intTypePromotion=1

Báo cáo thực tập :Thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo cho người nông dân nông thôn xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh

Chia sẻ: Ngô Văn đại đại | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:28

3
702
lượt xem
268
download

Báo cáo thực tập :Thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo cho người nông dân nông thôn xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Huyện Cẩm Xuyên phía nam của huyện giáp huyện Kỳ Anh, phía bắc giáp thị xã Hà Tĩnh và huyện Thạch Hà, phía tây giáp huyện Hương Khê và một phần tỉnh Quảng Bình, phía đông giáp biển Đông.Tất cả những tên xã hiện nay được thay đổi từ sau 1945 đến 1960 khác với các tên trước đây ví dụ vùng nam Cẩm Xuyên gồm các tổng cũ là Đan xuyên, Hoa Dục v.v... Các tên làng xóm ngày xưa cũng được thay đổi theo từng thới kỳ "khắc xuất" "khắc nhập" của hợp tác xã thời kỳ bao...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo thực tập :Thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo cho người nông dân nông thôn xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh

  1. TR ƯỜNG............................. KHOA………………….. BÁO CÁO TỐT NGHIỆP THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO NGƯỜI DÂN NÔNG THÔN XÃ CẨM SƠN, HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH 1
  2. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ............................................................................ 4 1. Lý do chọn đề tài............................................................. 4 2.1. Mục đích nghiên cứu ................................................... 6 Chương I. Một số lý luận về xóa đói giảm nghèo............... 8 1.Các khái niệm về nghèo đói............................................. 8 2.Đói nghèo và việc giải quyết đói nghèo trên thế giới. ..... 9 3.Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc xóa đói giảm nghèo........................................................................ 11 Chương II: Phân tích thực trang và nguyên nhân đói nghèo ở xã Cẩm Sơn, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. .............................. 13 Những đánh giá khách quan của cán bộ xã cẩm sơn. ....... 13 các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở xã cẩm sơn, huyện cẩm xuyên, tỉnh hà tĩnh..................................................... 15 2.1. Đói nghèo do trình độ học vấn thấp........................... 15 Chương III : Một số giải pháp và chính sách cụ thể nhằm xoá đói giảm nghèo ở xã Cẩm Sơn, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh20 2.Một số luận điểm và chính sách cụ thể về xóa đói giảm nghèo................................................................................. 21 2
  3. KẾT LUẬN....................................................................... 24 3
  4. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sau khi học xong môn học phát triển văn hóa cộng đồng tôi đã hiểu được tầm quan trọng của môn học. Môn học đã cung cấp cho tôi những hiểu biết và những kiến thức cơ bản về khái niệm, và những vấn đề cơ bản về cơ cấu của cộng đồng. Những đặc tính, yếu tố, xu thế trong sự phát triển cộng đồng. Cung cấp cho tôi nhận biết sự phát triển cộng đồng trong bối cảnh xaxhooij Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó môn học đã cung cấp cho tôi nắm được những nguyên tắc để quản lý sự phát triển xã hội nói chung và văn hóa của từng cộng đồng nói riêng từ đó sinh viên nhận thức mới về nâng cao chất lượng, nguồn nhân lực trong sự phát triển của cộng đồng và hòa nhập của xã hội và có thể căn cứ vào thực tế nghien cứu, lập dự án cho từng cộng đồng cụ thể. Ngày nay với sự phát triển không ngừng của xã hội, con người có những đòi hỏi cao hơn về nhu cầu ăn mặc, nhà ở và vui chơi giải trí…Nhưng với tình hình chung của Việt Nam ở nông thôn, miền núi và thu nhập chủ yếu của họ là từ sản xuất nông nghiệp. Trước tình hình đó, vấn đề quan trọng hàng đầu được đặt ra cho nước ta là xóa đói giảm nghèo, nhằm mục đích xóa dần khoảng cách giữa người nghèo và người giàu, cải thiện chất lượng cuộc sống cho nhân dân. Trong nhiều năm qua với những nổ lực không ngừng Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan trong việc xoá đói, giảm nghèo. Gần 20 năm đổi mới nhà nước ta đã tìm ra những chính sách phù hợp với từng địa phương và thực hiện chúng một cách có hiệu quả. Điển hình là 5 năm gần đây (2001-2005) tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, 17, 2% (2001) với 4
  5. 2, 8 triệu hộ xuống 8, 3% (2004) với 1, 44 triệu hộ. Như vậy trung bình hàng năm nước ta giảm được 34 vạn hộ và tỉ lệ này tiếp tục giảm còn 7% với 1, 1 triệu hộ (2005).t heo chuẩn nghèo mới qui định cho những người sống ở vùng nông thôn có thu nhập từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống đó là những hộ nghèo. Đối với khu vực thành thị thì cao hơn vùng nông thôn là 60.000đồng/người/tháng trở xuống được coi là hộ nghèo. Từ quy định này cả nước ta ước tính khoảng 3, 9 triệu hộ nghèo với tỷ lệ là 22% so với tổng số hộ trong cả nước (2005). Ngày nay khái niệm đói nghèo đã được nhân thức rằng không phải chỉ có sự gia tăng về sản lượng cuả nền kinh tế mà còn bảo hàm cả sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội, không ngừng cải thiện đời sống và nâng cao phúc lợi xã hội cho nhân dân. Chính vì vậy công bằng xã hội và xoá đói giảm nghèo là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bền vững. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách, giải pháp tích cực cho sự phát triển toàn diện của đất nước. Trong văn kiện Đại hội Đảng VIII đã nêu “ Qua thực hiện 10 năm đỏi mới, chúng ta đã nhận thức rõ là không chờ kinh tế phát triển mới giải quyết các vấn đề xã hội mà ngay trong suất quá trình phát triển kinh tế - xã hội tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn với tiến bộ và công bằng xã hội”. Cẩm sơn là một xã nghèo thuộc huyện cẩm xuyên ,Tỉnh Hà Tĩnh với 2.890 hộ trong toàn xã, có 406 hộ nghèo chiếm 11, 69% (2005).trước tình hình đó chính quyền địa phương cũng có những chính sách nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân trong 6 năm (2005-2010), góp phần cải thiện cuộc sống của họ, đồng thời làm thay đổi bộ mặt nông thôn của xã. Tuy nhiên để làm được điều này không phải là chuyện một sớm, một chiều, thực tế những vấn đề khó khăn thuận lợi mà xã gặp phải khi thực hiện việc xóa đói, giảm nghèo trong các năm qua đã chứng minh rõ điều này. 5
  6. Là một sinh viên đang theo học ngành quản lý văn hóa tôi nhận thấy rằng việc tìm hiểu về xóa đói giảm nghèo ở một xã cụ thể nào đó là một việc rất cần thiết vì qua việc tìm hiểu đó nó hình thành động cơ cho người học tìm tòi,nâng cao trình đọ tự trang bị kiến thức vè lý luận và thực tiễn khi còn ngồi trên ghế nhà trường Đại Học Sư Phạm Nghệ Thuật Trung ương. Chính vì những lý do trên tôi chọn đề tài tiểu luận: “THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO NGƯỜI DÂN NÔNG THÔN XÃ CẨM SƠN, HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH”. 2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề chung về công tác Xóa Đói Giảm Nghèo , vị trí của công tác Xóa Đói Giảm Nghèo trong đời sống xã hội để đưa ra được những nội dung, phương hướng giải quyết cụ thể để cho công tác Xóa Đói Giảm XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH đạt được hiệu quả cao và đến với được từng đối tượng cần trợ giúp trong những năm tiếptheo của XÃ CẨM SƠN, HUYỆN CẨM XUYÊN ,TỈNH HÀ TỈNH. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu -Tìm hiểu và làm rõ thực trạng và nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở XÃ CẨM SƠN, HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH. -Làm rõ nội dung các chương trình, dự án trợ giúp cho người nghèo và mối quan hệ giữa các chương trình, dự án. -Công tác xoá đói giảm nghèo ở xã cẩm sơn cùng với sự tham gia của các chủ thể. 6
  7. -Những nhận xét, đánh giá về công tác XĐGN xã cẩm sơn giai đoạn 2001- 2005 và đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm đảm bảo cho công tác XĐGN, được đi sâu, đi sát với cuộc sống của hộ gia đình cần sự hỗ trợ và đạt được hiệu quả cao, góp phần vào công tác XĐGN của cả nước. 3. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng đói nghèo xã cẩm sơn 3.2. Phạm vị nghiên cứu: Đề tài không trình bày toàn bộ thực trạng nghèo đói ở xã cẩm sơn mà chỉ tập trung vào phân tích thực trạng đói nghèo ở xã và các biện pháp 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được triển khai nghiên cứu và trình bày dựa trên một số môn học như: Triết học Mác – Lê Nin, Kinh tế lao động, phân tích lao động xã hội, dân số phát triển, quản trị nhân lực… được dùng làm cơ sở lý luận. Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác là: Phân tích tổng hợp, nghiên cứu tài liệu, gắn lý luận vói thực tiễn trong quá trình nghiên cứu.. 5 Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tham khảo đề tài gồm 3 chương: Chương I .Một số lý luận về xóa đói giảm nghèo Chương II: Phân tích thực trang và nguyên nhân đói nghèo ở xã Cẩm Sơn, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Chương III: Một số giải pháp và chính sách cụ thể nhằm xoá đói giảm nghèo ở ở xã Cẩm Sơn, Cẩm Xuyên, H 7
  8. Chương I. Một số lý luận về xóa đói giảm nghèo 1.Các khái niệm về nghèo đói “ Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”.(Nguồn: Báo cáo Hội nghị nghèo đói ESCAP năm 1993) Qua nghiên cứu khái niệm và thực tế của tình trạng nghèo đói ta thấy có 3 vấn đề lưu ý: Thứ nhất, Nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội. Thứ hai, Nghèo đói thay đổi theo thời gian: Thước đo nghèo đói sẽ thay đổi theo thời gian, kinh tế càng phát triển, nhu cầu cơ bản của con người cũng sẽ thay đổi theo và có xu hướng ngày một cao hơn. Thứ ba, Nghèo đói thay đổi theo không gian: Thông qua định nghĩa này cũng chỉ cho thấy sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia; từng vùng. Xu hướng chung là các nước càng phát triển ngưỡng đo nghèo đói càng cao. Theo Ngân hàng thế giới: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất, nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực. 8
  9. Qua các nghiên cứu và khái niệm đưa ra về nghèo đối, nghèo được bao gồm: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. + Nghèo tuyệt đối: theo ông Robert McNama khi là giám đốc của Ngân hàng thế giới, đã đưa ra khái niệm như sau: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta." + Nghèo tương đối: Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc và sự xác định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng lớn. Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng. 2.Đói nghèo và việc giải quyết đói nghèo trên thế giới. Cho đến hôm nay, đói nghèo vẫn là nỗi ám ảnh thường trực đối với cả loài người. Thế giới đã chứng kiến những thảm họa của chiến tranh, thảm họa 9
  10. của thiên tai, dịch bệnh với bao nỗi kinh hoàng. Thế nhưng hậu quả do những nạn đói gây ra cũng vô cùng khủng khiếp. Điều đáng sợ hơn nữa là: Nếu như các cuộc chiến tranh dù khốc liệt vô cùng nhưng rồi trước sau cũng được giải quyết, nếu như những thảm họa do thiên tai, dịch bệnh gây ra từng bước cũng sẽ được khắc phục thì vấn đề nghèo đói của nhân loại lại là một vấn đề vừa cấp bách, vừa phức tạp lại như một căn bệnh kinh niên khó bề chạy chữa. Đói nghèo là nỗi bất hạnh và là một phi lý lớn. Trong khi nền văn minh thế giới đã đạt được những thành tựu hiển nhiên về tiến bộ khoa học - công nghệ, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng thêm vượt bậc sự giàu có cho con người, thì thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lưng con người lại vẫn là sự nghèo đói. Hàng tỷ người, thực tế là một phần ba số dân thế giới vẫn khốn cùng và đói khát. Thiệt thòi lớn nhất là trẻ em. Hằng ngày có gần 100 triệu trẻ em không có cái ăn, trên 100 triệu trẻ em vô gia cư chỉ sống nhờ của bố thí hoặc sống dựa vào sự lao động quá sức, kể cả bằng các nghề đặc biệt là móc túi, mại dâm; trên 50 triệu trẻ em làm việc trong những ngành có hại; hàng trăm triệu trẻ em tuổi từ 6 - 11 không được cắp sách đến trường. Đói nghèo diễn ra trên tất cả các châu lục với những mức độ khác nhau. Đặc biệt ở các nước đang phát triển, sự đói nghèo của dân cư đang là một vấn đề nhức nhối rất cấp bách phải tháo gỡ nhưng cũng vô cùng khó khăn trong việc thực hiện xóa đói giảm nghèo. Sự nghèo đói thì ai cũng thấy và không nước nào thiếu những chương trình hoặc những chính sách để thực hiện việc xóa đói giảm nghèo. Có rất nhiều các tổ chức của Liên Hợp Quốc và của cộng đồng quốc tế thực hiện sứ mệnh vẻ vang này trên phạm vi hành tinh. Người ta đã tổ chức những chiến dịch lớn với hàng vạn tấn lương thực, hàng triệu USD để cứu giúp những người hoạn nạn ở các nước châu Phi, châu Á 10
  11. hoặc như ở Haiti vừa qua. Sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần là rất đáng kể. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, dù đây là công việc mà toàn cầu quan tâm nhưng rồi các nước đói vẫn hoàn đói, sự trợ giúp của cộng đồng đối với một bộ phận dân cư khốn khó cũng chỉ như muối bỏ biển, chưa đủ độ, chưa triệt để. Vấn đề xóa đói giảm nghèo luôn gắn bó và chịu ảnh hưởng của quan hệ giai cấp và các chế độ xã hội khác nhau. Hiện tượng bị tha hóa và tự tha hóa con người dưới chế độ tư bản chủ nghĩa luôn là một lực cản đối với công việc xóa đói giảm nghèo. Chính xã hội, mà mục tiêu duy nhất và cuối cùng là lợi nhuận, là tiền bạc đã làm phân hóa xã hội, đẩy nhiều người vào cảnh nghèo nàn khốn khó. Khoảng cách chênh lệch mức sống giữa sự xa xỉ với sự bần hàn càng bị nặng nề hơn bởi chính sự vô trách nhiệm của các nước phát triển phương Tây, của giai cấp những người giàu có. Thái độ “sống chết mặc bay” vẫn phổ biến trong hành vi cư xử ở xã hội của những kẻ say lợi nhuận. Vì vậy, quan điểm cũng như hành động của giới chức phương Tây trong việc giải quyết nghèo đói trên thế giới hiện nay chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp, chỉ là để làm giảm cơn đau khốn khó, hoặc cùng lắm đó là việc làm mang tính nhân đạo mà thôi. 3.Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc xóa đói giảm nghèo Đảng ta coi cơ sở phương pháp luận quan trọng và cơ bản nhất để phân tích vấn đề đói nghèo và xóa đói giảm nghèo là giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, thực hiện công bằng xã hội. Chủ nghĩa xã hội là quá trình kiến tạo hạnh phúc và cũng là quá trình đấu tranh vì sự công bằng, đấu tranh để thủ tiêu nguồn gốc bất công xã hội.Ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một trong những nhiệm vụ đầu 11
  12. tiên mà Bác Hồ đã chỉ đạo là chống giặc đói. Vấn đề công bằng xã hội - vấn đề có quan hệ trực tiếp và quyết định đối với việc xóa đói giảm nghèo đã đưoc Đảng ta luôn quan tâm chú ý. Những đại hội Đảng gần đây, từ Đại hội VI đến Đại hội X, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, nhiều văn bản đề cập tới vấn đề công bằng xã hội. Chúng ta hiểu công bằng xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển. Công bằng xã hội không bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế mà liên quan tới tất cả các lĩnh vực kinh tế - chính trị - pháp luật - văn hóa - xã hội. Công bằng xã hội phải được giải quyết và chỉ có thể được giải quyết gắn liền với sự phát triển sản xuất, xây dựng xã hội thực sự dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Công bằng xã hội đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực trong nhân dân, xã hội hóa nhiệm vụ đền ơn đáp nghĩa, xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở vừa tăng nhanh tốc độ phát triển, vừa giảm dần sự mất cân đối giữa các vùng; giảm dần khoảng cách về thu nhập, mức sống, hưởng thụ giáo dục, văn hóa, bảo vệ sức khỏe của các tầng lớp dân cư ở các vùng khác nhau. Đặc biệt, công bằng xã hội đòi hỏi phải thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội. Trong các văn kiện quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề xóa đói giảm nghèo được nhiều lần đề cập tới. Để bảo đảm và hướng tới công bằng xã hội, Đảng ta khẳng định “khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp đi đôi với chăm lo xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, các gia đình thuộc diện chính sách, làm cho mọi người, mọi nhà đều tiến tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, ai cũng có việc làm, có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành và chữa bệnh, từng bước thực hiện điều 12
  13. Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước”. Trong quá trình thiết kế, chỉ đạo thi công việc xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở nắm bắt những mặt mạnh và mặt yếu của cơ chế thị trường, Đảng ta đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo: “Để phát triển sức sản xuất, cần phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, thừa nhận trên thực tế còn có bóc lột và sự phân hóa giàu nghèo nhất định trong xã hội, nhưng phải luôn quan tâm, bảo vệ lợi ích của người lao động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp, vừa coi trọng xóa đói, giảm nghèo, từng bước thực hiện công bằng xã hội, tiến tới làm cho mọi người, mọi nhà đều khá giả”. Chú trọng đúng mức đến vấn đề đói nghèo trong xã hội, với nhãn quan chính trị nhạy bén và với trách nhiệm cao cả trước nhân dân, Đảng ta đã đưa ra những chương trình rộng lớn để tập trung giải quyết là “Chương trình về xóa đói, giảm nghèo”. Trên cơ sở đó, Nhà nước cũng đã có hàng chục chương trình cấp quốc gia và dự án đang được thực thi có nội dung gắn với xóa đói, giảm nghèo. Chương II: Phân tích thực trang và nguyên nhân đói nghèo ở xã Cẩm Sơn, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Những đánh giá khách quan của cán bộ xã cẩm sơn. Cẩm sơn là một xã vùng sâu của tỉnh hà Tĩnh, thiếu thốn về điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng chưa phát triển nên đường sá giao thông chưa thuận tiện. Người dân trong xã sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, làm thuê, làm mướn, cuộc sống rất bấp bênh. Người giàu không có điều kiện phát triển để giàu thêm người nghèo càng rơi vào cảnh khốn đốn bần cùng. Vậy nguyên nhân từ đâu? Đây là câu hỏi đặt ra cho tất cả mọi người nói chung và các cấp lãnh đạo xã nói riêng. Theo thực tế nhận thấy ở xã, những người nghèo này là những người thiếu vốn sản xuất, đây là nguyên nhân chủ yếu 13
  14. làm cho họ khó có thể thoát nghèo. Thiếu vốn để đầu tư mua vật liệu sản xuất, do đó việc sản xuất của họ không đạt hiệu quả. Không có tiền nên gia đình họ thường lâm vào cảnh thiếu ăn, nhiều gia đình phải chạy gạo từng bữa. Thường công việc hàng ngày của họ là công việc đồng áng, làm các cây hoa màu như trồng dưa, ngô, và các cây ăn quả ngắn ngày. Một ngày thu nhập của họ rất thấp, họ phải lao động từ 5 giờ sáng đến 5 giờ chiều chỉ kiếm được10.000-12.000 đồng từ tiền bán hoa quả và trông chờ từ tiền bán lúa, khi đến mùa vụ thì họ còn có việc làm nhưng hết mùa vụ thì những lúc này họ đành thất nghiệp. Nam thì làm công việc nặng nhọc như bốc vác gỗ, đi củi, làm thợ hồ cho các nhà xây dựng …nhưng công việc thường không ổn định. Cuộc sống vất vả mà cái nghèo vẫn đeo bám, họ không thể đảm bảo cuộc sống cho gia đình họ. Thiếu vốn nên họ thường xuyên đi vay mượn, muốn vay ngân hàng để sản xuất thì không có tài sản thế chấp buộc họ phải vay tư nhân với lãi suất rất cao.Chính vì vậy việc bán công non trong xã là rất phổ biến. Cái nghèo như là cái vòng lẫn quẩn cứ trói buộc không bao giờ buông tha họ. Việc kiếm cái ăn cái mặc đã khó có đâu đến việc học hành. Hầu hết những hộ nghèo có trình độ rất thấp nên việc tiếp nhận những kinh nghiệm làm ăn còn rất hạn chế. Họ không biết tính toán trong cách làm ăn cũng như cách chi tiêu trong gia đình. Kinh nghiệm quản lý của họ rất thấp nên khó có thể áp dụng các mô hình sản xuất mới Cuộc sống của họ không được cải thiện. Bên cạnh đó, vấn đề việc làm cũng rất quan trọng. Vào các vụ mùa công việc làm mùa, làm mướn của họ rất bận rộn nhưng kéo dài không được bao lâu. Đa phần thời gian còn lại trong năm là nhàn rỗi, cuộc sống rơi vào đói kém. Nhiều người có tư tưởng buông xuôi cuộc đời cho số phận. Chính điều này đã kéo theo những tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, số đề, đá gà…làm những việc vi phạm pháp luật. Một số khác di cư lên các thành phố lớn như thành phố HỒ Chí Minh vào các nha may mặc, nhưng với 14
  15. tay nghề, trình độ kĩ thuật không cao thì làm sao họ có thể cải thiện cuộc sống của mình được. Chính những người này góp phần làm gia tăng sự nghèo đói cho khu vực thành thị. Việc đông nhân khẩu và ít người làm cũng là một trong những nguyên nhân gây ra sự nghèo đói ở xã. Thực tế có những ông chồng sáng say chiều xỉn không làm việc gì chỉ ngồi nhà trông chờ vào đồng tiền kiếm được từ vợ, con họ và sự giúp đỡ của chính quyền. Nhiều người có suy nghĩ sai lầm “trời sinh voi, ắt sẽ sinh cỏ” cho nên họ không làm việc, dẫu may có kiếm được tiền thì họ cũng sạch sành sanh vào sự may rủi của các trò đỏ đen để trông chờ vào dịp may. Các thế hệ con cái của họ rất ít được giáo dục, chăm sóc, đây là những lớp người dễ sa ngã và vi phạm pháp luật nhất Người nghèo ít quan tâm đến tình trạng sức khỏe của mình, dẫu có cũng không được tốt. Điển hình là hàng tháng họ không có đến các trung tâm y tế khám sức khỏe định kì, khi bị bệnh họ chỉ uống thuốc nam nếu bệnh nặng hơn thì ra tiệm thuốc nhỏ ở chợ của xã rồi mua 1-2 liều về uống khi phát hiện ra bệnh thì đã nặng nên việc chữa chạy rất tốn kém. Trình độ nhận thức thấp cùng với việc không có tiền nên họ rất ngại đến các bệnh viện, trung tâm y tế lớn. S ức khỏe ảnh hưởng rất lớn đến việc mưu sinh của người nghèo. Một ngày nằm trên giường bệnh gia đình họ có thể bị đói thậm chí là thiếu các khoản nợ lớn do vay mượn để thuốc than cho người bệnh. các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở xã cẩm sơn, huyện cẩm xuyên, tỉnh hà tĩnh 2.1. Đói nghèo do trình độ học vấn thấp Cẩm sơn không có nhiều điều kiện thuận lợi, không có cơ sở hạ tầng tốt, tỷ lệ học sinh đến trường còn thấp tỷ lệ học sinh bỏ học còn tương đối cao nguyên nhân là do gia đình nghèo, không đủ điều kiện đến trường, phải lao động phụ giúp gia đình kiếm sống 15
  16. Do người lao động có trình độ học vấn thấp nên công việc họ kiếm được hầu hết là lao động chân tay, nặng nhọc với thu nhập thấp. 2.2. Đói nghèo do thất nghiệp Thu nhập chính của các hộ nghèo, đói chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, Theo thống kê, thu nhập bình quân trong nông nghiệp - nông thôn chỉ đạt 2,5 triệu đồng/người/năm. Người dân thường sống nhờ vào việc làm thuê mang tính chất thời vụ, thu nhập ít ỏi, không đủ sống.. Điều đó cho thấy một trong những nguyên nhân nghèo đói là do nạn thất nghiệp. 2.3. Đói nghèo do không có đất sản xuất Chính vì không có đất sản xuất nên các hộ này phải làm thuê mướn kiếm sống, thu nhập thấp, khó có điều kiện cải thiện cuộc sống. 2.4. Đói nghèo do không có vốn Nguồn tạo ra thu nhập chính của các hộ dân này từ lao động làm thuê, từ mùa vụ dẫn đến thu nhập không ổn định. Mặt khác, khả năng tiếp cận với nguồn vốn từ các ngân hàng rất khó vì họ không có nguồn tài sản nào để thế chấp. Ngoài ra, họ thường ỷ lại và trông chờ vào nguồn vốn xã hội, nguồn vốn nhà nước cung cấp dẫn đến tình trạng thiếu vốn đầu tư sản xuất. 2.5. Những nguyên nhân khác Ngoài những nguyên nhân đã phân tích ở trên thì đói nghèo còn do ý thức của người lao động (lười lao động dẫn đến ham cờ bạc, nghiện hút, không biết tiết kiệm chi tiêu, sinh nhiều con) hay do thiên tai lũ lụt .Cũng chính vì nghèo đói mà người nông dân phải chịu cảnh sống chung với bệnh tật hiểm nghèo, bệnh dịch lây lan. Tệ nạn xã hội dễ dàng đến với họ chỉ vì họ nghèo và không có kiến thức. 16
  17. 3. Các chính sách đã đạt được thực hiện trong xã nhằm xóa đói giảm nghèo (2007-2010 ) Nhiều năm qua các cấp chính quyền đã nhận ra rằng, muốn xóa đói giảm nghèo ở vùng nông thôn và miền núi cần phải tiếp cận thực tế những nguồn gốc, nguyên nhân và bản chất của sự nghèo đói, t ừ đó họ đưa ra những chính sách phù hợp với điều kiện địa phương mình. Tận dụng vốn đất hiện có, xã đã cho các hộ nghèo vay vốn để mua các cây giống sản xuất. Mỗi hộ được vay từ 2-5 triệu để làm kinh tế hộ. Do có kinh ngiệmlâu năm nên khi có vốn sản xuất họ không gặp khó khăn nhiều, kinh tế gia đình dần được cải thiện. Các sản phẩm làm ra của họ chủ yếu là các loại cây ăn quả ngắn ngày . Họ có thể bán tại chợ ở xã cẩm sơn hay đem bán lẻ nhiều nơi ở khắp các chợ của huyện thậm chí có thể đem sang các chợ cảu cả tỉnh…do đó xã không lo đầu ra cho sản phẩm của người dân. Nguồn vốn còn được sử dụng để nuôi heo, trồng them các loại cây ăn quả dài hạn. Ngoài nghề trồng trọt xã còn dạy người dân thêm nghề mới sau mỗi mùa vụ đan lát các loại rổ,rá các sản phẩm phục vụ cho phát triển nông nghiệp và các dụng cụ để phục vụ cho đời sống sinh hoạt của người dân giúp họ có thêm thu nhập. Giới thiệu lao động nữ đi học may ở trung tâm dạy nghề của huyện. Khi ra nghề họ được đưa vào các xí nghiệp may góp phần tăng thu nhập hộ. Bên cạnh đó tạo mọi điều kiện hỗ trợ vốn cho người nghèo có cơ hội xuất khẩu lao động ra nước ngoài chủ yếu là Đài Loan và Malaisia. Theo nguồn thông tin xã cung cấp thì đi Malaisia mỗi người được vay 80% lệ phí đi (chi phí đi 85 triệu đồng/người đi trong vòng 3 năm). Đi Đài Loan được hỗ trợ vay 50 triệu còn lại 35 triệu gia đình vay thế chấp cũng đi trong vòng 3 năm. Chương trình 135 của chính phủ và nhà nước đã giúp nhân dân ở đây được hưởng những chính sách ưu đãi của nhà nước như học sinh viên đi học được miễn giảm 17
  18. học phí, Miễn giảm tiền học phí cho học sinh nghèo giúp cho con em họ có điều kiện tới trường. Hỗ trợ quần áo, tập sách, tiền trợ cấp hàng tháng cho những học sinh nghèo vượt khó học giỏi. các chương trình từ thiện địa phương đã xây dựng nhà cho người dân nghèo trong xã.. Cấp thẻ bảo hiểm, sổ khám bệnh miễn phí cho hộ nghèo, tạo điều kiện để họ có thể tiếp cận với các dịch y tế. C ử các cán bộ y tế xã hướng dẫn cách giữ gìn vệ sinh trong sinh hoạt hằng ngày như ăn chính, uống sôi, diệt lăng quăn phòng tránh bệnh sốt xuất huyết, phát viên khử trùng nước cho từng hộ dân, bên cạnh đó hội phụ nữ còn cung cấp dụng cụ phòng tránh thai và tuyên truyền việc sinh đẻ có kế hoạch cho chị em phụ nữ vùng sâu vùng xa không có điều kiện tiếp cận nguồn thông tin… Cấp phát gạo cho các gia đình gặp khó khăn để giúp đỡ họ phần nào trong cái ăn, cái mặc. Vào các dịp lễ tết chính quyền địa phương đã đến thăm hỏi tặng quà cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, giúp họ có một cái tết ấm no hạnh phúc. 4. Những thành tựu mà xã đạt được trong các năm qua (2007-2010). Nhờ những chính sách trên mà bộ mặt nông thôn của xã đã dần được cải thiện. Dự kiến của xã là sẽ xóa đói giảm nghèo cho 180 hộ trong xã (2007) nhưng con số thực chỉ đạt được 146 hộ (2009). Trong khoảng thời gian 3 năm (2007-2009) số hộ nghèo trong xã giảm và có sự bổ sung thêm 15 hộ mới vào danh sách nghèo. Tuy không đạt chỉ tiêu đề ra nhưng cũng giảm phần nào số hộ nghèo trong xã.Các chương trình hỗ trợ nhà ở đã giúp cho 125 hộ nhà lá trên tổng số 406 hộ nghèo của xã đã có được nhà lợp tôn. Di dời được 40 hộ vào các cụm tuyến dân cư vượt lũ. Trong xã đã đạt được khoảng 60% các hộ đã sử dụng nước sạch trong sinh hoạt (2009). Trong vài tháng tới xã sẽ đưa trạm cấp nước được đặt tại ấp x óm 9 vào hoạt động với hy vọng tất cả các hộ chưa có điều kiện tiếp cận với nước sạch sẽ được sử dụng nước sạch.Toàn bộ các hộ nghèo trong xã đều có sổ khám chữa bệnh 18
  19. miễn phí. Hầu hết con em của họ đều được đến trường và những người không biết tí gì về chữ nay có thể đọc, viết được nhờ chương trình phổ cập giáo dục và được miễn giảm học phí.Tình trạng sức khỏe của người dân cũng được cải thiện nhờ chính sách trợ cấp thuốc và khám chữa bệnh miễn phí cho các hộ nghèo. 5. Những khó khăn mà xã gặp phải khi thực hiện việc xóa đói giảm nghèo Người dân chưa chủ động vươn lên để thoát nghèo, tâm lí trông chờ, ỷ lại vào các cấp chính quyền vẫn luôn tồn tại trong họ. Chưa huy động được nhiều sự giúp đỡ của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, các nhà hảo tâm nên nguồn vốn họ nhận được còn hạn chế. Do ngân sách nhà nước có giới hạn nên việc hỗ trợ cho các xã nghèo hơi chậm, chỉ mang tính bình quân. Không đáp ứng được những yêu cầu của những hộ nghèo cần sự giúp đỡ. Với đồng vốn giúp đỡ hạn hẹp họ chỉ đủ sống không có tích lũy, lỡ xảy ra thiên tai, dịch bệnh hay các rủi ro khác thì nguy cơ tái nghèo rất lớn.Khi di dời các hộ vào các cụm tuyến dân cư, xã chỉ thấy được thuận lợi trước mắt là tránh lũ mà không nghĩ đến sự khó khăn cho việc sản xuất kinh doanh của người dân trong môi trường mới.Trang thiết bị phục vụ cho việc khám chữa bệnh còn hạn chế nên không thể đáp ứng được tình hình sức khỏe cho người dân.Hệ thống thông tin còn yếu kém, chưa rộng khắp, nên việc nắm bắt tin tức về những chính sách xóa đói giảm nghèo của nhà nước đối với họ chưa nhiều. Khó tiếp cận được với kinh nghiệm làm ăn, những mô hình sản xuất mới, tấm gương của nông dân vượt khó thoát nghèo…Thiếu đội ngũ cán bộ cả về số lượng lẫn chất lượng. Họ không được đào tạo chính qui và thường xuyên. Thường thì một người sẽ kiêm nhiệm nhiều việc. Không thường xuyên lui tới giám sát việc làm ăn sử dụng nguồn vốn vay của người nghèo có đạt hiệu quả không.Các báo cáo cuối năm 19
  20. thường không trung thực chỉ chạy theo thành tích nên khó khăn cho việc xác định tỷ lệ nghèo trong thực tế.Sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị tr ư ờng trong thời đại hội nhập, công nghiệp hóa, hiện đại hóa vấn đề giải quyết việc làm cho người nghèo gặp rất nhiều khó khăn nên nguy cơ nghèo đói đang rình rập họ rất cao.Trước tình hình đó xã cần có những chính sách mới phù hợp với hoàn cảnh của xã trong thời gian tới (2010-2015). Chương III : Một số giải pháp và chính sách cụ thể nhằm xoá đói giảm nghèo ở xã Cẩm Sơn, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh 1. Một số Kiến nghị những giải pháp sắp tới. Cần cố gắn huy động nguồn vốn từ các chương trình “những tấm lòng vàng”, ”vòng tay nhân ái”, …quyên góp tiền của các hộ giàu trong xã và các quỹ từ thiện khác của các nhà hảo tâm, các mạnh thường quân để giúp đỡ các hộ nghèo với tinh thần “lá lành đùm lá rách”. Cố gắng ít nhất mỗi xóm được 2 loa phóng thanh và tin tức đảm bảo được phát thường xuyên trong ngày ở những thời điểm thích hợp.Đưa cán bộ xã đi đào tạo ở các lớp ngắn hạn đồng thời để họ học hỏi những kinh nghiệm làm ăn mới và về phổ biến lại cho người dân trong xã như những nghề mới phù hợp và người dân có thể học trong thời gian ngắn. Thường xuyên tới lui thăm hỏi công việc làm ăn của người dân để họ có động lực vươn lên thoát nghèo. Đổi mới cách tổ chức, quản lí, làm việc có trách nhiệm hơn trong đề án của mình và thực hiện nó một cách minh bạch, thường xuyên bàn bạc, tiếp xúc với dân để họ chủ động trong việc hợp tác và vươn lên thoát nghèo.Bên cạnh đó cần phát huy mạnh làng nghề truyền thống bằng những chính sách phù hợp như ở mỗi ấp cần cử cán bộ đứng ra tổ chức phát triển nghề chiếu, nghề đan bội, đan vỏ tạo thành một tổ sản xuất. cuối năm cần báo cáo việc làm ăn của người dân một cách trung thực để có khen thưởng. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản