intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

CÁCH ĐIỀU TRỊ VÀ THEO DÕI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2

Chia sẻ: Thiuyen3 Thiuyen3 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:33

0
57
lượt xem
6
download

CÁCH ĐIỀU TRỊ VÀ THEO DÕI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bệnh tiểu đường type 2 là một bệnh biến dưỡng mãn tính, biểu hiện bởi lượng đường máu cao. Là một trong những bệnh nội khoa có tầm quan trọng hàng đầu vì những lí do: 1-Số người mắc bệnh trên toàn thế giới hiện nay và sự lan tràn nhanh chóng của nó: Các con số sau đây của Cơ Quan Y Tế quốc tế (OMS) đủ để thuyết phục các cơ quan hữu trách Y tế ở mọi cấp bậc: Theo Tổ Chức Y tế thế giới (OMS) có 30 triệu bệnh nhân vào năm 1985, con số...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: CÁCH ĐIỀU TRỊ VÀ THEO DÕI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2

  1. ĐIỀU TRỊ VA THEO DõI BỆNH TIỂU ĐƯỜNG LOẠI 2-(DIABETE DE TYPE 2) I- Tổng quát: Bệnh tiểu đường type 2 là một bệnh biến dưỡng mãn tính, biểu hiện bởi lượng đường máu cao. Là một trong những bệnh nội khoa có tầm quan trọng hàng đầu vì những lí do: 1-Số người mắc bệnh trên toàn thế giới hiện nay và sự lan tràn nhanh chóng của nó: Các con số sau đây của Cơ Quan Y Tế quốc tế (OMS) đủ để thuyết phục các cơ quan hữu trách Y tế ở mọi cấp bậc: Theo Tổ Chức Y tế thế giới (OMS) có 30 triệu bệnh nhân vào năm 1985, con số nầy tăng lên 135 triệu vào năm 1995 và lên đến 195 triệu năm 2003 trong đó 2/3 là bệnh nhân ở những quốc gia trên đà phát triển. 2-Nguy cơ trầm trọng cho sức khoẻ của bệnh nhân vì nó có thể đưa đến tàn phế (mù loà, cưa chân), và tử vong nếu không được điều trị hiệu quả.
  2. 3-Tiến triển Y khoa ngày nay cho phép phòng ngừa và chửa trị bệnh một cách hiệu quả. Yếu tố quyết định cho phép các ph ương pháp điều trị đạt được kết quả tốt tùy thuộc vào quyết tâm của tập thể (xã hội qua đường lối, chánh sách y tế) và quyết tâm của chính bệnh nhân. Bệnh tiểu đưòng được chia làm 2 loại: 1-Tiểu đường type 1: Có tính di truyền cao, thường xảy ra ở trẻ em hoặc bệnh nhân trẻ (40), tuy nhiên khuynh hướng xảy ra ở bệnh nhân trẻ và trẻ em càng ngày càng gia tăng. Sự xuất hiện bệnh tiểu dường type 2 có liên quan mật thiết với lối sống nhàn cư và cách ăn uống quá giàu năng lượng, II- Những nguy cơ sinh bệnh: Hiện diện càng nhiều những yếu tố sau đây càng gia tăng nguy cơ bị bệnh tiểu đường type 2:
  3. 1- Béo phì: Nếu bệnh nhân có chỉ số cân nặng của cơ thể lớn hơn 30 (IMC >30) , nguy cơ xuất hiện bệnh tiểu đường tăng gấp 10 lần so với ngưòi có cân nặng bình thường, nhất là những người mập vùng bụng (androide). 2- Yếu tố di truyền: nếu cha hoặc mẹ bị tiểu đường, nguy cơ xuất hiện bệnh tăng gấp 2. 3- Tuổi: càng về già càng dể bị bệnh tiểu đường. Bệnh tiểu đường type 2 thường xuất hiện sau 40 tuổi. 4- Mang thai: Khoảng 3% phụ nữ mang thai bị bệnh tiểu đường, thường xuất hiện vào tuần thứ 24 cuả thai kỳ. Bệnh sẽ hết sau khi sinh, tuy nhiên sự kiện nầy cho biết người mẹ có nhiều nguy cơ bị bệnh tiểu đường sau nầy. Sinh con nặng hơn 4 kg cũng cho biết sản phụ dể bị bệnh tiểu đường sau nầy. 5- Hội chứng biến dưỡng: Khái niệm về hội chứng biến dưỡng đã được biết khá lâu. Là tổng hợp một số rối loạn biến dưỡng, những người có hội chứng biến
  4. dưỡng có nhiều nguy cơ bị bệnh tiểu đường và biến chứng tim-mạch. =>Click vào đây để xem bài Hội chứng biến dưỡng - Bài viết cuả BS Võ Ngọc Luyện III-Dịch tể: Bệnh tiểu đường type 2 được so sánh như một bệnh dịch trên toàn thế giới (épidémie) gắng liền với các thay đổi về lối sống và sự sống thọ của con người. Theo Tổ Chức Y tế thế giới (OMS) có 30 triệu bệnh nhân vào năm 1985, con số nầy tăng lên 135 triệu vào năm 1995 và lên đến 195 triệu năm 2003 trong đó 2/3 là bệnh nhân ở những quốc gia trên đà phát triển. Cũng theo Tổ Chức Y tế thế giới, hiện nay khu vực Đông Nam Á có tốc độ bệnh tiểu đường type 2 tăng nhanh nhất thế giới, vượt xa châu Âu nơi vốn được xem là ổ bệnh. Và theo nguồn Diabetes Atlas 2003. hiện 3% dân só VN bị bệnh tiểu đường (15-25% dân số trên 50 tuổi ?). Nguyên nhân của sự gia tăng nầy là vì chế độ dinh dưỡng truyền thống từ lúa gạo, rau, quả đang dần thay đổi qua dinh d ưỡng lối tây phương giàu chất béo và đường, lối sống càng ngày càng thiếu vận động, luyện tập cơ thể. Đáng lo ngại là sự gia tăng nhanh chóng bênh béo phì ở trẻ em cho phép dự đoán tiềm năng phát triển bệnh nhanh trong tương lai. Bệnh có thể dẫn tới mù loà, tổn thương bàn chân, hệ thần kinh, hệ tim mạch, suy thận. Đây là những biến chứng nghiêm trọng, có thể gây tàn phế, tử vong, và để
  5. duy trì sự sống, bệnh nhân phải giải phẩu, ghép thận hoặc phải chạy thận nhân tạo định kỳ rất tốn kém. Tuy nhiên bệnh nhân bị tiểu đường có thể duy trì lâu dài cuộc sống bình thường nếu bệnh được phát hiện sớm và điều trị hợp lí. IV- Triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán bệnh: Một trong những đặc điễm cuả bệnh tiểu đ ường type 2 là phát triển một cách thầm lặng. Trong giai đoạn đầu kháng insuline của bệnh, lượng insuline còn đủ để kiểm soát lượng đường máu trong thời gian khá lâu (5-10 năm) vì vậy bệnh nhân không cảm thấy có triệu chứng gì và không biết là mình bị bệnh. Nhưng khi bệnh tiến triển qua giai đoạn thiếu insuline, bệnh nhân có thể có những triệu chứng sau đây: khát nhiều, tiểu nhiều, suy yếu, gầy ốm nhanh chóng. Tr ước bệnh cảnh nầy, cần phải tư vấn BS và đo lượng đường máu là xét nghiệm quan trọng nhất. Một số trường hợp khác, bệnh tiểu đường chỉ được phát hiện vào những dịp tư vấn BS vì những bệnh khác: nhiễm trùng đường tiểu, mụn nhọt (furoncles), bệnh nấm (mycoses), vết thương lâu lành... Đôi khi bệnh chỉ được phát hiện khi đã có biến chứng như rối loạn nhãn quang, suy yếu tình dục, bệnh tim mạch, rối loạn tri giác...
  6. Chẩn đoán bệnh: Tiêu chuẩn định bệnh dựa vào xét nghiệm máu và theo OMS: coi như bị bệnh tiểu đường nếu có 2 lượng đường máu cao hơn 1,20 mg/dL (7 mmol/ lít) ở bệnh nhân nhịn ăn 8 giờ. V-Sinh ly bệnh: Bệnh tiểu đường type 2 có liên quan mật thiết sự dinh dưỡng (ăn uống quá độ và nhiều đường, mỡ) và lối sống hàng ngày ( nhàn rỗi, thiếu vận đông). Bệnh cũng có tính di truyền tuy nhiên ít rõ hơn bệnh tiểu đường type 1. Không nên nhầm lẫn bệnh tiểu đường type 2 với các bệnh tiểu đường thứ phát trong các bệnh hémochromatose hoặc do dùng lâu ngày một số thuốc (như các thuốc thuộc loại stéroides). Bệnh tiểu đường type 2 tiến triển qua 2 giai đoạn: giai đoạn đầu, hiện t ượng kháng insuline giữ vai trò quan trọng. Tuyến tụy tạng điều tiết bình thường tuy nhiên các tế bào ít nhạy cảm với insuline, không đưa được glucose từ máu vào nội bào và đường máu có khuynh hướng tăng cao. Đường máu cao kích thích tụy tạng gia tăng tiết insuline để duy trì lượng đường máu ở mức bình thường. Sau một thời gian làm việc quá độ (5-10 năm) tuyến tụy tạng trở nên suy yếu, tiết insuline càng ngày càng ít và không cung cấp đủ insuline để đáp ứng nhu cầu. VI- Thuốc trị bệnh tiểu đường: Thuốc uống: gồm có 5 nhóm chính:
  7. 1- Biguanides: tác dụng chống lại sự đối kháng insuline và giảm sản xuất glucose ở gan. 2- Sulfamides giảm đường máu: tác dụng bằng cách kích thích tụy tạng tiết thêm insuline (insulinosécréteurs). 3- Glinides: cũng là thuốc kích thích sản xuất insuline (insulinosécréteurs). 4- Inhibiteurs des alpha-glucosidases là những thuốc giảm hấp thụ đường (glucides complexes). 5- Thiazolidinediones (còn goi là glitazones) tác dụng gia tăng nhạy cảm với insuline và gia tăng sản xuất insuline. Thuốc tiêm = Insuline: Bệnh tiểu đường type 2 có thể cần insuline trong một giai đoạn ngắn nh ư trường hợp bệnh tiểu đường ở phụ nữ có thai, tiểu đường ở giai đoạn nhiễm trùng. Hoặc trở nên cần thiết cho điều trị lâu dài, nếu thuốc uống không thể cân bằng đường máu, dùng insuline kết hợp với thuốc uống. Hiện nay khuynh hướng dùng insuline càng ngày càng mở rộng. Thuốc mới = incrétines và incrétino-mimétiques:
  8. Incrétines là một kích thích tố GLP1 (Glucagon-Like Peptide 1), tiết từ những tế bào đoạn đầu của ruột non do thực phẩm khi ăn kích thích. Incrétines có tác dụng kích thích sản xuất insuline, giảm sản xuất glucose ở gan, giữ thực phẩm nằm lâu ở dạ dày nên làm giảm cảm giác đói. Tuy nhiên incrétines bị biến dưỡng quá nhanh nên không thể trực tiếp dùng trong điều trị mà chỉ giúp để chế tạo ra 2 nhóm thuốc mới: -incrétino-mimétiques còn gọi analogues du GLP-1: có tác dụng chống men DPP-4 (emzyme), do đó giúp gi ữ thăng bằng đường máu và tốt cho bệnh nhân tiểu đường mập. -inhibiteurs de DPP-4 : tác dụng gia tăng thời gian tác dụng của GLP-1 bằng cách làm chậm sự thoái biến của men nầy. VII- Điều trị bệnh tiểu đường type 2 ở bệnh nhân mập (obésité): Cần phải kết hợp 3 phương pháp: dinh dưỡng, thể thao thể dục và chỉ trong trường hợp thất bại của 2 phương pháp trên mới kết hợp với dùng thuốc. Mục đích của điều trị là tránh hoặc trì hoãn lâu dài sự xuất hiện các biến chứng do tiến triển mãn tính của bệnh, bằng cách duy tr ì đường máu càng gần càng tốt với đường máu bình thường. Điều trị càng sớm càng tốt, và tùy theo những đặc biệt từng cá nhân như tuổi, mức độ quá cân, mức độ đường máu, cholestérol máu, mức độ tiến triển của bệnh... mà
  9. xác định một chế độ dinh dưỡng cân đối, hoạt động thể thao thể dục thích nghi và dùng thuốc hợp lí. 1-Chế độ dinh dưỡng nghèo calorie: Đây là biện pháp điều trị quan trọng của bệnh tiểu đường type 2 nặng cân, cho phép làm giảm cân và kiểm soát đường máu. Tổng số năng lượng cần thiết hàng ngày được qui định tùy theo mỗi cá nhân: tùy theo hoạt động, mức độ quá cân. Dựa vào tổng số năng lượng qui định mà ước tính lượng thực phẩm cần thiết của mổi nhóm để có một chế độ dinh d ưỡng cân đối . Với các đơn vị đo lường (phần) như sau: *Một phần nhóm glucides # 1/2 chén cơm, 1 lát bánh mì 1 ounce (30 gr)# 80 calories. *Một phần trái cây # 1 quả táo # 50 calories. *Một phần nhóm rau # 1 dĩa đầy rau tươi, # 1/2 chén rau luột = 15 calories. *Một phần nhóm chất đạm # 30 gr # 60 calories. Tùy theo lượng mỡ trong thịt, 30 gr thịt heo ba chỉ #100 calories. *Một phần sửa # 1 ly sửa lấy hết chất béo # 60 calories.
  10. *Một phần chất béo # 1 muỗng café dầu bắp # 35 calories. Để dể thực hiện kế hoặch ăn giảm cân, thức ăn có thể chia làm 6 nhóm: *Nhóm glucides (cơm, bún, mì, phở, bánh mì) *Nhóm trái cây *Nhóm rau *Nhóm sửa *Nhóm thịt, cá, trứng (chất đạm) *Nhóm chất béo. Sau đây là vài ước tính dinh dưỡng tùy theo nhu cầu năng lượng cần thiết cho 1 ngày: Thức ăn 1200calories/ngày 1500calories/ngày 1800calories/ngày 2000calories/ngày 5 phần 7 phần 8 phần 9 phần Nhóm tinh bột 3 phần 3 phần 4 phần 4 phần Nhóm trái cây
  11. 2 phần 2 phần 3 phần 4 phần Nhóm rau 2 phần 2 phần 3 phần 3 phần Nhóm sữa 4 phần 5 phần 6 phần 7 phần Nhóm đạm 2 phần 3 phần 3 phần 4 phần Nhóm chấtbéo Một cách tổng quát: nên ăn nhiều loại thức ăn khac nhau, hạn chế đường (bánh, kẹo, nước ngọt...), hạn chế muối, ăn nhiều chất xơ (rau, trái cây), ăn ít chất béo nhất là mỡ động vật, tôn trọng giờ giấc 3 bữa ăn chính, thêm 1, 2, 3 bửa ăn dặm. 3-Dùng thuốc (médicaments) ở bệnh tiểu đường type 2 và mập: -Thuốc uống: Metformine: Là thuốc uu tiên dùng đầu tiên ở bệnh nhân tiểu đường và mập vì metformine không tăng sản xuất insuline do đó không gây tăng ký và không gây
  12. biến chứng thấp đường máu. Thuộc nhóm biguanide, metformine chống cao đường máu bằng cách tăng nhạy cảm của các tế bào gan đối với insuline, làm giảm sản xuất đường ở gan. Cách dùng: thuốc viên, tối đa 3000mg chia uống 2 - 3 lần /ngày, vào lúc ăn hoặc sau bửa ăn. GLUCOPHAGE 500mg - 850mg - 1000mg STAGID 700mg Chống chỉ định: Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú. Suy thận. Suy gan. Suy tim. Nhồi máu cơ tim. Thận trọng khi dùng thuốc: theo dõi créatinine máu, nhất là ờ người già.Ngừng thuốc 3 ngày trước khi làm X-quang có chất cản quang chứa Iode. Tác dụng phụ: *Nhiễm toan lactique, thường xuất hiện ở bệnh nhân già và suy thận, phải ngừng thuốc và thực hiện xét nghiệm ion đồ và đo lường lactate máu ngay nếu bệnh nhân than phiền yếu mệt và bị co giật, cứng đau ở các bắp cơ (crampes musculaires).
  13. *Rối loạn tiêu hoá: ói, mửa, tiêu chảy, đau vùng bụng: nên uống thuốc vào lúc ăn, hoặc sau bửa ăn. Inhibiteurs de l'alphase-glucidase: Thường dùng trong trường hợp không dùng được metformine. Nhóm thuốc nầy có tác dụng giảm hấp thụ đường ở ruột, do đó gây giảm đường máu sau các bửa ăn. Cách dùng: thuốc viên, bắt đầu 50mg trước mỗi bửa ăn. Tối đa 300mg/ ngày. GLUCOR (Acarbose) 50 - 100mg DIASTABOL (Miglitol) 50 - 100mg Chống chỉ định: Bệnh đường tiêu hoá. Tác dụng phụ: cảm thấy nặng bụng, phân lõng hoặc có thể tiêu chảy. Đôi khi gây tăng transaminases. Glitazones:
  14. Nhóm thuồc nầy có tác dụng gia tăng nhạy cảm với insuline ở các cơ (muscles) và mô mỡ (tissu adipeux). Cách dùng Thuốc viên, uống 1 lần trong ngày, trước bửa ăn. Không bao giờ dùng một mình, chỉ dùng kết hợp với metformine hoặc với nhóm inhibiteurs de l'alphase-glucidase khi các thuốc nầy đã dùng liều tối đa mà vẫn không hạ đường máu xuống mức độ mong muốn. 1 hoặc 2 viên/ mỗi ngày ACTOS: viên 15mg - 30mg 8mg tối đa/ mỗi ngày AVADIA: viên 2 - 4 - 8mg Chống chỉ định: Suy thận. Suy gan. Suy tim. Bệnh nhân dưới 18 tuổi. Phụ nữ mang thai hoặc trong giai đoạn nuôi con bằng sửa mẹ. Phản ứng phụ: Lên cân. Giữ mước và muối trong cơ thể nhất là ở bệnh nhân suy thận. b-Thuốc tiêm-Insulines:
  15. Dưới dạng dung dich, mỗi 1 ml chứa 100 UI, được phân biệt tùy theo nguồn gốc (người, bò, heo) và theo thời gian tác dụng (rất nhanh, nhanh, trung b ình, chậm), chứa trong lọ (flacon), hoặc cây viết (stylo, pen). Insuline dung dịch chứa trong lọ, loại tác dụng rất nhanh và nhanh có thể tiêm bắp, tĩnh mạch hoặc dưới da, loại tác dụng chậm thường chỉ tiêm dưới da. Insuline trong các cây viết dùng để tiêm dưới da. Một số cẩn thận cần thiết khi dùng insuline: ngoài việc thận trọng về liều lượng, tôn trọng giờ giất lúc tiêm, bảo quản nơi lạnh, nên chú ý thay đổi chổ tiêm mỗi lần trên những vùng theo sơ đồ (nếu không sẽ đễ lại những vết teo thiếu thẫm mỹ). Vài insuline thường dùng: Insuline rất nhanh (ultrarapides): Insuline Lọ 10 ml - 100 UI/ ml Bắt đầu tác dụng 10 phút HUMALOG -
  16. gốc người. Tiêm bắp, tĩnh sau khi tiêm. Thời gian mạch, dưói da tác dụng=3 - 4 giờ. - Hộp 5 cây viết (pen) - Bắt đầu tác dụng 10 phút HUMALOG Pen Insuline gốc người sau khi tiêm. Thời gian 100UI/ml tác dụng=3 - 4 giờ. NOVORAPID - Insuline Lọ 10 ml - 100 UI/ ml Bắt đầu tác dụng 10 phút gốc người. Tiêm bắp, tĩnh sau khi tiêm. Thời gian mạch, dưói da tác dụng=3 - 4 giờ. Hộp 5 cây viết (pen) - Bắt đầu tác dụng 10 phút NOVORAPID Flexpen sau khi tiêm. Thời gian 100UI/ml NOVORAPID Penfill tác dụng=3 Insulines nhanh (rapides):
  17. ACTRAPID, gốc người, Lọ 10 ml - 100 UI/ ml Tiêm 20 phút trưóc bửa tiêm bắp, tĩnh mạch, dưới ăn, tác dụng trong 6 - 8 giờ. da viết (pen) -100UI/ml Tiêm 20 phút trưóc bửa ACTRAPID Penfill ăn, tác dụng trong 6 - 8 giờ. Lọ 10 ml - 100 UI/ ml Tiêm 20 phút trưóc bửa UMULINE RAPIDE ăn, tác dụng trong 6 - 8 giờ. viết (pen) -100UI/ml Tiêm 20 phút trưóc bửa HUMAPEN ăn, tác dụng trong 6 - 8 giờ. Insuline thời gian tác dụng trung bình:
  18. gốc Lọ 10 ml - 100 UI/ ml Tác dụng 1,5 giờ sau khi INSULATARD, biogénétique, tiêm dưới tiêm, trong vòng 24 giờ. da 1 hoặc 2 lần/ ngày viết (pen) -100UI/ml Tác dụng 1,5 giờ sau khi INSULATARD Flexpen tiêm, trong vòng 24 giờ. Insulines chậm: gốc Lọ 10 ml - 100 UI/ ml Tác dụng 1,5 giờ sau khi LANTUS, biogénétique, tiêm dưới tiêm, trong vòng 24 - 36 da 1 lần/ ngày giờ. viết (pen) -100UI/ml Tác dụng 1,5 giờ sau khi LANTUS Optiset tiêm, trong vòng 24 - 36
  19. giờ. 2-Họat động thể dục (exercice physique): Nguyên tắc là điều độ, từ từ tăng về cường độ và thời gian. Đi bộ nhanh là phương pháp dễ thực hành nhất. Xe đạp hoặc bơi lội cũng là phương pháp tốt. Tập ít nhất 3 lần trong tuần, mỗi lần khoảng 30 phút. Thời gian được tính từ lúc nhịp tim đạt tới mức cần thiết (60% của 220-tuổi). Từ từ đạt đến tập luyện thường xuyên hàng ngày là tốt nhất. Nếu thực hiện tốt: hai phương pháp chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể dục đủ để làm xuống cân bệnh nhân và cho phép hạ đường máu xuống mức bình thường ở bệnh nhân tiểu đường type 2 và quá ký. Nếu sau 2-3 tháng thực hành nghiêm túc ăn kiên và thể dục mà bệnh nhân vẫn không ốm, đường máu vẫn cao và chỉ trong trường hợp nầy mới bắt đầu dùng thuốc viên trị tiểu đường. c-Tiến hành trị liệu: Bắt đầu điều trị bằng 1 thuốc (monothérapie) với metformine tiến dần đến liều tối đa, sau đó nếu vẫn không kiểm soát được bệnh thì:* thêm thuốc thứ 2 (bithérapie) với inhibiteurs de l'alpha-glucosidase,* hoặc ngừng metformine, đổi qua inhibiteurs de l'alpha-glucosidase (monothérapie). Nếu vẫn không kiểm soát được
  20. bệnh thì dùng 3 thuốc (trithérapie): metformine + inhibiteurs de l'alpha- glucosidase + glitazones. Chỉ định dùng insuline trong điều trị bệnh tiểu đường type 2 (quá cân hoặc cân bình thường): 1- Cần thêm insuline vào buổi tối (loại tác dụng trun g bình hoặc chậm), nếu: *Vẫn không kiễm soát được đường máu với 2 hoặc 3 thuốc uống với liều tối đa. Sau 2 xét nghiệm đường máu hémoglobine glyquée (HbA1c) > 7% (xét nghiệm mỗi 3 tháng). *Bệnh đã tiến triển hơn 2 năm. *Xuất hiện biến chứng ở mạch máu nhỏ ( microangiopathie): thường phải dùng insuline nhiều lần trong ngày để kiễm soát tốt đường máu. 2- Dùng insuline nhiều lần trong ngày, kết hợp với thuốc uống nếu insuline buổi tối (kết hợp với thuốc uống) vẫn làm không hạ đường máu. 3- Dùng đơn thuần insuline, nhiều lần trong ngày với liều cần thiết nếu có nguy cơ tiến triển qua nhiễm toan xêtôn, với xuất hiện các triệu chứng như: -Gầy ốm nhanh chóng. -Mất cơ (fonte musculaire).

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản