kinh doanh, phân phối lương thực-thực phẩm. đầu tư phát triển thị trường cần được hướng vào các vùng nông thôn, các vùng sâu và vùng xa. KẾT LUẬN Vấn đề an ninh lương thực, thực phẩm là n ội dung tr ọng tâm c ủa c ủa chính sách nông nghiệp của các quốc gia. Hoạch định chiến lược và chính sách cho an ninh l ương th ực và thực phẩm, cần có quan điểm và giải pháp toàn diện cả về lương thực và thực phẩm, chú ý đến sản xuất lương thực thực phẩm, cơ chế xuất khẩu và nhập khẩu kinh ho ạt, phát triển hệ thống thị trường, tạo việc làm và thu nhập để tăng sức mua c ủa ng ười tiêu dùng. Để đảm bảo cho Việt Nam thực hiện được an ninh về lương thực-thực phẩm, cần thi ết phải xây dựng chiến lược sản xuất lương thực-thực phẩm và b ền v ững, th ực hi ện d ự trữ và vận hành xuất, nhập khẩu hợp lý, tiếp tục duy trì quỹ bình ổn v ề l ương th ực - thực phẩm đảm bảo cho quốc gia ổn định được giá lương thực trong c ả lúc m ất mùa và được mùa, vượt qua được các cú sốc về kinh tế- rủi ro về tự nhiên, tạo việc làm và tăng thu nhập cho mọi người và tạo môi trường để cho thị trường lương th ực - th ực ph ẩm phát triển lành mạnh TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2008, Chiến lược an ninh lương thực quốc gia đến năm 2020, Dự thảo lần 9, FAO, 2004, FAOSTAT database 2. Tổng cục thống kê, 2007, Niên giám thống kê 2007, Nhà xuất bản thống kê 2008 3. Đỗ Kim Chung, 1997, Vì sao được mùa mà vẫn còn nhi ều người đói, Khoa h ọc và đời sống, số 42, 14-20-10-1997 4. Vneconomy, 2008, Việt Nam: Chấm dứt thiếu đói lương thực vào năm 2012, Vnecono.vn, http://vnecono.vn/vn/index.php/tin-tc/tin-vit-nam 5. 5.IRRI (International Rice Research Institute). 2008. Background Paper: The rice crisis: What needs to be done? Los Banos (Philippines): IRRI. 12 p. www.irri.org. 6. Mạng thông tin khoa học công nghệ Việt Nam , 2008, Cách tiếp cận mới về ngành sản xuất lương thực, http://www.vista.gov.vn, trích lúc 11h22’ ngày 19 tháng 11 năm 2008. 7. Đào Thế Anh, 2008, Thực trạng, phương hướng và giải pháp phát triển ngành hàng lúa gạo để đảm bảo an ninh lương thực đến năm 2015 và năm 2010, Viện cây lương thực và thực phẩm. 13
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2