intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Báo cáo thu hoạch Thực tập Sư phạm: Một số thực trạng và biện pháp giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học cơ sở Nguyễn Hữu Thọ

Chia sẻ: Nguyễn Thị Quyết | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:21

0
214
lượt xem
59
download

Báo cáo thu hoạch Thực tập Sư phạm: Một số thực trạng và biện pháp giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học cơ sở Nguyễn Hữu Thọ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Báo cáo thu hoạch Thực tập Sư phạm: Một số thực trạng và biện pháp giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học cơ sở Nguyễn Hữu Thọ được thực hiện nhằm đánh giá được thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS, thông qua đó đề ra biện pháp giáo đạo dức học sinh một cách có hiệu quả giúp cho các em trở thành những người tốt trong xã hội.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo thu hoạch Thực tập Sư phạm: Một số thực trạng và biện pháp giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học cơ sở Nguyễn Hữu Thọ

  1. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ A. PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do viết thu hoạch. 1. Cơ sở lý luận Trong nhà trường phổ  thông nói chung và trường THCS nói riêng, số  học sinh vi phạm đạo đức có chiều hướng gia tăng, tình trạng học sinh kết  thành băng nhóm bạo hành trong trường học đáng được báo động. Một số  giáo viên chưa thật sự là tấm gương sáng cho học sinh, chỉ lo chú trọng đến  việc dạy tri thức khoa học, xem nhẹ  môn GDCD, thờ   ơ  không chú ý đến  việc giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh. Xuất phát từ lý luận và thực  tiễn trên, để  góp phần vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong  giai đoạn hiện nay, và qua thực tiễn công tác quản lý và giảng dạy học sinh   ở  trường THCS, tôi nhận thấy việc nắm rõ thực trạng và đề  ra biện pháp  về công tác giáo giáo dục đạo đức cho học sinh THCS là một nhiệm vụ hết  sức quan trọng của người cán bộ QLGD. Đó là lý do tại sao tôi chọn đề tài   “  một số  thực trạng và biện pháp giáo dục đạo đức học sinh  ở  trường   trung học cơ  sở  Nguyễn Hữu Thọ”  làm đề  tài nghiên cứu khoa học giáo  dục cho đợt TTSP1 này. Góp phần nhỏ bé vào việc giáo dục con người mới   XHCN. 2. Cơ sở thực tiễn Trong nhà trường hiện nay, đối tượng học sinh làm cho thầy cô giáo trăn  trở  nhiều nhất là việc học sinh đạo đức chưa được tốt. Bên cạnh đó, trong  lớp vẫn có những học sinh ngoan, tự lo cho bản thân mình, xây dựng tập thể  lớp để  tập thể  lớp tiến kịp với các bạn, để  đạt được những chỉ  tiêu của  trường đề ra. Vì vậy, để góp phần cùng với nhà trường trong công tác giáo dục học  sinh tốt hơn nữa, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “ một số thực trạng và biện   Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 1 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  2. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ pháp giáo dục đạo đức học sinh  ở  trường THCS Nguyễn Hữu Thọ” trình  bày một số quan điểm của mình về việc giáo dục đạo đức học sinh. II. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề nhằm đánh giá được thực trạng của công tác giáo dục đạo  đức học sinh ở trường THCS, thông qua đó đề ra biện pháp giáo đạo dức học  sinh một cách có hiệu quả giúp cho các em trở thành những người tốt trong xã   hội. III. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu một số  vấn đề  về   sơ  sở  lý luận giáo dục đạo đức, tiến  hành điều tra thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh, phân tích  nguyên nhân, tìm ra những yếu tố  liên quan đến công  tác giáo dục đạo đức  học sinh để từ đó đề  ra biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai   đoạn hiện nay. IV. Đối tượng và khách thể Nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS V. Phương pháp viết thu hoạch 1. Phương pháp nghiên cứu lý luận Trên cơ  sở  những kiến thức về  tâm lý, giáo dục học và những quan  điểm đường lối của Đảng, các văn bản của Bộ  giáo dục và Đào tạo về  đánh giá  xếp loại, khen thưởng và kỷ luật học sinh. 2. Phương pháp quan sát Nhìn nhận lại thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh của  trường trong năm học. Đưa ra một số biện pháp về việc thực hiện công tác  giáo dục đạo đức cho học sinh của trường trong giai đoạn hiện nay. Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 2 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  3. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ B. PHẦN NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Trong tất cả  các mặt giáo dục đạo đức giữ  một vị  trí hết sức quan  trọng. Vì Hồ Chủ Tịch đã nêu: “ dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả  tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu  không có đạo đức Cách mạng thì có tài cũng vô dụng ” Trong nhà trường  THCS, giáo dục đạo đức là mặt giáo dục phải được đặc biệt coi trọng, nếu  công tác này được coi trọng thì chất lượng giáo dục toàn diện sẽ  được  nâng lên vì đạo đức có mối quan hệ  mật thiết với các mặt giáo dục khác.   Để  thực hiện những yêu cầu về  nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh  trong trường THCS thì vai trò của cấu trúc và nội dung chương trình môn  giáo dục công dân cũng góp phần không nhỏ  đối với công tác này. Quá  trình  dạy học chủ yếu được tiến hành bằng các giờ học trên lớp; còn quá  trình giáo dục đạo đức không chỉ bó hẹp trong giờ lên lớp mà nó được thể  hiện thông qua tất cả các hoạt động có thể có trong nhà trường . Giáo dục  đạo đức là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi phải có công phu, kiên   trì, liên tục và lặp đi lặp lại nhiều lần 1. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS 1.1. Những nhiệm vụ của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ­ Hình thành cho học sinh ý thức các hành vi ứng xử của bản thân phải   phù hợp với lợi ích xã hội; giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức   các chuẩn mực đạo đức được quy định. ­ Biến kiến thức đạo đức thành niềm tin, nhu cầu của mỗi cá nhân để  đảm bảo các hành vi cá nhân được thực hiện. Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 3 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  4. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ ­ Bồi dưỡng tình cảm đạo đức, tính tích cực và bền vững, và các   phẩm chất ý chí để  đảm bảo cho hành vi luôn theo đúng các yêu cầu đạo  đức. ­ Rèn luyện thói quen hành vi đạo đức để  trở  thành bản tính tự  nhiên  của mỗi cá nhân và duy trì lâu bền thói quen này. ­ Giáo dục văn hóa  ứng xử  đúng mực thể  hiện sự  tôn trọng và quý   trọng lẫn nhau của con người. 1.2 Những nguyên tắc giáo dục đạo đức cho học sinh ­ Giáo dục học sinh trong thực tiễn sinh động của xã hội ­ Giáo dục theo nguyên tắc tập thể ­ Giáo dục bằng cách thuyết phục và phát huy mạnh mẽ  tính tự  giác  của học sinh. ­ Giáo dục đạo đức cho học sinh phải lấy việc phát huy  ưu điểm là  chính để  thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi người thầy phải hết sức trân  trọng những mặt tốt, những thành tích của học sinh dù chỉ  là những thành   tích nhỏ, dùng những gương tốt của học sinh trong trường và những tấm  gương người tốt việc tốt khác để giáo dục các em. a) Phải tôn trọng nhân cách học sinh, đồng thời đề  ra yêu cầu ngày  càng cao đối với học sinh. Tôn trọng học sinh, thể hiện lòng tin đối với học sinh là một yếu tố  tinh thần có sức mạnh động viên học sinh không ngừng vươn lên  rèn luyện  hành vi đạo đức. Khi học sinh tiến bộ về đạo đức cần kịp thời có yêu cầu   cao hơn để thúc đẩy các em vươn lên cao hơn nữa. Trong công tác giáo dục đòi hỏi người thầy phải yêu thương học sinh   nhưng phải nghiêm với chúng, nếu chỉ  thương mà không nghiêm học sinh   sẽ nhờn và ngược lại thì các em sẽ sinh ra sợ sệt, rụt rè, không dám bộc lộ  Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 4 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  5. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ tâm tư tình cảm, do đó người thầy không thể uốn nắn tư tưởng, xây dựng   tình cảm đúng đắn cho học sinh được. b) Giáo dục đạo đức phải phối hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh   THCS và đặc điểm hoàn cảnh cá nhân học sinh Công tác giáo dục đạo đức cần phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý  của học sinh THCS là quá độ, phức tạp và nhiều mâu thuẩn để từ  đó hình  thức, biện pháp thích hợp. Muốn vậy người thầy phải sâu sát học sinh,   nắm chắc từng em, hiểu rõ cá tính để  có những biện pháp giáo dục phù  hợp. c) Trong công tác giáo dục đạo đức, người thầy cần phải có nhân cách   mẫu mực và phải đảm bảo sự thống nhất giữa các các ảnh hưởng giáo dục  đối với học sinh 2. Các phương  pháp giáo dục đạo đức ở trường THCS 2.1. Phương pháp thuyết phục ­ Giảng giải về đạo đức: được tiến hành trong giờ dạy môn giáo dục  công dân cũng như trong các giờ học môn khác, giờ sinh hoạt lớp, sinh hoạt  dưới cờ… ­   Nêu   gương   người   tốt,   việc   tốt   bằng   nhiều   hình   thức   như:   nói  chuyện, kể  chuyện, đọc sách báo, mời những người có gương phấn đấu  tốt đến nói chuyện, nêu gương tốt của giáo viên và học sinh trong trường. ­ Trò chuyện với học sinh hoặc nhóm học sinh để khuyến khích động  viên những hành vi cử  chỉ  đạo đức tốt của các em, khuyên bảo, uốn nắn   những mặt chưa tốt. 2.2. Phương pháp rèn luyện Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 5 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  6. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ ­ Rèn luyện thói quen đạo đức thông qua các hoạt động cơ  bản của  nhà trường: dạy học trên lớp, lao động, hoạt động xã hội đoàn thể  và sinh  hoạt tập thể. ­ Rèn luyện đạo đức thông qua các phong trào thi đua trong nhà trường  là biện pháp tác động tâm lý rất quan trọng nhằm thúc đẩy các động cơ  kích thích bên trong của học sinh, làm cho các em phấn đấu vươn lên trở  thành người có đạo đức tốt. ­ Rèn luyện bằng cách chuyển hướng các hoạt động của học sinh từ  hoạt động có hại sang hoạt động có ích, phương pháp này dựa trên đặc tính  ham hoạt động của trẻ và được dùng để giáo dục học sinh bỏ một thói hư  xấu nào đó bằng cách gây cho học sinh hứng thú với một hoạt mới bổ ích,   lôi kéo trẻ ra ngoài những tác động có hại. 2.3. Phương pháp thúc đẩy ­ Những nội quy, quy chế trong nhà trường vừa là những yêu cầu với   học sinh, vừa là những điều lệnh có tính chất mệnh lệnh đòi hỏi học sinh  tuân theo để có những hành vi đúng đắn theo yêu cầu của nhà trường. ­ Khen thưởng: là tán thành, coi trọng, khích lệ những cố gắng của học   sinh làm cho bản thân học sinh đó vươn lên hơn nữa và động viên khuyến  khích các em khác noi theo. ­ Xử phạt : là phê phán những khiếm khuyết của học sinh, là tác động  có tính chất cưỡng bách đến danh dự lòng tự trọng của cá nhân học sinh để  răn đe những hành vi thiếu đạo đức và ngăn ngừa sự tái phạm của học sinh  đó và những học sinh khác.  II . Thực trạng về vấn đề nghiên cứu 1. Đặc điểm chung về địa phương và trường THCS Nguyễn Hữu  Thọ: Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 6 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  7. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ 1.1 Vài nét về địa phương: 1.1.1 Đặc điểm tự nhiên: a) Vị trí địa lý Xã  Bình Kiến là một xã nằm về phía Tây Bắc của TP. Tuy Hòa Tỉnh   Phú Yên, được thành lập theo nghị định số 95/ND­CP ngày 10 tháng 10 năm  2003 về  việc điều chỉnh địa giới hành chính thành lập xã Bình Kiến và  Phường 9. Vị trí địa lý: +Phía Bắc giáp xã An Phú +Phía Năm giáp Phường 9 + Phía Tây giáp xã Hòa KIến + Phía Đong Giáp Biển đông Về hành chính có 4 thôn gồm” + Thôn Liên Trì 1 + Thôn Liên Trì 2 + Thôn Phú Vang + Thôn Thượng Phú b) Diện tích tự  nhiên Tổng diện tích tự  nhiên: 12,72 km2  (1.272,03 ha). Trong đó diện tích  sản xuất  nông nghiệp 789,88 ha, đất phí nông nghiệp 374,95 ha, đất chưa   sử dụng 107,20 ha. c) Đặc điểm tình hình Có dạng xen kẽ giữa đồng bằng, đồi núi và cồn cát ven biển. Trên địa  bàn có núi Chóp chài cao 391m, khu đồng ruộng nằm  ở  phía Tây Bắc, địa  hình thấp trũng cao độ  từ  ­2 đến 0,7m, thấp nhất là xứ  đồng Bầu cả, xứ  đồng Liên trì nằm về phía Đông của xã, kéo dài theo hướng Đông Nam, địa   Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 7 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  8. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ hình thấp, cao độ  từ   ­0,2 m đến 1,5m, khu vực ven quốc lộ  1A và đường  sắt cao độ địa hình phổ biến từ 5m đến 10m. Khu vực cồn cát ven biển cao  độ từ 5 đến 30m. 1.1.2 Nhân lực Tổng số hộ: 2262 hộ (năm 2011). Năm 2014: 2294 hộ. Nhân Khẩu: Dân số  trung bình năm 2011 là 8215 người, năm 2014 là  8294 người. Trong đó, nam là 4025 người, nữ 4190 người. Số người lao động trong độ tuổi: 3580 người. Trong đó: ­Theo giới tính: Nam: 1757 người, Nữ: 1823 người. ­ Trình độ  văn hóa: cấp 1 có 1520 người, cấp 2 có 1400 người, cấp 3   có 660 người. ­ Trình độ chuyên môn: +Chưa qua đào tạo nghề: 2384 người (66,59% tổng số lao động) + Sơ cấp hoặc có chứng chỉ nghề: 895 người (25% tổng số lao động). + Trung cấp, Cao đẳng và Đại học: 286 người (8% tổng số lao động). + Trên Đại học 15 người (0,41% tổng số lao động) ­ Số lao động trong độ tuổi đang lao đông tại: + Địa phương: 3200 người. + Ngoài địa phương: 190 người. + Số lao động không có việc làm: 190 người (5,3% tổng số lao động) 1.2 Đặc điểm chung của trường học kỳ I (2014­2015) Tình hình giáo dục của xã những năm qua có nhiều chuyển biến tốt,   người dân bắt đầu có sự  quan tâm đến giáo dục. Hệ  thống trường lớp có   nhiều phát triển. Năm học 2014 ­2015 trường đã xây dựng thêm 1 phòng  học mới gồm 2 phòng học chức năng, 3 phòng thí nghiệm và 1 văn phòng.  Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 8 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  9. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ Tổng số giáo viên của trường là 42 người, đáp ứng đủ cho việc phân công  giảng dạy. 1.2.1 Biên chế giáo viên và trường lớp: a) Biên chế giáo viên ­Tổng số cán bộ giáo viên: 42 giáo viên (nữ 29). ­ Tổng số đạt chuẩn Cao đẳng sư phạm: 42/42 đạt tỉ lệ 100% (nữ 29). ­ Số giáo viên trên chuẩn: 25/42 đạt tỉ lệ 54,3% (nữ 18). ­ Số  cán bộ  giáo viên có trình độ  A Tin học: 42/42 đạt tỉ  lệ  100%.   Trong đó trình độ B trở lên: 10 người. ­ Số  cán bộ  giáo viên có trình độ  A Anh văn: 40/42 đạt tỉ  lệ  95,2%.  Trong đó trình độ B trở lên: 16 người. ­ Số cán bộ giáo viên có chứng chỉ thiết kế giáo án điện tử: 42/42 đạt   tỉ lệ 100%. b) Trường lớp Tổng số lớp 16 lớp (mỗi khối gồm 4 lớp). Tổng số học sinh: 532 học sinh. Trong đó, khối 6 có 140 HS, khối 7 có  142 HS, khối 8 có 131 HS, khối 9 có 119 HS. 1.2.2 Những thuận lợi ­ Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền địa phương xã   Bình Kiến. ­ Trường có 1 chi bộ giáo dục gồm 18 đồng chí. ­ Đội ngũ cán bộ giáo viên được đào tạo hoàn chỉnh, phần lớn là người   địa phương, có kinh nghiệm trong giảng dạy, nhiệt tình đoàn kết giúp đỡ  nhau trong lĩnh vực hoạt động. 1.2.3 Những khó khăn Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 9 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  10. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ ­ Trình độ học sinh không đồng đều giữa các thôn ở địa phương. ­ Thực hiện viêc chuẩn bị bài học ở nhà của học sinh còn hạn chế. ­ Công trình đang xây dựng nên cũng ảnh hưởng đến sinh hoạt khác. 2. Một số kết quả đạt được trong khi nghiên cứu: Được sự  quan tâm chỉ  đạo sâu sắc của Đảng  ủy, UBND, sự  hỗ  trợ  nhiệt tình các ban ngành đoàn thể  địa phương. Được sự  quan tâm chỉ  đạo  kịp thời của Phòng giáo dục và đào tạo TP Tuy Hòa. Đội ngũ cán bộ và giáo  viên của trường đều qua trường lớp sư phạm chính quy từ chuẩn đến trên  chuẩn về  chuyên môn nghiệp vụ. Trong những năm gần đây, vấn đề  dạy  và học môn GDCD đã và đang đổi mới và là một trong những môn có   chuyển biến mạnh mẽ về đổi mới phương pháp dạy học, dạy học đạo đức  thông qua bộ môn GDCD được xác định là một nhiệm vụ quan trọng, là đòi  hỏi cấp bách của xã hội đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục phổ  thông. Chương trình Sách giáo khoa GDCD mới có nhiều đổi mới về  mục   tiêu, cấu trúc, sự đổi mới này rất thích hợp cho giáo viên giảng dạy bộ môn  GDCD cho học sinh. Thông qua bài học học sinh có thể  tự  hoạt động tích  cực, chủ  động sáng tạo tìm tòi phát hiện và chiếm lĩnh nội dung bài học.  Được sự  đồng tình của xã hội, nhất là các bậc Cha mẹ  học sinh tích cực    phối hợp cùng với nhà trường   trong công tác giáo dục đạo đức cho học  sinh. 3. Một số tồn tại của thực trạng/ thực tiễn nghiên cứu Một số  em học sinh  ở nhà, thường có hành vi đạo đức không tốt. Tuy  nhiên thực tế  việc dạy và học môn giáo dục công dân ở  trường còn nhiều   khó khăn, bất cập nên hiệu quả  giáo dục của môn học còn thấp, số  học   sinh dưới trung bình còn cao. Cha mẹ học sinh vẫn xem GDCD là môn học   phụ. Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 10 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  11. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ 4 Nguyên nhân của vấn đề 4.1 Nguyên nhân chủ quan: Lứa tuổi học sinh THCS là lứa có đặc điểm tâm sinh lý hết sức điển   hình. Đây là thời kỳ các đặc điểm tâm sinh lí của các em có sự chuyển biến  mạnh mẽ, và trong giai đoạn đang phát triển. Vì vậy ở lứa tuổi này thường  thấy  ở  các em sự  vụng về, tự  ái, phản  ứng nhạy bén , hành động bồng   bột,... Những đặc điểm tâm lý, trình độ  hiểu biết, vốn sống của học sinh  THCS còn nhiều hạn chế. 4.2 Nguyên nhân khách quan: Xu thế đất nước đang hội nhập, nền kinh tế thị trường phát triển kéo   theo xã hội có nhiều tiêu cực. Lứa tuổi THCS lại có nhân cách đang hình  thành và phát triển cho nên các em dễ bị dụ dỗ lôi cuốn theo những tiêu cực   xã hội. Môi trường sống xung quanh các em luôn vận động và biến đổi hằng   ngày. Các em cũng dễ bị ảnh hưởng ít nhiều. Sự quan tâm của gia đình đến việc học tập và rèn luyện đạo đức của  các em còn lơ là. Chất lượng giáo dục một phần cũng  ảnh hưởng đến công tác chủ  nhiệm ở trường THCS. c)   Việc   giảng   dạy   chương   trình   môn   GDCD   của   trường   THCS   Nguyễn Hữu Thọ. Trường đã tổ  chức thực hiện giảng dạy môn giáo dục  công dân đầy đủ  theo đúng quy định của chương trình, có lồng ghép giáo  dục pháp luật vào bộ  môn. Nguyên nhân: thực trạng trên do nhiều nguyên  nhân, trong đó có những nguyên nhân chủ yếu sau:  Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 11 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  12. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ ­ Trường chỉ  có một giáo viên dạy GDCD 8 lớp, nên có nhiều khó  khăn về  phương pháp, về  soạn giảng và nghiên cứu, rút kinh nghiệm giờ  dạy, chủ yếu chỉ đầu tư vào môn chính mình được đào tạo.  ­ Tâm lý chung của mọi người trong đó có Cha mẹ học sinh cho rằng   đây là môn học phụ, kết quả học tập không quan trọng lắm, vì chưa chú ý  động viên con em tích cực học tập. 5. Một số vấn đề cấp thiết cần đặt ra phải giải quyết Tình trạng học sinh vắng học không phép hoặc có phép nhưng không  phải do chính tay phụ huynh viết đang có xu hướng tăng lên. Một số học sinh có hành vi vô lễ với thầy (cô) giáo như: nói nhái lại,   có thái độ không tôn trọng thầy cô, thái độ đối phó, nói leo… Một vài trường hợp học sinh tụ tập với thanh niên bên ngoài đóng trên  địa bàn đi chơi: game online, gây gỗ  đánh nhau…dẫn đến tình trạng trốn  học không muốn đến trường. Một điều không thể không kể đến đó là trong giờ học học sinh không  chú ý nghe giảng: vì nói chuyện riêng quá nhiều. Thầy cô có nhắc nhỡ  nhưng một số vẫn cố tình hay phất lờ đi lờ đi. Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 12 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  13. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ III.   Các   biện   pháp/giải   pháp   giáo   dục   đạo   đức   cho   học   sinh   của   trường THCS Nguyễn Hữu Thọ thông qua môn GDCD 1. Ý nghĩa Môn GDCD có vai trò, vị  trí rất quan trọng trong giáo dục nhân cách  học sinh, đặc biệt trong việc xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân cho  học sinh THCS, vì thông qua các bài học người giáo viên sẽ  trang bị, hình   thành cho học sinh những phẩm chất, những chuẩn mực, hành vi đạo đức   cần thiết trong cuộc sống một cách có hệ  thống, đúng phương pháp, đúng   quy trình. Trong thực tế  hiện nay của trường môn GDCD chưa được xem  trọng, chưa có vị  trí vai trò xứng đáng cần phải có trong nhà trường. Việc   đưa ra những biện pháp để nâng cao vai trò, vị  trí và chất lượng giảng dạy  môn GDCD ở trường THCS  Nguyễn Hữu Thọ nghĩ đến công tác giáo dục  đạo đức cho học sinh. 2. Nội dung 2.1 Giáo viên là lực lượng quyết định việc nâng cao chất lượng giáo  dục,   do   đó   giáo   viên   phải   thường   xuyên   được   bồi   dưỡng   chuyên   môn  nghiệp vụ, phải có nhận thức đúng đắn về  vai trò, vị  trí của môn GDCD,  phải xác định được trách nhiệm của bản thân, chú trọng đầu tư  cho giảng   dạy. 2.2. Ban giám hiệu, giáo viên dạy môn GDCD cần quán triệt mục tiêu  môn học  trong quá trình dạy học. Phải nắm rõ cái đích cuối cùng cần đạt   được trong dạy học GDCD là hành động phù hợp với  các các chuẩn mực  đạo đức, pháp luật. Nếu học sinh không có chuyển biến trong hành động  thì việc dạy học không đạt hiệu quả. 2.3. Chương trình môn GDCD là sự nối tiếp việc dạy và học môn đạo   đức ở tiểu học, đồng thời chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên trên hoặc  đi vào cuộc sống lao động. Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 13 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  14. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ ­ Chương trình được xây dựng theo nguyên tắc phát triển từ thấp đến   cao về  nhận thức và tu dưỡng đạo đức của học sinh trong suốt quá trình  học tập  ở  nhà trường, các hành vi cơ  bản của học sinh được học  ở  tiểu  học sẽ được phát triển thành phẩm chất và bổn phận đạo đức ở THCS. ­ Do đó để nâng cao vai trò vị trí, chất lượng dạy và học môn GDCD   thì Ban giám hiệu và giáo viên dạy GDCD cần phải nghiên cứu quán triệt  đầy đủ tinh thần của chương trình, thường xuyên học tập và nghiên cứu để  nâng cao kiến thức chuyên môn. 2.4. Đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD theo hướng phát huy  tính tích cực và tương tác là một trong những biện pháp quan trọng để nâng  cao vai trò, vị trí và chất lượng dạy và học môn GDCD ở trường THCS ­ Từ những sự đổi mới của chương trình SGK thì việc giảng dạy môn  GDCD  ở  nhà trường đòi hỏi phải thực sự  đổi mới về  phương pháp, quá   trình dạy học phải là quá trình tổ  chức cho học sinh hoạt động. Với sự  hướng dẫn của giáo viên, học sinh tự khám phá và chiếm lĩnh nội dung bài   học, tránh lối dạy thiên về lý thuyết trừu tượng, khô khan áp đặt. ­ Các nội dung giáo dục phải được chuyển tải đến học sinh một cách  nhẹ nhàng, sinh động qua các hoạt động: xây dựng tình huống pháp luật, phân   tích, xử lý các tình huống, các thông tin, sự kiện, liên hệ đánh giá bản thân và   những người khác đối chiếu với các chuẩn mực đã học, điều tra, tìm hiểu,  phân tích đánh giá một số hiện tượng trong đời sống thực tiễn của lớp, của xã  hội. ­ Phối hợp sử dụng thường xuyên các phương pháp dạy học : vấn đáp,  động não, đóng vai, thảo luận nhóm, tổ  chức trò chơi, giải quyết vấn đề,  nghiên cứu trường hợp điển hình, đàm thoại, kể  chuyện, trình bày trực  quan, đề  án, điều tra thực tiễn, báo cáo, nêu gương, khen thưởng, trách  phạt. Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 14 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  15. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ ­ Kết hợp hài hòa giữa việc trang bị kiến thức với bồi dưỡng tình cảm  và luyện tập kỹ năng, hành vi cho học sinh. ­ Dạy học môn GDCD cho học sinh theo tinh thần đổi mới phương  pháp cần thực hiện theo các phương pháp tiếp cận: tiếp cận hoạt động,  tiếp cận cùng tham gia, tiếp cận kỹ năng sống. Việc dạy học môn GDCD   phải gắn liền với việc dạy các môn học khác trong và ngoài nhà trường Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 15 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  16. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ IV. Kết quả  hạnh kiểm học kì 1 năm học  2014­2015 của HS trường  THCS Nguyễn Hữu Thọ Tốt Khá Trung bình Khối lớp Sĩ số SL % SL % SL % Khối 6 140 99 70,7 39 27,9 2 1,4 Khối 7 142 101 71,1 38 26,8 3 2,1 Khối 8 131 65 49,6 60 45,8 6 4,6 Khối 9 119 76 63,9 37 31,1 6 5,0 Toàn trường 532 341 64,1 174 32,7 17 3,2 Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 16 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  17. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ C. RÚT RA BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO  BẢN THÂN Qua kinh nghiệm thực tế giáo dục đạo đức cho học sinh, tôi rút ra  bài học sau: a) Bài học về tư cách giáo viên Muốn giáo dục đạo đức cho học sinh, giáo viên cần phải là người chuẩn  mực,  là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Giáo viên cần phải luôn cân nhắc  thận trọng mọi cử chỉ lời nói, việc làm , không để học sinh có nhận xét  không tốt về thầy cô. b) Bài học về tìm hiểu học sinh: Quá trình tìm hiểu phải kó lưỡng, chính xác và chín chắn. Tìm hiểu về gia  đình, xã hội xung quanh , quan hệ với bạn bè, thực hiện xem học bạ ở các  năm học trước hoặc hỏi thăm giáo viên chủ nhiệm cũ. c) Bài học kinh nghiệm trong giáo dục: Giáo dục học sinh cá biệt không nên nóng vội luôn thể hiện sự thương yêu  học sinh , tin tưởng các em sẽ tiến bộ , có lúc phải xử phạt nghiêm khắc và  tiến bộ. d) Phối hợp: Cần phối hợp chặt chẽ với nhà trường , hội phụ huynh , cha mẹ học sinh .  Không nên giáo dục bằng lí thuyết mà phải nêu gương điển hình để các em  học tập. Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 17 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  18. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ D. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. Kết luận Trong phạm vi nghiên cứu của đề  tài về  giáo dục đạo đức cho học   sinh đã giúp cho đội ngũ giáo viên xác định đúng tầm quan trọng của công   tác giáo dục đạo đức học sinh ở nhà trường để có kế hoạch hoàn chỉnh, có   sự quan tâm đúng mực trong việc giáo dục học sinh, từ đó giúp cho tập thể  sư  phạm của trường thấy được nhiệm vụ  quan trọng này để  ngoài việc  dạy chữ cho tốt còn phải lưu tâm, hết lòng giáo dục các em phát triển toàn   diện cả tài lẫn đức. Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu ngắn, phạm vi nghiên cứu chỉ  là   một trường THCS nhỏ nên có nhiều vấn đề  chưa được phân tích một cách  đầy đủ, các biện pháp đưa ra chưa có tính khả  thi cao, nhưng ít nhiều nó  cũng giúp cho chúng ta thấy được thực trạng của đạo đức học sinh hiện  nay, giúp cho chúng ta định hướng lại một số việc cần phải làm trong thời   gian sắp tới để góp phần thành công vào công tác giáo dục đạo đức cho học   sinh. II. Kiến nghị * Đối với hiệu trưởng ­ Thường xuyên tổ chức họp hội đồng sư phạm triển khai các văn bản  hướng dẫn thực hiện chương trình môn GDCD, quy chế  40 của Bộ  Giáo  dục và Đào tạo về việc đánh giá xếp loại học sinh THCS. ­ Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện chương trình, kiểm tra hồ sơ  sổ sách, giáo án, dự giờ các tiết lên lớp của giáo viên dạy môn GDCD. ­ Đầu tư  mua sắm sách, báo, tài liệu, trang bị  tủ  sách pháp luật, tạo   điều kiện tốt cho giáo viên tham khảo và cập nhật kiến thức phục vụ  giảng dạy bộ môn GDCD. Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 18 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  19. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ ­ Thường xuyên tổ chức thao giảng, hội giảng nhằm đánh giá rút kinh  nghiệm tiết dạy môn GDCD về  phương pháp dạy, kết quả  tiếp thu của   học sinh. Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 19 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam
  20. Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ E. TÀI LIỆU THAM KHẢO ­ Đặng Quốc Bảo (2010), Quản lý Giáo Dục, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà  Nội. ­ Thầy Võ Lam Dung (2014), “ Báo cáo tình hình tổ chức và hoạt động   nhà trường và địa phương”, Trường THCS Nguyễn Hữu Thọ. Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Quyết 20 Phạm Thị Hồng Tuyết Phạm Thị Ngọc Lam

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản