Cơ hội và thách thức cho Doanh nghiệp Việt nam khi gia nhập Afta và hội nhập quốc tế - 2

Chia sẻ: Cao Tt | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
219
lượt xem
76
download

Cơ hội và thách thức cho Doanh nghiệp Việt nam khi gia nhập Afta và hội nhập quốc tế - 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tự do hoá thương mại ASEAN bằng việc loại bỏ các hàng rào thuế quan trong nội bộ khu vực và cuối cùng là các rào cản phi thuế quan. Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc đưa ra một khối thị trường thống nhất. Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi, đặc biệt là việc phát triển của các thoả thuận thương mại khu vực (Regional trade arrangement - RTA) trên thế giới. II. Những cơ hội và thách thức của nền thương mại...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cơ hội và thách thức cho Doanh nghiệp Việt nam khi gia nhập Afta và hội nhập quốc tế - 2

  1. Tự do hoá thương mại ASEAN bằng việc loại bỏ các hàng rào thu ế quan trong nội bộ khu vực và cuối cùng là các rào cản phi thuế quan. Thu hút các nhà đầu tư nước ngo ài vào khu vực bằng việc đưa ra một khối thị trường thống nhất. Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi, đ ặc biệt là việc phát triển của các thoả thuận thương m ại khu vực (Regional trade arrangement - RTA) trên thế giới. II. Những cơ hội và thách thức của nền thương mại Việt Nam khi gia nhập AFTA. 1 . Thách thức. Qua phân tích cụ thể những lợi thế so sánh của Việt Nam và các nước, chúng ta có th ể thấy đ ược những khó khăn của Việt Nam khi tham gia vào tổ chức liên kết kinh tế khu vực. Trước hết đó là sự khác biệt về thể chế và cơ chế quản lý kinh tế. Nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trư ờng. Các quan hệ thị trường trong nền kinh tế Việt Nam thực sự chưa trưởng th ành (cái quán tính của cung cách quan liêu, bao cấp trong quản lý còn nặng nề). Điều n ày th ể hiện mức độ sẵn sàng đón nhận tiến trình AFTA chưa cao xét về mặt cơ chế quản lý. Quan trọng h ơn nữa khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế giữa Việt Nam và các nư ớc ASEAN (về thu nhập bình quân trên đ ầu người, dự trữ ngoại tệ, tỷ lệ lạm phát, vốn đầu tư, trình độ công nghệ... ) cho thấy sự cách biệt quá lớn bất lợi cho Việt Nam cũng là mối lo ngại cho quá trình hội nhập này. Trình độ công nghệ sản xuất hiện nay ở ta, đặc biệt trong các ngành chủ chốt như công nghiệp chế tạo, chế
  2. b iến, còn ở mức yếu kém thì liệu có đủ sức cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trườn g hay chỉ là nơi tiêu thụ h àng hoá của các nước ASEAN thậm chí nhiều doanh nghiệp bị phá sản, thất nghiệp theo đó tăng... Do cơ cấu ngành hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam và phần lớn các nước ASEAN tương đối giống nhau, vì vậy có thể gây ra sự cạnh tranh nội bộ khu vực trong việc thu hút đầu tư, tìm kiếm thị trường và công nghệ (ở mức độ khác nhau). Ngoài ra cò phải kể đến sự cạnh tranh của cả khối với Trung Quốc trong cả thương m ại và đầu tư nước ngoài. Một trong những khó khăn và có lẽ đây là khó khăn lớn nhất mà Việt Nam sẽ phải đương đầu trong quá trình hội nhập là nhân tố về con người do trình độ, kể cả cán bộ quản lý kinh tế và các doanh nhân còn chưa đáp ứng được với nhu cầu đặt ra của tình hình m ới. Nếu chỉ xét riêng về thực trạng của các doanh nghiệp Việt Nam trong môi trường cạnh tranh thì phần lớn các doanh nghiệp còn rất non trẻ, thiếu vốn kinh doanh cũng như trình độ quản lý, tín nhiệm và b ề d ày kinh nghiệm. Phần lớn các doanh n ghiệp đều mới bước vào thương trường nên có nhiều hạn chế, thể hiện ở các m ặt như: kinh doanh trên diện mặt h àng rộng nhưng thiếu chuyên ngành; mạng lưới tiêu thụ còn mong manh; các doanh nghiệp còn chưa quan tâm và ít thành công trong việc xây dựng khối các khách h àng tin cậy và lâu bền; thiếu thông tin và thiếu hiểu biết về thị trường và khách hàng; Thiếu các hoạt động xúc tiến thương m ại dưới nhiều hình thức như thông tin thương mại, hỗ trợ triển l•m quảng cáo, tư vấn về thị trường, môi trường đầu tư, tìm đối tác kinh doanh... Ngoài ra, tác động không thuận lợi đến các doanh nghiệp còn có nh ững vấn đề về môi trường vĩ mô
  3. thiếu ổn định với một hệ thống các thủ tục h ành chính phức tạp và không rõ ràng. Thủ tục lập doanh nghiệp, lập chi nhánh, đại diện, mạng lưới kinh doanh trong tỉnh, ngoài tỉnh, ngoài nư ớc nói chung có tác dụng kìm h•m hơn là khuyến khích kinh doanh. Tóm lại, có thể thật sự hội nhập được với khu vực, chúng ta phải vượt lên những trì trệ của chính mình, đạt được sự ổn định về chính trị, kinh tế, x• hội đi kèm với sự tăng trư ởng về kinh tế. Sự tăng trưởng cùng nhịp độ với các nư ớc trong khu vực sẽ là cơ sở đảm bảo về lâu dài để có sự liên kết giữa Việt Nam với các nư ớc thành viên ASEAN đư ợc bền chặt trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Bên cạnh những khó khăn rất lớn, chúng ta cũng có những thuận lợi nhất định khi hội nhập với ASEAN. Việt Nam và các nước ASEAN là những nước láng giềng đ • có truyền thống giao lưu kinh tế, văn hoá và tương đối hiểu biết lẫn nhau. Bên cạnh đó, đ ường lối đổi mới của Việt Nam đang tiến tới để hội nhập trong sự thống nhất của khu vực. Liên kết kinh tế giữa Việt Nam và ASEAN là xu thế tất yếu của mỗi n ước trong quá trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và toàn cầu, bởi lẽ nó phù hợp với lợi ích của mỗi quốc gia. 2 . Cơ hội. Tham gia hợp tác kinh tế, thương mại với khu vực, Việt Nam có thể thu được một số cơ hội và thuận lợi sau đây: Th ứ nhất, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN là sự kiện đánh d ấu bước phát triển của Việt Nam trong quan hệ quốc tế để hội nhập với nền kinh tế khu vực và th ế giới. Có Việt Nam trong ASEAN sẽ góp phần quan trọng tạo ra sự thống nhất mới trong ASEAN, từ đó tạo ra nhiều lợi ích cho Việt Nam và các
  4. nước thành viên. Trọng tâm của hợp tác kinh tế trong ASEAN những năm gần đây là hợp tác phát triển th ương mại, trong đó cốt lõi là việc hình thành AFTA, thực h iện chương trình ưu đ•i thuế quan có hiệu lực chung CEPT, h ình thành nên một th ị trường thống nhất cho mọi nước th ành viên. Việc tham gia vào chương trình n ày là điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế và thương mại, thúc đẩy nhanh chóng quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Khi các nư ớc cắt giảm dần thuế th ì hàng hoá Việt Nam sẽ có cơ hội tốt h ơn đ ể xâm nhập vào th ị trường khu vực và th ế giới. Th ứ hai, Việt Nam có điều kiện để mở rộng thị trư ờng ưu đ•i của AFTA. Kinh n ghiệm các nước trong khối cho thấy rằng, gia nhập ASEAN, Việt Nam có đủ đ iều kiện để mở rộng thị trường sang các nước trong và ngoài khu vực. Hiện nay, khoảng 30% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam là từ các nước thuộc ASEAN. Các m ặt hàng được Nhà nước ưu tiên nhập khẩu như máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu sản xuất công nghiệp khi tham gia vào AFTA, CEPT thì các mặt hàng này sẽ giảm thuế nhập khẩu tới 5%. Như vậy, khi đó luồng hàng nhập khẩu sẽ được mở rộng nhanh chóng. Hơn nữa, do cơ cấu danh mục h àng hoá tham gia CEPT bao gồm cả nông sản thô và nông sản chế biến nên nếu Việt Nam tăng cường sản xuất hàng nông sản thì sự cắt giảm về thuế sẽ trở thành yếu tố kích thích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất mặt h àng này để xuất khẩu sang ASEAN và các nước ngo ài khu vực. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam tăng dung lượng cung hàng hoá của mình trên th ị trường và tham gia cạnh tranh trên th ị trường thế giới .
  5. Th ứ ba, tham gia hợp tác kinh tế, thương m ại với khu vực, Việt Nam có điều kiện thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu. Th ứ tư, có điều kiện để thu hút được nhiều vốn đầu tư từ những n ước thừa vốn và đ ang có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh sang các ngành có hàm lượng kỹ thuật cao, sử dụng ít nhân công trong khu vực như Singapore, Malaysia, Thái Lan... Th ứ năm, có điều kiện để tiếp thu công nghệ và đào tạo kỹ thuật cao ở các ngành cần nhiều lao động mà các nước đó đang cần chuyển giao. Sử dụng vốn và k ỹ thuật cao của các nước trong khu vực để khai thác khoáng sản và xây d ựng cơ sở h ạ tầng Th ứ sáu, tận dụng ưu th ế về lao động rẻ và có hàm lượng chất xám cao để đẩy m ạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang các nước trong khu vực. Th ứ bảy, một trong những quy định về sản phẩm được hưởng quy chế Hệ thống ưu đ•i thuế quan phổ cập (GPS) của Mỹ là "trị giá nguyên liệu cho phép nhập để sản xuất h àng hoá đó phải dưới 65% toàn bộ giá trị của sản phẩm đó khi vào l•nh thổ hải quan Mỹ" và "giá trị một sản phẩm được chế tạo ở hai hoặc trên hai nư ớc là hội viên của một hiệp hội kinh tế, liên minh thuế quan, khu mậu dịch tự do thì được coi là sản phẩm của một nước". Vì vậy, việc Việt Nam tham gia AFTA sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam vẫn có thể nhập nguyên liệu của các nư ớc ASEAN khác đ ể sản xuất và sản phẩm đó vẫn được GPS. Kết luận Việc nhìn nhận được những cơ hội và thách thức đóng một vai trò hết sức quan trọng cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nó giúp các doanh nghiệp nh ìn nh ận được những mặt còn yếu kém p hát huy nh ững
  6. m ặt mạnh đồng thời học hỏi được những kinh nghiệm quý giá từ những nền kinh tế phát triển.Qua đó sẽ giúp các doanh nghiệp tìm đ ược chỗ đứng cho m ình trên đ ấu trường quốc té.Sự th ành công của các doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế của Việt Nam nói chung như khẳng định một cách đúng đắn chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn. Tài liệu tham khảo 1.Tạp chí thương m ại số :12(2000);17;19;24(2001) 2.Ngoại th ương số 21-27/4/2000 3.Hiệp định thương m ại Việt- Mỹ 4.Kinh tế và dự báo số 1,4,5(2000);4(2001) 5.Tạp chí phát triển kinh tế số 23(2000) 6.Tạp chí kinh tế phát triển số 10+11(2001) 7.Thời báo kinh tế Sài Gòn(9/8/2001) 8.Bản tin nội bộ câu lạc bộ chất lượng 9.Đổi mới chất lượng sản phẩm trong thời kỳ đổi mới-Hoàng Mạnh Tuấn 10.Chiến lược chất lượng và giá cả sản phẩm xuất khẩu của các loại doanh nghiệp n gành công nghiệp nhẹ-Hà Nội năm 2000 11.Bộ tài chính:Thời báo tài chính Việt Nam số 30(9/3/2001) 12.Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN tài liệu Bộ KH-ĐT

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản