
128
Trong bài thơ Đường luật 8 câu, thì các câu 3 và 4, 5 và 6 nhất thiết
phải đối nhau: lời và ý phải cân xứng, chọi nhau; thanh bằng và thanh trắc
đối nhau. Như ở bài "Thăng Long thành hoài cổ" có các cặp đối nhau như
sau:
Câu 3: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, đối
Câu 4: Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương. nhau
Câu 5: Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, đối
Câu 6: Nước còn chau mặt với tang thương. nhau
Nếu câu 1 của bài thơ trốn vần, thì câu 1 và 2 phải đối nhau (song
phong). Trong trường hợp đó, bài thơ sẽ có 3 cặp đối nhau: câu 1 và 2, câu 3
và 4, câu 5 và 6.
d). Về niêm
Niêm (nghĩa đen là dính với nhau), là sự liên quan về âm luật của từng
cặp dòng thơ: bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. Niêm tính từ âm tiết
thứ nhì của mỗi dòng thơ theo hệ thống dọc. Cụ thể là:
- Âm tiết thứ nhì câu 1 niêm với âm tiết thứ nhì câu 8
- Âm tiết thứ nhì câu 2 niêm với âm tiết thứ nhì câu 3
- Âm tiết thứ nhì câu 4 niêm với âm tiết thứ nhì câu 5
- Âm tiết thứ nhì câu 6 niêm với âm tiết thứ nhì câu 7
Câu tóm tắt về niêm để dễ nhớ như sau: " Nhất - bát, nhị - tam; tứ-
ngũ; lục- thất".
Đảm bảo được các tiếng bằng - trắc như trên là hợp niêm; không đảm
bảo được là thất niêm (mất sự dính liền ).
e). Về luật bằng trắc

129
Thơ Đường luật có sự quy định về bằng trắc cho từng câu và toàn bài.
Hệ thống bằng - trắc được tính từ âm tiết thứ hai của câu thứ nhất: nếu âm
này là bằng thì bài thơ thuộc thể bằng và ngược lại.
Ví dụ:
Thể bằng: Cũng cờ cũng biển cũng cân đai.
(Ông nghè tháng tám - Nguyễn Khuyến)
Thể trắc: Nhà nước ba năm mở một khoa.
(Vịnh khoa thi hương - Tú Xương)
Việc theo đúng luật bằng trắc là rất khó, nên có biệt lệ cho phép hệ
thống ngang như sau:
- Các âm tiết thứ hai, thứ 4, thứ 6 trong mỗi dòng thơ phải theo đúng
luật bằng trắc.
- Các âm tiết thứ 1, thứ 3, thứ 5 có thể linh động, châm chước hoặc
trắc, hoặc bằng.
Câu tóm tắt để dễ nhớ là: " Nhất - tam - ngũ bất luận, nhị - tứ - lục
phân minh", nghĩa là: các âm tiết thứ 1, thứ 3, thứ 5 không kể; các âm tiết
thứ 2, thứ 4, thứ 6 phải rõ ràng.
Có thể tổng hợp tất cả các yếu tố: bố cục, vần, đối, niêm, luật bằng
trắc, biệt lệ của bài thơ thất ngôn bát cú qua các bảng dưới đây.
Thể bằng (âm tiết thứ 2 của câu 1 mang thanh bằng):
Âm tiết thứ -> 1 2 3 4 5 6 7
Đề I b b t t t b b -> Vần
hoặc
trốn vần
II t t b b t t b-> vần
niêm

130
Thực Đối nhau III t t b b b t t
IV b b t t t b b-> vần
niêm
Luận Đối nhau V b b t t b b t
VI t t b b t t b-> vần
niêm
Kết VII t t b b b t t
VII b b
t t t b b-> vần
nhị tứ lục
Ví dụ:
THU ĐIếU
Đề Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Thực Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Luận Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Kết Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
( Nguyễn Khuyến)
Thể trắc (âm tiết thứ 2 của câu 1 mang thanh trắc):
Âm tiết thứ -> 1 2 3 4 5 6 7
Đề I t t b b t t b -> Vần
ho
ặc
trốn vần
II b b t t t b b-> vần
niêm

131
Thực Đối nhau III b b t t b b t
IV t t b b t t b-> vần
niêm
Luận Đối nhau V t t b b b t t
VI b b t t t b b-> vần
niêm
Kết VII b b t t b b t
VII t t
b b t t b-> vần
nhị tứ lục
Ví dụ:
QUA ĐÈO NGANG
Đề Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Thực Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
Luận Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Kết Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
(Bà Huyện Thanh Quan)
Hai bài Thu điếu và Qua đèo Ngang vừa đưa làm ví dụ ở trên có thể
coi là hai bài mẫu mực cho thể bằng và thể trắc của thơ thất ngôn bát cú.
Thơ Đường luật đã có những bài nổi tiếng trong văn học Trung Quốc
và Việt Nam. Trong quá trình sử dụng thơ Đường luật, các nhà thơ đã sáng
tác ra nhiều dạng khác nhau, nhưng vẫn mang được cốt cách của thơ luật

132
Đường như: song điệp (trong mỗi câu đều có hai âm tiết trùng điệp), tiệt hạ
(hoặc triệt hạ) - (sau mỗi câu đều có chấm lửng, ý thơ dường như chưa dứt),
Thủ vĩ ngâm (câu đầu và câu cuối bài giống nhau); Hồi văn, còn gọi là thuận
nghịch độc (bài thơ đọc ngược, đọc xuôi đều có nghĩa); Yết hậu (câu sau
cùng chỉ có một âm tiết - nghĩa là cụt ở sau) và một vài dạng khác nữa...
Do thơ Đường luật bị gò bó về hình thức, nên khó phô diễn những
tình cảm phong phú của con người thời nay. Mặc dầu vậy, thơ Đường luật
vẫn xuất hiện trong một số hoạt động văn hoá của dân tộc ta như thơ chúc
tết, thơ mừng thọ, thơ châm biếm...
2.6.4. Thơ tự do
Khi nói đến thơ tự do là nói đến một thể thơ không bị ràng buộc vào
những quy tắc như thơ Đường, thơ lục bát...tức là không bị gò bó về vần
điệu, về hạn định câu chữ, tạo điều kiện cho nhà thơ diễn tả đối tượng, thể
hiện nội dung một cách đắc lực nhất. Có thể nhận thấy một số nét đặc trưng
của thơ tự do như sau:
Số âm tiết trong dòng thơ:. Có thể từ 1 đến 10, 12 âm tiết trong một
dòng thơ và các dòng thơ cũng không nhất thiết phải có số âm tiết như nhau:
Số câu trong một bài thơ cũng không có hạn định,
Cách gieo vần rất linh hoạt: trong bài có thể gieo những vần khác
nhau, thậm chí ngay cả ở từng đoạn thơ cũng vậy. Có thể gieo đủ các loại
vần: vần chân, vần lưng, vần liền, vần hỗn hợp... cốt sao thể hiện được đầy
đủ nhất, sâu sắc nhất những cảm xúc của nhà thơ.
Nhịp điệu thơ tự do cũng rất cơ động, biến hoá: Nhịp thơ được ngắt
tuỳ theo cảm xúc của tác giả.
Với những đặc điểm nêu trên, liệu có thể coi thơ tự do là có tính chất
tuỳ tiện trong cấu tạo hình thức hay không? Thực chất là không thể được, vì

