1
CÂU HỎI ÔN TẬP
SINH LÝ BỆNH
2
Câu 1. Học môn Sinh lí bệnh giúp ích gì cho công tác điều trị dự phòng và điều trị bệnh. Cho ví dụ chứng minh?
Sinh lý bệnh học hay gọi gọi tắt là sinh bệnh là môn khoa học nghiên cứu về nhưng quy luật hoại động của cơ thể bị bệnh trong những trường hợp cụ thề
,để rồi từ đó rút ra quy luật hoạt động của cơ quan bị bệnh ,của các quá trình bệnh điển hình cuối cùng để tìm hiểu những quy luật hoạt động của bệnh nói
chung
Sinh bệnh học môn khoa học nhiều môn khoa học khác của y học nhưng giữ mọt vai tro quan trọng trong nên y học hiện đại .Nó là một môn y học cơ
sở soi sáng công tác phòng và điều trị , là lý luận ,triết hocjcuar y học
Y học hiện đại lấy dự phòng là chính ,nhưng muốn dự phòng dc bất cứ bệnh nào thì cần nắm dc quy luật hoạt động của chúng . Sinh bệnh nghiến cứu về
quy luật hoạt động của bệnh ,tất nhiên phải đóng góp quan trọng trongng tác này .Nhưng ng c dự phòng ko phải chỉ như vậy .Ngay trong ng tác điều trị ý
thức dự phòng cũng cần
Mọi người đều biết trong điều trị ba biện pháp : điều trị triệu chứng ,nguyên nhân và điệu trị bênh sinh hay điu trị theo cơ chế bệnh sinh.Biện pháp đầu
tiên chỉ dc dung khi chửa chuẩn đoán rõ khi biểu hiện bệnh lý quá mạnh có thể ảnh hưởng đến tính mng bệnh nhân như đau quá có gây soch ,sốt quá cao có thể
gây biến chứng ….nhưng cũng phải rất hạn chế vì nhiều khi có hại hơn là có lợi.Dù sao dó cũng chỉ là biện pháp đối phó
Điều trtheo nguyên nhân đúng nhất c dụng ngay vào nguyên nhân gây bệnh . Song nhiều bệnh hiện nay chưa nguyên nhân tbiện pháp này ko
dung dc.Ngay như trong nhiều bệnh ng nhân, nhưng một khi quá trình bệnh đã diễn ra thì diễn ra theo một quy luật nhất định .Khi đó điệu trị theo
nguyên nhân bệnh vẫn tiếp tục nặng đôi khi còn mạnh hơn gây nguy hiểm cho bệnh nhân ( như bệnh hexamheimer khi dung kháng sinh chống vi khuẩn y
bệnh ).Khi này cần sử dụng khái niệm dự phòng trong diều trị tức là thong qua hiểu biết về quy luật diễn biến của bệnh ( tức sinh bệnh học của bệnh) mà đ
ra nhưng biện pháp điều trị thích đáng ngăn cản hoặc hạn chế những diễn biến xấu có hại.Đó là điều trị sinh lý bệnh
Ví dụ như: trong tình trạng dọa shoch ( chấn thương ,chảy máu ) cần cho thuốc chống đau ,an thần ,truyền dịch…hay trong viêm phổi nặng ngoài kháng sinh thích
ứng cũng đề phòng nh trạng thiếu oxy do tình trạng hạn chế hô hấp….
u 2. Khái niệm về bệnh. Có một khái niệm đúng về bệnh, giúp ích gì chong tác phòng và chữa bệnh?
Muốn tiến hành tốt công tác phòng và chữa bệnh ,người tháy thuốc cần co một khai niệm đúng về bệnh
Vy bệnh là j?câu hỏi này đã dc đặ ra tkhi loài người mạt trên trái đất.khái niệm này được xây dựng dần trong qua tringf pt của y học là kết quả của cuộc
đấu tranh lien tục của CNDV và CNDTtrong bệnh lý học.Quan nim về bệnh luôn luôn thay đổitùy theo sự thay đổi,tuy theo đà ph của khoa học nói chung và của y
học nói riêng.Dưới đây là một số khái niệm khá khoa học và chính xác
gây bệnh đối với tế bào,tchức .Chính tổn thương tế bào đã gây ra bệnh.Bệnh sẽ xuât hiện khi nào và ở chỗ nào tác dụng của nhân tố gây tổn thương. cũng
theo tác giả tkhông phải toàn bộ thể phản ứng đối với nhân tố y bệnh, mà chỉ những tế bào , những quan riêng biệt tham gia vào quá trình bệnh lý.
+học thuyết “stress”: bất cứ một ch thích mạnh nào của ngoại môi tác động trên cơ thể đều có thể gây ra một trạng thái ng thẳng (Stress), một chuỗi phản ng
không đặc hiệu kết hợp với nhau thành “hội chứng thích ứng chung”.
+học thuyết froi: Còn gọi là thuyết phân tâm, thuyết tinh thần cơ thể. Học thuyết này cho rằng yếu tố tâm là nguyên nhân chủ yếu gây ra các bệnh
+học thuyết thần kinh:
Trường phái Nga, với những nhà bác học nổi tiếng như Set-sơ-nôp, Bôt-kin, Pap-lôp đã nhiều đóng góp soi sáng bản chất của bệnh, đã đra học thuyết
thần kinh của bệnh. Set-sơ-nôp nêu bản chất phản xạ của các quá trình thần kinh ; Bôt-kin lấy học thuyết thần kinh làm nguyên tc giải quyết bệnh.những tư tưởng
này được phát triển tm một bước trong học thuyết hoạt động thần kinh cao cấp” của Pap-lôp. theo học thuyết này, nội môi ngoại môi là một khối thống nhất
mà trong đó hoạt động của thần kinh cao cấp chi phối khả năng thích ứng của thể đối với ngoại môi. Pap-lôp đã bảo vệ ngun tắc quyết định luận trong nguồn
gốc gây bệnh và đã chỉ rõ “trong mỗi bệnh có 2 quá trình song song tồn tại : qtrình bảo vệ sinh và quá trình huỷ hoại bệnh lý”.
* Quan niệm hiên nay : Bệnh là sự thay đổi về lượng và chất của các hoạt động sống của cơ thể do tổn thương cấu trúc và rlcnăng do tác nhân từ mt hoặc bên trog
cơ thể gây nên .
Một cách cụ thể hơn,có 1 định nghĩa hiện đang được sdụng rộng rãi:Bệnh bất kỳ sự sai lệchhoặc tổn thương nào về cấu trúc chức năng của bất kỳ bộ
phận,cơ quan,hệ thống nào của thể biểu hiện bằng 1 bộ triệu chứng đặc trưng giúp cho thầy thuốc thể chẩn đoán xác định chẩn đoán phân biệt,mặc
nhiều khi ta chưa rõ về nguyên nhân,về bệnh lý học tiên lượng(từ điển y học Dorlands 2000).
Như vậy có rất nhiều cách hiểu về bệnh cho nên cần có những chú ý trong một khái niệm bệnh:
+bất cứ bệnh nào cũng do nguyên nhân gây ra
+bệnh có tính chất cân băng mới
+bệnh là một chất lượng mới
+bệnh làm hạn chế khả năng lao động
Nói tóm lại, một quan niệm đúng hay sai về bệnh sẽ quyết định thái độ của người thầy thuốc trong công tác hàng ngày của mình –ng tác đấu tranh chống lại bệnh
tật.
Câu 3. Tại sao trong m sàng không có 2 người bệnh (mắc cùng một bệnh) hoàn toàn giống nhau về biểu hiện và diễn biến lâmng. Cho
ví dụ chứng minh và nêu ý nghĩa thực tiễn của vấn đề?
Trong m sàng không có 2 người bệnh (mắc cùng một bệnh) hoàn toàn giống nhau về biểu hiện
và din biến lâm sang vì
Mỗi người luôn sống và tiếp xúc với ngoại cảnh, trong những điều kiện sinh hoạt và ở một chế độ xã hội nhất định, cho nên bệnh tật phát sinh rất phong phú đa
dạng phụ thuộc vào các yếu tố bản sau đây:
1. Nguyên nhân điều kiện gây bệnh: những yếu tố hiển nhiên quyết định sự phát sinh bệnh ở đa số trường hợp. Cùng một yếu tbệnh nguyên nhưng bệnh
sinh có thể thay đổi theo cường độ liều lượng thời gian tác dụng và vị trí tác dụng của bệnh nguyên
-Số lượng, cường độ, độc lực của bệnh nguyên: yếu tgây bệnh ko những phải số lượng,mật độ nhất định mà pahỉ ờng độ, độc lực mạnh tới 1 mức nào đó
mới gây bênh và sthay đổi diễn biến bệnh nếu thay đổi các tính chất trên.
VD: nicotin nếu đưa vào cơ thể 1 lượng lớn qua đường hô hấp thì sẽ xảy ra ngộ độc cấp nhưng nếu chia ra liều nhỏ ,kéo dài thì sẽ gây VPQuản mn, giảm khả năng
đề kháng có thểy ung thư phổi.
Một số yếu tố có cường độ thấp nhưng tác dụng lien tục trong thời gian dài cũng gây ra bệnh như tiếng ồn,ngộ độc rượu mạn tính.
-Nơi xâm nhập ,thời gian tác dụng của bệnh nguyên: cùng 1 chất độc cùng 1 VK sẽ gây nên các bệnh khác nhau và mức độ khác nhau khi chúng xâm nhập vào các
bộ phận khác nhau của cơ thể vì mỗi cơ quan bộ phận lại có chức năng và phản ứng tính khác nhau.
VD: Tụ cầu vào da gây bệnh apxe, vào ruột gây bệnh tiêu chảy hay cùng là 1 cường độ va đạp nhưng vào sọ não sẽ có bệnh sinh khác hẳn với vào tay chân.
Cùng 1 nồng độ bệnh nguyên cùng nơi tiếp xúc nếu thời gian càng i thì nói chung bệnh càng nặng
2. Đc điểm của thể: với một số bệnh cụ thể, ngoài các nguyên nhân, điều kiện bệnh phát sinh còn phụ thuộc vào những đặc điểm cá thể của con người (tính
phản ứng của thể dối với bệnh tật, thể tạng, di truyền…). Trong những điều kiện như nhau, bệnh sinh mỗi thể có thể khác nhau điều này phụ thuộc và giới
tuổi và tính phản ứng của từng cơ thể.
- Tính phản ứng là khả năng đáp ứng của cơ thể với mọi kích thích bình thường hay bệnh lý. Ngoài những đặc tính do đời trước truyền lại thì tính phản ứng còn bao
gồm những đặc tính của cá thể hình thành trong đời sống. Do đó ở những cá thể khác nhau thì tính phn ứng thường khác nhau, bệnh phát sinh hay không đặc điểm
diễn biến ra sao kết quả như thế nào chủ yếu phụ thuộc vào tính phản ứng của cơ thể.Có rt nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính phản ứng của cơ thể:
-Thần kinh, tâm thần: Trạng thái vỏ não hưng phấn hay ức chế làm thay đổi bộ mặt của bệnh sinh. Loại TK yếu thường kém chịu đựng 1 yếu tố ch thích nhệ cũng
thể gây bệnh, loại TK mạnh nhưng ko thăng bằng cũng dễ bị rối loạn nặng trước 1 stác nhân gây bệnh.Hệ TK giao cảm chi phối các phản ứng đề kháng ch
cực. HTK phó giao cảm có vai trò tạo ra trạng thái trấn tĩnh,tiết kiệm năng lượng tăng chức năng tiêu hoá.
Yếu tố tâm lý:lời nói thái độ của người xung quanh đặc biệt thầy thuốc có ảnh hưởng xấu hoặc tốt đến tâm và diễn biên bệnh.
3
TK thực vật : Khi TK giao cảm bị HP t chuyn hoá sở tăng, thực bào tăng, sản xuất kháng thể đặc hiu bị ƯC, sản xuất kháng thể không đặc hiệu tăng. Ngược
lại khi TK phó giao cảm HP thì thực bào giảm sản xuất kháng thể không đặc hiệu giảm sản xuất kháng thể đặc hiệu tăng,các hang rào bảo vệ như hạch bạch
huyết tăng cường hoạt động.
- Nội tiết: các HM ảnh hưởng rệt tới bệnh sinh.Cùng 1 bệnh nhưng tình trạng nội tiết khác nhau có thể diễn biến bênh khác nhau VD người cường giáp dễ sốt
cao khi nhiễm khuẩn.
ACTH và corticoid: có tác dụng chống viêm, chống dị ứng. Có tác dụng giảm nh thấm mao mạch, giảm phù nề và tiết dịch, ức chế thực bào
STH, DOC Aldosteron : Ngược c dụng của ACTH và Cortison làm tăng quá trình viêm ch thích tổ chức liên kết tăng sinh và chống nhiễm trùng. STH có tác
dụng chống hoại tử, tăng tổng hợp Globulin và kháng thể còn DOC và Aldosteron tcó tác dụng tăng chuyển hoá nước và điện giải
-Ảnh hưởng của giới tính
Một số bệnh hay gặp ở nam giới như loét DD-HTT, nhồi máu cơ tim còn bệnh hay gặp ở nữ như viêm túi mật u vú ..
-Ảnh hưởng của lứa tuổi:Mỗi tuổi có đặc điểm phản ứng riêng đối với bệnh tật.Tính phản ứng của cơ thể yếu khi còn nhỏ,ng tới tuổi dậy thì và giảm khi về già.Do
đó các bệnh được chia thành bệnh của trẻ sơ sinh,bệnh của trẻ em,bệnh tuổi dậy thì và bệnh của người già
Ví dụ:Viêm hay sốt thể trẻ thường mạnh hơn người già triệu chứng m ng thường điển hình, cơ thể trcó thể mau lành bệnh nhưng cũng thể lâm
vào tình trạng phản ứng quá mức còn cơ thể người già thì các biều hiện có thể kém ràng dễ biến chứng nguy hiểm khi viêm sốt
3.Yếu tố ngoài
-Môi trường: Đa lý khí hậu ảnh hưởng rõ rệt tới quá trình phát sinh phát triển của bệnh.Ví dụ: Nhiệt độ môi trường, độ ẩm, khí hậu… đều ảnh hưởng đến bệnh sinh
của nhiều bệnh như bnh phổi, hen … Hóa chất , tia xạ,nghiện rượu… làm thay đổi khả năng phản ứng của cơ thể
-Yếu tố XH: Chế độ XH, trình độ văn hoá, dân trí cũng ảnh hưởng tới cơ cấu tình hình bệnh tật cảu quần thể dân cư
- Chế độ dinh dưỡng : Protein vitamin ảnh hưởng rệt tới bệnh sinh của nhiều bệnh, khi cơ thể thiếu hụt protein làm thể dễ mắc bệnh phổi bệnh nhiễm
khuẩn. Vitamin tác dụng m tăng cường sức đề kháng của cơ thể
c yếu tố này thường liên quan chặt chẽ với nhau trong từng trường hợp cụ thể, có thể yếu tnày hay yếu tố khác nổi bật lên hàng đầu. Cũng thể xếp
chung là “những nguyên nhân điều kiện gây bệnh” vì điều kiện hoàn cảnh hội cũng như những mm bệnh, điều kiện hoàn cảnh ngoại môi đều các ngun
nhân, điều kiện bên ngoàiđặc điểm cơ thể những nguyên nhân, điều kiện bên trong, sự xuất hiện bệnh tật trong các trường hợp này không chịu ảnh hưởng của
các nguyên nhân, điều kiện bên ngoài.chính vì vây ma trong lâm sang ko có hai người beenh hoàn toàn giống nhau về biểu hiện lâm sangdiễn biến lâm ng
u 4. Tại sao nói bệnh có tính chất một cân bằng mi kém bền vững ? cho vd minh họa ?
Bệnh là bất kỳ sự sai lệch hoặc tổn thương nào về cấu trúc , chức năng của bất kỳ bộ phận , quan , hthống nào của cơ thể , biểu hiện bằng một bộ TC đặc
trưng giúp cho thầy thuốc có thể chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt dù nhiều khi ta chưa rõ về nguyên nhân , bệnh lý học tiên lượng
Khi nói về tính chất của bệnh các nhà sinh lý bệnh đã coi bệnh là một cân bằng mới kém bền vững . điều đó đc chứng tỏ qua các luận điểm :
-Bình thườngthể luôn có sự cân bằng giữa các quá trình (đồng hóadị hóa) , sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ quan về chức phận và cấu trúc.
-Khi bênh nguyên tác động vào cơ thể làm thay đổi về cấu trúc hoặc chức phận của một hay nhiu co quan nào đó của cơ thể . điều này làm mất đi sự cân bng sinh
của thể . Lúc đó thể phản ứng lại bằng cách tạo ra một cân bằng mới( chứ không phải mất cân bằng) để phòng ngự .trong cân bằng y các bộ phận hoạt
động không theo quy luật sinh ly sn có
-Nhưng cân bằng mới này không bền vững vì nó không thkéo dài , do sự hoạt động bất thường của các cơ quan sớm hay muộn cũng dẫn đến tác động vào các
quan khác hoặc chính nó , do đó cân bằng này luôn có xu hướng thay đổi theo các hướng khác nhau , có thể lập lại cân bằng trước đó ( hồi phục) hoặc tiến triển lập
nên một cân bằng bất lợi , khi vượt quá khả năng bảo vệ của cơ thểthể dẫn tới tử vong . sự tái lập cân bằng mới thể rất nhanh nhưng cũng có thể rất chậm tùy
theo nguyên nhân và điều kiện của bệnh
Do đó trong điều trị phải biết đâu là các quá trình do bẹnh nguyên gây ra , đâu là phanr ứng bảo vệ của cơ thể để tác động đúng
Ví dụ điển hình là hội chứng sốc mất máu: khi thể mt khoảng 30% lượng máu bắt đầu có shock , lúc này cơ thể chuyển sang một cân bằng mới nhằm chống lại
sthay đổi về khốiợng tuần hoàn ( co mạch ngoại vi, huy động máu gan , lách các quan ngoại vi………) đtập trung máu cho các quan sinh tồn
( não , các trung m sống ) . Nhưng cân bằng mới đó không thể duy trì lâu , nếu tác đông điều trị đúng tn khả năng hồi phục ( thiết lập cân bằng mới theo
ng có lợi ) nhưng nếu vẫn tiếp tục mt máu đến 60% thì cơ thể mất khả ng bù trừ sxảy ra trụy mch( thiết lập câ bằng mới bất lợi ) rất khó diều trị
Câu 5 . Mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện gây bệnh? Cho ví d chứng minh và nêu ý nghĩa thực tiễn ?
Trong lịch sử y học nhân loại đã có rất nhiều thuyết nhằm giải thích ti sao dẫn đến bệnh , trong đónhững thuyết thật sự sai lạc nhưng cúng đã đc áp dụng vào
thực tiễn như: thuyết một nguyên nhân ( cho rằng mọi bệnh đều do vk gây ra) , thuyết điều kiện ( cho rằng để gây bệnh phải có tập hợp các đk trong đó nguyên nhân
cũng chỉ một đk ), thuyết thể tạng( cho rằng bệnh tphát không cần nguyên nhân , nếu có thì do ng một nguyên nhân , bệnh nặng hay nhẹ phụ thuộc thể tạng
mỗi người)
Quan điểm hiện đại dựa trên nhng thành tựu khoa học và lập trường duy vật biện chứng đã chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố nguyên nhân , điều kiện bệnh
mối quan hệ nhân quả của bệnh tật
Trong mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện thì:
-Nguyên nhân là yếu tquyết đnh gây bệnh , bệnh nào cũng phải nguyên nhân đã m ra hay chưa , nguyên nhân quyết định tính dặc hiu của bệnh ,
nhưnng nguyên nhân muốn gây đc bệnh phải đạt đc ngưỡng về số lượng , độc lực , và phi có những điều kiện hỗ trợ .
iều kiện hỗ trvà tạo thuận lợi cho nguyên nhân , NN chỉ gây bệnh khi những đk nhất định th nhiều đk nhưng cũng có thể rất ít.Nhưng phải khẳng
định một mình đk không thể gây bệnh nếu thiếu nguyên nhân
Vd: để nhiễm khuẩn tiết niệu do Escherichia coli thì chắc chắn phải có vk ecoli ,nhưng ecoli là vk thuộc hộ vk bt ở ruột chỉ gây bệnh khi cơ thể có sức đè kháng suy
giảm, và dĩ nhiên chỉ suy giảm đề kháng mà không có mặt ecoli thì không thể nhiễm khuẩn ecoli đường niệu đc
-Trong quan hệ giữa nguyên nhân đk có sự hoán đổi : Nn trong trường hợp bệnh này thể là đk cho một bệnh khác(ăn thiếu thốn nguyên nhân gây suy dinh
dưỡng nhung cũng thể đk cho bẹnh lao), ngược lại đk trong t/h này có thể là nguyên nhân cho bệnh khác ( lạnh đk cho nhiễm cúm nhưng cũng là nguyên
nhân của nhm lạnh)
Ý nghĩa: trước mỗi bệnh phải hướng m ra nguyên nhân của để xác định và loại trừ nguyên nhân (nếu còn ) , đồng thời phải biết các đk thuân lợi đ loại bỏ
nhằm hạn chế nguyên nhân
Câu 6. Phân tích vòng xoắn bnh trong bệnh sinh? Cho vd và nêu ý nghĩa thực tiễn?
Bệnh sinh diễn biến của một bệnh tkhi bắt đầu phát sinh đến khi kết thúc . bình thường bệnh sinh tuân theo một trình tự nối tiếp nhau , khâu trước làm tiền đề
cho khâu sau đến khi kết thúc
Nhưng khi 1 khâu phia sau lại làm tiền dề cho một khâu trước đó txuất hiện vòng xoắn bệnh lý, đa số làm bệnh năng hơn và khả năng tự duy trì. Vòng này
thể cấp diễn hoc trường diễn
+,Vòng xoắn cấp diễn : là vòng xoắn nhanh chóng dẫn đến nhng hậu qunặng nề
vd: v ẽ thanh sơ đô
Mất máu Giảm khối lượng t/h Thiếu oxy não Tim tăng c/n Tăng nhịp , co mạch Giảm nuôi dưỡng cơ tim Qúa tải Suy tim Thiế
u oxy não
+,Vòng xoắn trường diễn: diễn ra trong thời gian dài
Vd: Viêm ruột cấp Viêm mn Ruột dễ kích ứng Tăng nhu động, co thắt Tiêu chảy, đau quặn m hấp thu Suy mòn Thức ăn giàu đạm Ruột
dễ kích ứng.
Ý NGHĨA: trong tiên lượng và điều trbệnh phải nắm rõ chế bệnh sinh và dự đoán các vòng xoắn bệnh có thể xảy ra, để trong phòng và điều trị co biện pháp
dự phòng rơi vào vòng xoắn đó, và khi đã xảy ra phải tìm cách phá vỡ nó bang cach cắt đt nhiều khâu nhất là khâu chính
Câu 7:Phân ch quy luật nhân quả trong bệnh tật.Cho vd chứng minh và nêu ý nghĩa thực tiễn?
Bệnh là sự rối loạn đời sống bình thường của cơ thể,do ảnh hưởng của những c nhân phá hoại khác nhau,sự rối loạn ấy dẫn tới một cân bằng mới kém bền
vững,hạn chế khả năng thích nghi của cơ thể đối với ngoại mô và giảm khả năng lao động của con người.
Bất cứ bệnh nào cũng do những nguyên nhân nhất định gây nên.Nguyên nhân những yếu tquyết định sự phát sinh bệnh tật quyết định đặc điểm riêng từng
bệnh như trực khuẩn lao là nguyên nhân gây bệnh lao với những đặc điểm riêng của bệnh…(tuy nhiên hiện nay còn 1 số bệnh chưa xác đnh đc nguyên nhân chứ ko
phải ko nguyên nhân như bệnh bạch cầu,1 số bệnh tâm thần…).Có rất nhiều nguyên nhân ta thể chia ra nguyên nhân n ngoài(là những mm bệnh,những
4
yếu tngoại mô tác động lên cơ thể như yếu tố học:chấn thương,tai nạn.yếu tố vật :quá nóng,quá lạnh.yếu tố hoá học,yếu tố sinh học…) và nguyên nhân bên
trong như tuổi c ,thể trạng,di truyền.Nhưng cho nguyên nhân nào đi nữa thì khi tác động vào cơ thể gây rối loạn hoạt động bình thường của thể,vượt quá
khả năng thích ứng của cơ thể thì đều gây ra hậu qulà cơ thể bị bệnh.
Những bệnh phức tạp thường diễn biến qua nhiều khâu, tiếp nối nhau theo một trình tự nhất định liên quan mật thiết với nhau. Chính bệnh sinh học nghiên
cứu về cơ chế bệnh sinh của các khâu đó cung xnhư mối tương tác giữa chúng với nhau. Thí dụ liên cầu khuẩn gây viêm họng, rồi từ đó có thể gây viêm màng trong
tim, mà hậu quả là hở van và hẹp van. Những thay đổi về cấu tạo của tim dẫn tới những rối loạn tuần hoàn máu trong tim. Lúc đầu cơ tim còn mnh, đắp được,
song dần dần mất bù, tim bị suy, dẫn tới máu nh mạch hậu qulà phù tràn dịch, rối loạn chuyển hoá chức năng toàn thân, cứ thế diễn biến làm cho
bệnh ngày một nặng.
Cho nên trong quá trình bệnh sinh, nguyên nhân ban đầu gây ra những hậu quả nhất định, những thay đổi này lại trở thành nguyên nhân của những rối loạn mới
các rối loạn này lại thể dẫn tới các hậu quả khác vv... Kết quả là một quá trình bệnh không ngừng phát triển bệnh ngày một nặng.
Đặc biệt quan trọng là trong nhiều quá trình bệnh lý, những khâu sau tác động li khâu trước làm cho bệnh nặng thêm. Thí dụ trong sốc chấn thương nặng gây rối
loạn thần kinh trung ương nghiêm trọng (hưng phấn rồi ức chế) mà hậu quả là thiếu oxy do rối loạn tuần hoàn (suy mạch cấp), thiếu oxy lại tăng cường trạng thái ức
chế thần kinh trung ương khiến rối loạn tuần hoàn hấp thêm nặng, vv... Cứ như vậy khâu nọ tác động lên khâu kia làm cho sốc diễn biến nặng thêm , tạo ra
vòng xoắn bệnh lý làm cho sốc không hồi phục.
Ý nghĩa thực tiễn:
Nhiệm vụ của người thầy thuốc tháy rõ mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng bệnh lý, đánh giá đúng những thay đổi ấy và kịp thời phát hiện những thay đổi
chủ yếu nghĩa những khâu chính trong quá trình bệnh sinh. Điều này rất quan trọng để có mộtch điều trị thích đáng (điều trbệnh sinh ), để kịp thời ngăn chặn
vòng xoắn bệnh khỏi xảy ra một khi đã xảy ra thì phải kịp thời cắt đứt., phá vỡ vòng xoắn, trừ bỏ các rối loạn phục hồi các chức năng . Thí dụ trong suy
tim, trọng tâm điều trị là phục hồi sức co bóp cơ tim kết hợp với chế độ nghỉ ngơi đgiảm bớt gánh nặng đối vớitim đã bị suy. hoặc trong sốc, trọng m điều trị
phục hồi lượng máu lưu thông bằng cách truyền dịch. Trong nhiều trường hợp, phi tìm cách c động lên nhiều khâu cùng một lúc, điển hình trong sốc,
phải tìm cách tác động lên nhiều khâu : rối loạn thần kinh, rối loạn tuần hoàn, rối loạn hô hấp, rối loạn chuyển hoá, vv...
5
u 8 : Tại sao nói đái tháo đường là một bệnh có RLCB nội tiết tố . Hôn mê đái tháo đường chủ yếu do ngun nhân nào gây ra .
Bài Làm
I.ĐTĐ là một rối loạn về cân bằng nội tiết tố là vì:
+ Trước đây người ta cho rằng đái tháo đường là do tổn thương tuỵ đảo nhưng trên thực tế lâm sàng ở những người bị bệnh này thì không phải bao giờ cũng là do
tổn thương tuỵ đảo
+ Một số thống kê cho thấy ĐTĐ đơn thuần tương đối ít gặp mà nó hay đi kèm các rối loạn nội tiết khác và thường thì cứ 1 trường hợp ĐTĐ đơn thuần thì thấy có
2 Đ m theo ưu ng tuyến giáp, 5 ĐTĐ kèm theo ưu năng vỏ thượng thận, 20 ĐTĐ kèm theo ưu năng tuyến n . Khi mổ xác thấy 25% tổn
thương tuỵ đảo, 50% thấy tế bào beta tăng tiết còn 25% thì tuỵ đảo hoàn toàn bình thường .
+ Thực tế bệnh sinh đái tháo đường rất phức tạp nhưng chủ yếu do hai nguyên nhân sau gây nên :
+ Bệnh phát sinh do nguyên nhân tuỵ : do thiếu nguyên liu tổng hợp insullin,tổn thương mao mạch tuyến tuỵ , nhiễm trùng, nhiễm độc ,u tuỵ …, dẫn tới tụy đảo
không sản xuất ra được insulin dẫn tới sự thiếu hụt về số lượng insulin đó là thiếu insulin tuyệt đối hay còn gọi là ĐTĐ typ I.
+ Bệnh phát sinh ngoài nguyên nhân t tụy đó là tế bào beta hoạt động bình thường đôi khi còn tăng tiết insulin nhưng do nhiều nguyên nhân ngoài tuỵ gây ra đã
hạn chế tác dụng của insulin là cho insulin bị mất tác dụng đó thiếu insulin tương đối. Thiếu insulin tương đối thể là do tăng tiết hormon làm ng đường máu
chủ yếu STH, ACTH glucocorticoid(tăng ơng đối do tác dụng của insulin bị giảm).Bệnh này xảy ra khi tiền yên hay vỏ thượng thận tăng cường hoạt động
hay khi giảm chức năng hoặc cắt bỏ tiền yên thì thấy triệu chứng đái tháo đường giảm rệt. Bệnh nhân có u vỏ thượng thận hay u tuỷ thượng thận sau khi cắt bỏ u
thì bệnh chấm dứt .
+ Nhng do trên chứng tỏ bệnh đái tháo đường không những là do thiếu insulin mà còn do tăng tiết hormon c dụng đối lập như hoocmon tuyến tin yên,
vỏ thượng thận và đặc bit khi chức năng tế bào beta đã giảm sẵn
+ Do đó thể quan niêm rằng bệnh đái tháo đường là một bệnh do rối loạn cân bằng nội tiết tố giữa 2 loại hoocmon có tác dụng ngược nhau.Một tác dụng hạ
đường máu và một nhóm tác dụng tăng đường máu.
+ Với khái niệm này thể đưa ra phương pháp điều trị thích hợp nhất như cắt bỏ u tiền yên vỏ hay tuỷ thượng thận , ức chế chức năng của các tuyến nội tiết
khác
+ Bệnh đái tháo đường còn do insulin tăng cường phân huỷ dưới tác dụng của enzym insulinase kháng thể kháng insulin tác dụng trung hoà , kết hợp,
phong bế insulin, ở người tiêm insulin dài ngày thi trong máu nồng độ kháng thể kháng insulin cao nên phải tiêm insulin nồng độ cao hơn so với bình thường
+ Tóm lại nguyên nhân gây bệnh đái thoá đường rất phức tạp cho nên cần quan niệm đái tháo đường hội chứng chứ không phải là một bệnh .
II.Ngun nhân gây hôn mê đái tháo đường
+ Có rất nhiều nguyên nhân gây nên trạng thái hôn mê trong hội chứng đái tháo đường nhưng nguyên nhân chủ yếu là do tăng mnh thể ceton trong máu .
+ Nguyên nhân tăng thể ceton trong máu là do thiếu insulin n enzym pyruvatkinase không được hoạt hoá dẫn tới giảm tổng hợp acid pyruvic từ PEP mà acid
pyruvic nguyên liệu tổng hợp acid oxaloacetic , mà muối của oxaloacetic oxaloacetat lại chất mồi của AcetylCoA trong vòng Krebs , nên khi giảm insulin
thì AcetylCoA không o được vòng Krebs dẫn tới giảm sử dụng vòng Krebs ( chuyển hoá ái khí ) thiếu năng lượng nên thể sẽ ng chuyển hoá yếm khí,
chuyển hoá yếm khí tạo ít năng lượng nên giảm tổng hợp glucid, protid và lipid từ AcetylCoA do quá trình tổng hợp cần nhiều năng lượng.
+ AcetylCoA không được sdụng để tổng hợp không vào được vòng Krebs nên chuyn sang sử dụng để tổng hợp cholesterol và các thể cetonic gây nhiễm độc tế
bào và ức chế thần kinh gây trạng thái hôn mê, tăng tổng hợp cholesterol trong máu dẫn tới xơ cứng mch máu có thể gây nhồi máu cơ tim, viêm thận…
+ Tuy nhiên trong một số trường hợp thể cetonic trong máu tăng nhiều song vẫn không phát sinh n đái tháo đường do đó những yếu tố khác cũng p
phần gây nên trạng thái này như :
+ Thiếu insulin đã giảm sử dụng glucose trong tế o do đó hạn chế năng lượng giải phóng làm hạn chế chức ng bình thường của mọi quan đặc biệt vỏ
não, mặt khác thì tế bào não hấp thu oxy cùng với glucose nên khi giảm hấp thu glucose tnão thiếu oxy làm giảm hoạt động góp phần tạo trạng thái hôn mê
+ Ngoài ra t khi thể mất nước mất muối hay rối loạn cân bằng điện giải cũng yếu tố đáng kể gây hôn mê trong đái tháo đường .