Đặc điểm của chèo Việt Nam
Không giống tuồng chỉ ca tụng hành động anh ng của c giới
quyền quý, chèo miêu tả cuộc sống bình dị của người dân nông thôn.
Khát vọng sống thanh bình giữa một hội phong kiến đầy bất công.
nhiều vở chèo còn thể hiện cuộc sống vất vả của người phụ nữ sẵn sàng
hy sinh bản thân vì người khác.
Nội dung của các vở chèo lấy từ những truyện cổ tích, truyện Nôm; được
nâng n một mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trị hiện thực
tưởng sâu sắc. Trong chèo, cái thiện luôn thắng cái ác, c sỹ tử tốt bụng, hiền
lành, luôn đỗ đạt, làm quan còn người vợ thì tiết nghĩa, cuối cùng sẽ được đoàn
tụ với chồng.
Các tích trò chủ yếu lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm; ca vũ nhạc từ dân
ca dân vũ; lời thơ chủ yếu thơ dân gian. Lối chèo thường diễn những việc vui
cười, những thói xấu của người đời như c vai: Thầy mù, Hương câm, Đồ điếc,
Quan Âm Thị Kính. Ngoài ra chèo còn thể hiện tính nhân đạo, như trong vở
Trương Viên.
Một cảnh trong vở Trương Viên
Vai hề
Chèo luôn gắn với chất "trữ tình", thể hiện những xúc cảm tình cảm
nhân của con người, phản ánh mối quan tâm chung của nhân loại: tình yêu, tình
bạn, tình thương.
Nhân vật trong Chèo
Nhân vật trong chèo thường mang tính ước lệ, chuẩn hóa rập khuôn.
Tính cách của các nhân vật trong chèo thường không thay đổi với chính vai diễn
đó. Những nhân vật phcủa chèo thể đổi đi lắp lại bất cứ vnào, nên
hầu như không tên riêng. Có thể gọi họ là thầy đồ, phú ông, thừa tướng, thư
sinh, hề v.v...Tuy nhiên, qua thời gian, một số nhân vật nThiệt Thê, Thị Kính,
Thị Mầu, Súy Vân đã thoát khỏi tính ước lệ đó trở thành một nhân vật
tính riêng.
Diễn viên đóng chèo nói chung những người không chuyên, hợp nhau
trong những tổ chức văn nghệ dân gian gọi phường chèo hay phường
trò..."Hề" một vai diễn thường trong các vở diễn chèo. Anh hề được phép
chế nhạo thoải mái cũng như những anh htrong cung điện của vua chúa châu
Âu.
Các cảnh diễn có vai hề là nơi để cho người dân đả kích những thóitật
xấu của xã hội phong kiến hay kể cả vua quan, những người quyền, của
trong làng xã. Có hai loại hề chính bao gồm :hề áo dài và hề áo ngắn
Kỹ thuật kịch
Đây là loại hình nghệ thuật tổng hợp các yếu tố dân ca, dân vũ và các loại
hình nghthuật dân gian khác vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nó hình thức kể
chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu diễn viên làm phương tiện giao lưu với
công chúng, và có thể được biểu diễn ngẫu hứng.
Sân khấu chèo dân gian đơn giản, những danh từ chèo sân đình, chiếu
chèo cũng phát khởi từ đó. Đặc điểm nghệ thuật của chèo bao gồm yếu tố kịch
tính, kthuật tự sự, phương pháp biểu hiện tính cách nhân vật, tính chất ước lệ
và cách điệu.
Ngôn ngữ chèo những đoạn sử dụng những câu thơ chữ Hán, điển cố,
hoặc những câu ca dao với khuôn mẫu lục bát rất tự do, phóng khoáng về câu
chữ.
Chèo không cấu trúc cố định năm hồi một kịch như trong sân khấu
châu Âu các nghệ sỹ tham gia diễn chèo thường ng diễn. Do vậy, vở kịch
kéo dài hay cắt ngắn tuỳ thuộc vào cảm hứng của người nghệ sỹ hay đòi hỏi của
khán giả.
Không giống các vở opera buộc các nghệ sỹ phải thuộc lòng từng lời
hát theo nhạc trưởng chỉ huy, nghệ sỹ chèo được phép tự do bẻ làn, nắn điệu để
thể hiện cảm xúc của nhân vật. Số làn điệu chèo theo ước tính khoảng trên
200.
Nhạc cụ
Chèo sử dụng tối thiểu hai loại nhạc cụ dây đàn nguyệt và đàn nhị
đồng thời thêm cả sáo nữa. Ngoài ra, các nhạc công còn sử dụng thêm trống và
chũm chọe. Bộ nếu đầu đủ thì trống cái, trống con, trống cơm, thanh la,
mõ.
Trống con dùng để giữ nhịp cho hát, cho múa và đệm cho câu hát.
câu nói phi trống bất thành chèo" chỉ vị trí quan trọng của chiếc trống trong
đêm diễn chèo. Trong chèo hiện đại sử dụng thêm các nhạc cụ khác để làm
phong phú thêm phần đệm như đàn thập lục, đàn tam thập lục, đàn nguyệt, tiêu
v.v...
Chèo hay thế, độc đáo thế, nhưng bộ môn nghthuật truyền thống
này với đặc điểm hiện diện là biểu diễn - các trình thức múa hát xung quanh một
thân trò, bởi thế cho n, chèo được lưu truyền chủ yếu qua một trật tự hết sức
tự nhiên: thày giáo già- con hát trẻ. Thế hệ nghệ sỹ sau, nối tiếp thế hệ trước,
giữ nghề bằng cách truyền nghề trực tiếp, bắt tay chỉ ngón, dạy từng cách diễn,
cách hát.
Phần kịch bản văn học của chèo ccũng chỉ đếm trên đầu ngón tay với
một vài bản nôm, gần hơn một vài bản bằng chquốc ngữ in trong trời Pháp
thuộc (nhưng những bản này lại không mấy chình xác so với những lớp diễn của
các nghệ nhân!). Thực tế này một khó khăn, thách thức lớn đối với công việc
nghiên cứu, sưu tầm chèo cổ.
Từ năm 1959 đến m 1964, Bộ văn hoá (nay BVH,TT&DL) đã tổ
chức các Hội nghị nghệ nhân. Mỗi đợt hội nghị diễn ra trong vòng từ một đến ba
tháng. Tại đây, qua sự giới thiệu của các Ty Văn Hoá địa phương, các nghệ nhân
chèo đã được mời đến với mục đích phục hồi các tiết mục chèo cổ.
Trong thời gian họp lại với nhau, các cụ nghệ nhân đã chia tổ, cùng nhau
nhớ, ghim ghép các mảnh trò, trò diễn lại với nhau. Trong quá trình hội nghị,
vốn liếng nhân đã dần dần đi tới thống nhất tương đối về mặt cấu trúc của
các trò diễn.
Từ những sáng tạo biểu diễn riêng biệt, mỗi chiếng diễn một khác, mỗi cụ
diễn một khác đối với ng một trò diễn hay vai diễn, các nghệ nhân đã gạn đục
khơi trong, xây dựng những trích đoạn những vai diễn tiêu biểu, sau này chúng
ta lấy đó làm mẫu.
Cho đến hôm nay, 7 vở chèo truyền thống được gìn giữ, bảo tồn đã cho
thấy hành trình bảo tồn, sáng tạo nghệ thuật không chỉ tính bằng tháng năm
thông thường phải được tính bằng đời nghệ sỹ, tính bằng những thăng trầm
lòng nhiệt huyết với nghề tổ. Các nghệ nhân được quy tụ, tập hợp, khuyến
khích sáng tạo trong môi trường lao động nghthuật đúng hướng thực chất
sẽ mang lại hiệu quả lớn mà thời gian công chúng thưởng thức nghệ thuật sẽ
là thước đo đánh giá chính xác.
Trên đường phát triển của mình, chèo đã tiếp nhận nhiều nhân tố mới lạ
cả về cấu trúc lẫn âm nhạc, múa, mỹ thuật... Những thủ pháp cấu trúc của kịch
nói (gốc phương Tây) đã được du nhập vào chèo để phục vcho việc kể chuyện
của chèo thêm hấp dẫn, nhưng đã được "chèo hóa", hài a trong mạch kể.
Những làn điệu dân ca các vùng, miền Trung, miền Nam, các dân tộc miền núi,
thậm chí của cả ớc khác trên thế giới cũng được "chèo hóa" đi cho phù hợp
với phong cách của nó, phù hợp với "khẩu vị" của người dân quê đồng bằng Bắc
bộ Việt Nam.