intTypePromotion=3

Đề cương ôn tập môn Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam

Chia sẻ: Đinh Văn Huy | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:16

0
25
lượt xem
1
download

Đề cương ôn tập môn Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề cương ôn tập môn những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam gồm 7 câu hỏi lý thuyết, giúp bạn làm quen với hình thức thi của môn học, hệ thống lại kiến thức qua các câu hỏi, bài tập và tự đánh giá năng lực của mình. Mời bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề cương ôn tập môn Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam

  1. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy Câu 1:  Hãy làm sáng tỏ  những sáng tạo của Hồ  Chí Minh trong việc vận dụng học thuyết Mác­Lênin về  Đảng của giai cấp công nhân vào xây dựng Đảng ta? Câu 2: Trình bày những nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ. Câu 3: Tính tất yếu lịch sử của sự ra đời của Đảng CSVN. Câu 4: Nội dung và ý nghĩa đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng giai đoạn 1945 ­  1954. Câu 5: Vị trí và vai trò của miền Bắc đối với sự nghiệp cách mạng cả nước giai đoạn 1954­1975. Câu 6: Nội dung cơ  bản đường lối đổi mới được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  VI của   ĐCSVN (12/1986). Câu 7: Thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm của 25 năm đổi mới đất nước?
  2. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy Câu 1: Hãy làm sáng tỏ những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng học thuyết Mác­Lênin   về Đảng của giai cấp công nhân vào xây dựng Đảng ta? Học thuyết Mác là một học thuyết khoa học nhất, cách mạng nhất, đã chứng minh qua phong trào đấu tranh   của giai cấp vô sản. Là học thuyết duy nhất nêu lên con đường để đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người.   Là học thuyết kế thừa những tinh hoa của nhân loại, của xã hội. Lê nin viết: “Học thuyết của Mác là học thuyết vạn   năng vì nó là một học thuyết chính xác. Nó là một học thuyết hoàn chỉnh và chặt chẽ; nó cung cấp cho con người ta   một thế  giới quan hoàn chỉnh, không  thỏa hiệp với một thế  giới quan mê tín nào, một thế  lực phản động nào, một   hành vi nào bảo vệ sự áp bức của tư  sản. Nó là người thừa kế  chính đáng của tất cả  những cái tốt đẹp nhất mà loài  người tạo ra hồi thế kỷ XIX, đó là triết học Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp”.   Những nội dung cơ bản trong học thuyết của V.I. Lênin về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân phát triển   sáng tạo những luận điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về chính đảng độc lập của giai cấp công nhân, sau khi khái quát   một cách khoa học và phân tích toàn bộ kinh nghiệm đã tích lũy được của phong trào công nhân Nga, với những điều  kiện lịch sử  mới trong thời đại đế  quốc chủ  nghĩa và cách mạng vô sản. V.I. Lênin đã xây dựng nên học thuyết về  Đảng cách mạng của giai cấp công nhân, một Đảng khác hẳn về chất so với các Đảng cơ hội chủ nghĩa trong Quốc tế   II. Sở dĩ có thể coi những luận điểm của V.I. Lênin về Đảng cách mạng của giai cấp công nhân là học thuyết về Đảng   kiểu mới là bởi V.I. Lênin đã khái quát những tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen, phát triển lên tầm cao mới và đưa   đến sự ra đời một lý luận hoàn chỉnh về Đảng của giai cấp công nhân. Nền tảng tư tưởng của Đảng, theo V.I. Lênin,   một Đảng chân chính phải là một Đảng trung thành với chủ nghĩa Mác, kiên quyết đấu tranh chống mọi thứ chủ nghĩa   cơ hội hòng xét lại, xuyên tạc chủ nghĩa Mác. Đồng thời, phải coi chủ nghĩa Mác không phải là giáo điều mà là kim chỉ  nam cho hành động, phải biết phân biệt chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo, phát triển nó về mọi mặt. Và nhiệm vụ của   những người cộng sản, theo V.I. Lênin, là phải học tập ngày càng nhiều hơn tất cả  các vấn đề  lý luận, phải tự  giải   thoát ngày càng nhiều hơn khỏi  ảnh hưởng của những quan niệm cổ  truyền về thế giới quan cũ, và không bao giờ   được quên rằng CNXH, từ  khi trở  thành một khoa học, đòi hỏi phải được coi là một khoa học, nghĩa là phải được  nghiên cứu xây dựng Đảng về chính trị cùng với việc xây dựng nền tảng tư tưởng, lý luận thì vấn đề về bản chất giai  cấp công nhân của Đảng là một nội dung rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công  nhân theo quan điểm của V.I. Lênin. Trên cơ  sở  xây dựng và củng cố  nền tảng tư  tưởng cùng với bản chất giai cấp   công nhân của Đảng, V.I. Lênin đã vạch ra một kế hoạch xây dựng Đảng có tính sáng tạo để chuẩn bị về mặt tổ chức  cho việc xây dựng Đảng công nhân dân chủ ­ xã hội Nga. V.I. Lênin đã đề cập một cách toàn diện các nguyên tắc xây   dựng Đảng như: nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong Đảng, . . nhằm tăng cường sức chiến đấu   của Đảng, giúp Đảng lãnh đạo sự  nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi.   Những nguyên tắc của V.I. Lênin trong việc   xây dựng Đảng và tổ chức có quan hệ với nhau rất chặt chẽ, nó có ý nghĩa rất lớn, quyết định đến việc Đảng của giai   cấp công nhân có hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình hay không? Có đủ sức lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến   hành cuộc đấu tranh lật đổ  giai cấp tư sản, xây dựng xã hội mới ­ xã hội cộng sản chủ nghĩa hay không? Nhưng nếu   Đảng chỉ mạnh về tổ chức thôi thì chưa đủ mà Đảng của giai cấp vô sản phải được xây dựng dựa trên cơ  sở  lý luận,   tư  tưởng của chủ  nghĩa Mác, Đảng phải đại diện cho quần chúng nhân dân, là đội tiên phong lãnh đạo của giai cấp   công nhân và nhân dân lao động thông qua cương lĩnh, điều lệ  của mình. Đó là những điều kiện cần và đủ  để  một   đảng kiểu mới của giai cấp công nhân có thể hoàn thành xuất sắc được nhiệm vụ của mình. Sự ra đời của Đảng Công   nhân dân chủ  ­ xã hội Nga năm 1903 được tổ  chức theo những nguyên tắc trong học thuyết của V.I. Lênin về  Đảng   kiểu mới đã chứng minh sự thắng lợi của tư tưởng của V.I. Lênin trong việc xây dựng Đảng trên cơ sở của chủ nghĩa   quốc tế vô sản. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của học thuyết của V.I. Lênin về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân   không những đã đem lại thắng lợi cho nhân dân Nga mà còn đem lại thắng lợi cho phong trào giải phóng dân tộc  ở  nhiều nước trên thế giới.  Thực tế lịch sử  của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế  đã chứng minh rằng, học thuyết Mác ­ Lênin   về Đảng cộng sản đến nay vẫn có giá trị to lớn. Mặt khác, học thuyết Mác ­ Lênin về chính đảng cách mạng của giai   cấp công nhân với thuộc tính cách mạng và khoa học của nó đòi hỏi các chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân   phải xuất phát từ điều kiện cụ thể của dân tộc, giai cấp, thực tiễn chính trị và xã hội của đất nước mình mà vận dụng   sáng tạo.    Ngay từ  năm 1924, Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ  Chí Minh) đã xác định rất rõ ràng rằng: Học thuyết Mác   Lênin là học thuyết cách mạng nhất, đúng đắn nhất và đó cũng là học thuyết duy nhất có thể soi đường cho cách mạng  Việt Nam. Song, Người vẫn hết sức trăn trở, bởi vì Người nhận thấy: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một   triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Đó là lịch sử  châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể  nhân loại”. Từ đó, Người đi đến một quyết định, phải “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó   bằng dân tộc học phương Đông”. Xuất phát từ ý tưởng đúng đắn này, Người đã vận dụng học thuyết Mác  ­ Lênin vào 
  3. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy thực tiễn cách mạng Việt Nam hết sức sáng tạo. Sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác  ­ Lênin của Chủ tịch Hồ Chí  Minh được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực:  Về tên Đảng và bản chất của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định, cách mạng Việt Nam muốn thắng   lợi phải có một đảng cách mạng chân chính lãnh đạo để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên hệ với   các dân tộc bị  áp bức và giai cấp vô sản toàn thế  giới. Đảng  ấy có vững thì cách mạng mới thành công, cũng như  người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy nhanh và đúng hướng. Đảng ấy ở Việt Nam là Đảng Cộng sản theo chủ   nghĩa Mác ­ Lênin. Trong các văn kiện quan trọng của Hội nghị thành lập Đảng tháng 2. 1930: “Chánh cương vắn tắt  của Đảng”, “Sách lược vắn tắt của Đảng”, “Điều lệ vắn tắt của Đảng”, “Chương trình tóm tắt của Đảng”, tên Đảng   được xác định là “Đảng Cộng sản Việt Nam”. Và bản chất Đảng cũng được xác định: “Đảng là đội tiên phong của vô   sản giai cấp”. Đến năm 1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi mới   là “Đảng Lao động Việt Nam”. Lúc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung thêm những ý mới rất quan trọng vào nội hàm   khái niệm “bản chất Đảng”. Người khẳng định dứt khoát: “Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân   và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Khi Đảng ta đổi tên là Đảng Lao động Việt   Nam và tuyên bố đó là Đảng của dân tộc Việt Nam, đã bị Ban lãnh đạo Quốc tế Cộng sản phê phán kịch liệt. Họ cho  rằng như thế là Đảng ta đã làm lu mờ bản chất giai cấp công nhân của Đảng, xóa bỏ ranh giới giữa giai cấp công nhân   với các giai cấp và tầng lớp khác, sa vào quan điểm “Đảng toàn dân” của chủ nghĩa xét lại. Song, nhận xét như  thế  là  chưa hiểu đúng về Hồ Chí Minh, về Đảng ta và về thực tiễn mang tính rất đặc thù của cách mạng Việt Nam. Dân tộc  Việt Nam có tới 90% dân số là nông dân; giai cấp công nhân còn nhỏ bé; giai cấp tư sản phần lớn là tư sản dân tộc, họ  cũng yêu nước, ghét đế  quốc. Ngay từ  những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đã có không ít các nhà tư  sản dân tộc hiến nhà cửa, vàng bạc cho cách mạng. Còn giai cấp địa chủ cũng phần lớn là địa chủ nhỏ và đi theo kháng   chiến; số đại địa chủ phản động, độc ác, đi theo đế quốc, bóc lột nông dân đến tận xương tủy không nhiều. Ngoài ra,   còn có hàng loạt những nhân sĩ, trí thức yêu nước đã từ bỏ cuộc sống giàu sang ở nước ngoài, trở về Tổ quốc, phục vụ  đất nước theo tiếng gọi của Chủ  tịch Hồ  Chí Minh. Trong bối cảnh như  vậy mà lúc nào cũng cứng nhắc tuyên bố  Đảng là của giai cấp công nhân thì làm sao có thể tập hợp được lực lượng, dốc sức cho cuộc kháng chiến chống Pháp   thắng lợi. Phải thấy rằng, dù tên Đảng có thay đổi nhưng bản chất Đảng vẫn không thay đổi. Đảng bao giờ  cũng là   đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiền phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam;   đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả  dân tộc. Mục đích của Đảng là  xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không có người bóc lột   người. Đó cũng chính là một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh mà Chủ tịch Hồ Chí  Minh hằng mơ ước.  Về mối quan hệ giữa Đảng  của chủ nghĩa Mác  Lênin  với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, V.  I. Lênin cho rằng, sự ra đời của đảng cộng sản là quá trình kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Điều đó  hoàn toàn đúng với thực tế ở các nước châu Âu. Còn ở Việt Nam thì khác. Yêu nước là truyền thống quý báu của dân   tộc Việt Nam đã có từ  lâu đời. Mỗi khi có giặc ngoại xâm thì phong trào yêu nước lại dâng cao. Giai cấp công nhân   Việt Nam ra đời sau khi thực dân Pháp đã thiết lập nền thống trị của chúng trên đất nước ta và qua hai lần khai thác   thuộc địa. Phong trào công nhân mới bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 20 của thế kỷ trước. Khi đó, phong   trào yêu nước vẫn là phong trào rộng lớn nhất, lôi cuốn giai cấp nông dân chiếm tới 90% dân số. Đấy là chưa kể   những bộ phận hợp thành khác của phong trào yêu nước như tầng lớp tiểu tư sản, tư sản dân tộc, các nhân sĩ, trí thức   yêu nước... Giai cấp công nhân mặc dù là giai cấp tiên tiến, nhưng còn nhỏ bé, nếu không biết gắn chặt với phong trào   yêu nước, làm hạt nhân của phong trào yêu nước thì cũng không thể tập hợp được lực lượng, mở rộng được cuộc đấu   tranh chống chủ nghĩa thực dân và đưa cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn. Nói cho thật chính xác thì ở Việt Nam vào   thời điểm đó, phong trào công nhân mới chỉ  là một bộ  phận của phong trào yêu nước và nằm trong phong trào yêu   nước. Chính vì lẽ  đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: chủ  nghĩa Mác   Lênin kết hợp với phong trào công nhân và  phong trào yêu nước dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Như  vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá   rất cao phong trào yêu nước  ở Việt Nam, coi nó là một thành tố không thể  thiếu được cho sự  ra đời của Đảng Cộng   sản và chỉ có như thế thì giai cấp công nhân Việt Nam mới trở thành dân tộc như C. Mác, Ph. Ăngghen đã yêu cầu đối  với giai cấp công nhân toàn thế giới từ khi viết “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Với sự vận dụng đúng đắn và sáng   tạo này mà trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết rất thành công   mối quan hệ giữa Đảng  chủ  nghĩa Mác  Lênin  phong trào công nhân  phong trào yêu nước. Lịch sử cách mạng Việt   Nam đã kiểm chứng điều đó.  Về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác ­ Lênin từ chủ nghĩa  yêu nước. Chính vì thế  Người cũng đã giải quyết rất tốt, rất đúng đắn mối quan hệ  giữa vấn đề  giai cấp và vấn đề   dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn rất chặt giai cấp với dân tộc. Song, quan điểm của Người hơi khác với quan điểm   của các nhà lý luận Mácxít đương thời. Trong mối quan hệ này, các nhà lý luận Mácxít trên thế giới, kể cả một số nhà  lý luận Mácxít  ở nước ta, thường đề cao vấn đề  giai cấp mà có phần xem nhẹ vấn đề  dân tộc. Còn Chủ tịch Hồ Chí   Minh coi trọng cả hai. Song, mặc dù vậy vẫn phải thừa nhận là Người có phần ưu tiên hơn tới vấn đề dân tộc. Quan  
  4. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy điểm này của Người đã có lúc bị  phê phán là nặng về  dân tộc, nhẹ  về  giai cấp. Song, thực tiễn của phong trào cách  mạng thế giới cũng như thực tiễn của phong trào cách mạng Việt Nam đã kiểm nghiệm và chứng minh luận điểm của   Người là hoàn toàn đúng đắn. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu là minh chứng rõ ràng   cho việc họ không quan tâm và không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giai cấp  dân tộc. Nếu họ giải quyết đúng đắn  mối quan hệ này và quan tâm nhiều hơn tới vấn đề dân tộc thì đã không xảy ra tình trạng bi đát đó. Chính vì tầm quan   trọng đặc biệt của vấn đề dân tộc, cho nên ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đều đưa vấn đề dân tộc  lên hàng đầu và coi nó như một động lực lớn của đất nước.  Về  một số nguyên tắc tổ  chức và sinh hoạt Đảng: Để  luôn luôn là một tổ  chức chặt chẽ  và mạnh mẽ  của   những người cộng sản, Đảng phải tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc về  Đảng kiểu mới mà V. I. Lênin đã  đề ra, như: nguyên tắc tập trung, dân chủ;  nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ  trách;  nguyên tắc tự  phê bình và   phê bình... Mỗi vấn đề  này, Chủ  tịch Hồ  Chí Minh đều có sự  vận dụng rất sáng tạo.. Lênin luôn nói “tập trung dân  chủ” và luôn đặt “tập trung” lên trên “dân chủ”. Các nhà lý luận Mác xít ­ Lêninnít và các sách giáo khoa về học thuyết   Mác ­ Lênin cũng thống nhất dùng câu chữ như vậy. Chi phối nguyên tắc này chính là quan điểm chuyên chính vô sản.   Đã chuyên chính thì dứt khoát phải đưa tập trung lên hàng đầu. Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh hầu như chỉ nói “dân chủ,   tập trung”. Tại sao lại như vậy? Cốt lõi của vấn đề chính là ở chỗ Người khẳng định chế  độ  ta là chế  độ  dân chủ  và   dân chủ là thứ quý báu nhất của nhân dân. Người nói “dân chủ, tập trung” là có ý nhấn mạnh tới vấn đề dân chủ. Phải   dân chủ  trước đã, sau đó mới tính đến tập trung. Ngay cả  nguyên tắc “tập thể  lãnh đạo, cá nhân phụ  trách”, Người   cũng giải thích: tập thể lãnh đạo là dân chủ (lên trước);  cá nhân phụ  trách là tập trung (xuống sau). Nói dân chủ, tập   trung không phải chỉ là sự đảo vế, mà chính là sự  thay đổi cấu trúc của khái niệm; là sự  sắp xếp lại thứ  tự nội hàm   của khái niệm; là sự chú trọng tới hàm lượng của yếu tố cần nhấn mạnh. Yếu tố cần nhấn mạnh  ở đây chính là dân  chủ. Chỉ một vấn đề nhỏ này thôi cũng cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý vận dụng học thuyết Mác ­  Lênin sao  cho phù hợp với thực tiễn của cách mạng nước ta. Vấn đề  đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ  trung thành của nhân dân: Mác và Ănghen quan  niệm, Đảng là Đảng cầm quyền; còn đối với Hồ Chí Minh Đảng là đảng của nhân dân. Vào đảng là để phục vụ nhân  dân chứ không phải vào đảng là để làm quan, phát tài. Vậy đảng vừa là người nhân văn sâu sắc nhất, vừa là người lãnh   đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân và liên hệ mật thiết với   nhân dân. Đảng phải được thường xuyên chăm lo, xây dựng và chỉnh đốn để đảng ngày càng vững mạnh, có năng lực  lãnh đạo và sức chiến đấu cao. Hoàn thành nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng, đưa cách mạng nước ta đi đến  thắng lợi. 
  5. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy Câu 2: Trình bày những nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ.  Tập trung dân chủ  là nguyên tắc cơ  bản về xây dựng tổ  chức và hoạt động của Đảng. Nó đảm bảo sự  thống   nhất ý chí và hành động, tạo nên sức mạnh vô địch của Đảng cách mạng. Hiện nay, Đảng ta đang hoạt động trong hoàn  cảnh môi trường mới rất phức tạp, nó mở ra thời cơ và cả  những thách thức mới hết sức gay gắt, đòi hỏi Đảng  ta hơn   bao giờ hết phải được củng cố vững mạnh không những về chính trị, tư  tưởng mà cả  về tổ chức. Đảng  phải trở  thành   một khối đoàn kết thống nhất chặt chẽ mới hoàn thành được vai trò, sứ mệnh của mình trong giai đoạn hiện nay. Muốn  vậy, Đảng  phải thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ  và cụ  thể  hóa những nội dung của nguyên tắc này  trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng, xem đó là nguyên tắc sống còn của Đảng. Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, Hồ Chí Minh đã khái quát nội dung của nguyên tắc tập trung   dân chủ có nghĩa là:  1. Các cơ quan lãnh đạo đều do quần chúng đảng viên bầu cử lên. 2. Phương châm, chính sách, nghị  quyết của Đảng đều do quần chúng Đảng viên tập trung kinh nghiệm và ý   kiến lại mà thành. Rồi lại do các cuộc hội nghị của Đảng thảo luận giải quyết, chứ không ai được tự ý độc đoán. 3. Quyền lực của cơ quan lãnh đạo là do quần chúng đảng viên giao phó cho, chứ  không phải tự  ai tranh giành   được. Vì vậy, người lãnh đạo phải gần gũi và học hỏi quần chúng đảng viên, nghe ngóng ý kiến của họ. Nếu lên mặt   với quần chúng, lạm dụng quyền lực, thế là sai lầm. 4. Trật tự của Đảng là: Cá nhân phải phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng số nhiều; cấp dưới phải phục tùng   cấp trên; các địa phương phải phục tùng trung ương”. Còn đối với dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung, Hồ Chí Minh cho rằng: “Ở  trong Đảng, mọi đảng viên có quyền nêu ý kiến, đặt đề  nghị, tham gia giải quyết vấn đề. Nhưng quyết  không được trái sự lãnh đạo tập trung của Đảng, trái nghị quyết và trái kỷ luật của Đảng. Quyết chống: không xét thời   gian, địa điểm, điều kiện mà nói lung tung; tự do hành động; dân chủ quá trớn. 1. Chỉ có cơ quan lãnh đạo có quyền khai thác các cuộc hội nghị. 2. Tất cả các nghị quyết của Đảng phải do cơ quan lãnh đạo chuẩn bị kỹ càng, rồi giao cho các cấp thảo luận.   Không được làm qua loa, sơ sài. 3. Khi bầu cử các cơ quan lãnh đạo trong Đảng, phải xem xét rất kỹ lưỡng để  lập danh sách những đảng viên   ứng cử. 4. Toàn thể  đảng viên phải theo đúng đảng chương thống nhất, kỷ  luật thống nhất của Đảng. Toàn thể  đảng   viên phải theo sự lãnh đạo thống nhất của trung ương. Đảng Cộng Sản Việt Nam trước sau như một kiên trì thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. So sánh các nội   dung cơ  bản của nguyên tắc tập trung dân chủ  ghi trong điều lệ  Đảng qua các kỳ  đại hội Đảng, chúng ta thấy rằng,   Đảng ta đã luôn coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ  và cụ  thể  hóa nguyên tắc này trong tổ  chức và hoạt động của   Đảng phù hợp với tình hình nội bộ Đảng và thực tiễn cách mạng. Hiện nay, nước ta bước vào thời kỳ  mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh tình hình   quốc tế, trong nước có nhiều biến đổi sâu sắc, nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ đã được Đảng ta chỉ rõ   trong Điều 9 ­ Điều lệ Đảng do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua: 1. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. 2. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội   đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa 2 kỳ đại hội, cơ  quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi   cấp là Ban Chấp hành Đảng bộ, chi bộ (cấp ủy). 3. Cấp  ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về  hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp  ủy  cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê   bình và phê bình. 4. Tổ chức Đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục   tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ  chức, các tổ  chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban   Chấp hành Trung ương. 5. Nghị quyết các cơ  quan lãnh đạo của Đảng chỉ  có giá trị  khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ  quan đó  tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng có ý kiến thuộc về thiểu số được   quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp  ủy cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh  
  6. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy nghị  quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị  quyết của Đảng. Cấp  ủy có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý   kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số. 6. Tổ chức Đảng quyết định các vấn đề  thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên   tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên Qua các nội dung trên, tính tập trung trên cơ  sở  dân chủ  trong Đảng được thể  hiện ở  tính tự  giác của toàn thể  đảng viên. Tính tập trung trong Đảng đòi hỏi Đảng phải có cương lĩnh, đường lối, mục tiêu cách mạng thống nhất, được   mọi tổ chức Đảng và đảng viên tuân thủ và thực hiện, toàn dân hướng vào phấn đấu. Đảng phải có điều lệ thống nhất ­  Điều lệ  chính là bộ  luật của toàn Đảng mà mọi tổ  chức Đảng và đảng viên phải chấp hành vô điều kiện cả  về  mặt   nhận thức và chấp hành. Tập trung trong Đảng còn đòi hỏi Đảng phải có một cơ quan lãnh đạo thống nhất, đó là đại hội   đại biểu toàn quốc, giữa 2 kỳ đại hội là Ban chấp hành TW do đại hội bầu ra. Về mặt tổ chức, Đảng phải thống nhất   về  quy mô và hình thức tổ  chức của Đảng. Đảng phải có kỷ  luật thống nhất mà mọi tổ  chức Đảng, đảng viên không   phân biệt đều phải chấp hành nghiêm túc kỷ luật của Đảng, không có những đặc quyền đặc lợi. Tính dân chủ trong Đảng được thể hiện ở nội dung toàn thể Đảng viên đều bình đẳng về quyền và lợi ích, đều   được tham gia trực tiếp hoặc thông qua đại biểu để thực hiện quyền của mình, thể hiện ý kiến của mình trong mọi công   việc của Đảng, khi thảo luận thì phải thực sự dân chủ, nhưng khi hành động thì thống nhất trăm người như một. Tất cả   những người có trách nhiệm trong Đảng và tất cả các cơ quan lãnh đạo của Đảng đề do dân chủ bầu cử mà lập nên, đều  có trách nhiệm thực hiện và báo cáo trước tổ  chức đã bầu ra mình và họ  có thể  bị  bãi miễn bất kỳ  lúc nào nếu không   xứng đáng và không hoàn thành nhiệm vụ tổ chức giao.        Có ý kiến xuyên tạc cho rằng tập trung đối lập với dân chủ. Cần phải nhận thức đúng đắn rằng tập trung dân  chủ thể hiện sự thống nhất hài hòa và biện chứng giữa hai mặt tập trung và dân chủ trong một sự việc, một hiện tượng.  Đó là những yếu tố không hề loại trừ lẫn nhau mà còn làm tiền đề cho nhau, lập thành một chỉnh thể và là một tất yếu   khách quan trong tổ chức và hoạt động của Ðảng. Chúng ta biết rằng ở đâu có hoạt động của số đông, ở đó cần đến tổ  chức, cần đến sự phân công, phối hợp, cần đến vai trò điều khiển, chỉ  huy của người nhạc trưởng như Mác nói. Ðảng   Cộng sản là một Ðảng cách mạng, Ðảng chiến đấu và Ðảng hành động, sức mạnh của tổ  chức và hiệu quả  của hoạt   động trong toàn Ðảng chỉ có thể đạt được khi dựa trên sức mạnh và hiệu quả của tập trung dân chủ, của việc thực hành   dân chủ và tập trung dân chủ một cách tự giác, thống nhất và nhất quán từ  các cơ  quan lãnh đạo đến mọi cán bộ, đảng   viên. Có dân chủ  mới có sự  thúc đẩy và phát huy tính chủ  động, sáng tạo, mới nuôi dưỡng và phát triển được các tài   năng. Có tập trung mới tạo ra được sức mạnh chung, thống nhất ý chí và hành động vì mục tiêu chung của cách mạng.   Tập trung đúng đắn, hợp lý sẽ làm tăng sức mạnh của dân chủ. Dân chủ lành mạnh phải dựa trên cơ  sở  tập trung. Tóm  lại, giữa 2 mặt tập trung và dân chủ phải được coi trọng như nhau, không được xem nhẹ  mặt nào, không nên tuyệt đối   hóa một mặt nào đều dẫn đến sai lầm nguy hiểm, có hại cho sự lãnh đạo của Đảng Tóm lại, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Ðảng không những là vấn đề cốt tử, sống còn của Ðảng   mà còn là nhân tố bảo đảm sự  lãnh đạo bền vững của Ðảng đối với Nhà nước và xã hội. Ý thức đầy đủ, sâu sắc điều   này là điều kiện đầu tiên để  toàn Ðảng tích cực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tìm tòi những hình thức, biện   pháp thích hợp hơn để  mở  rộng dân chủ  và thực hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ  trong Ðảng. Chúng ta tin   tưởng sâu sắc rằng, với trí tuệ  và bản lĩnh chung của toàn Ðảng, với sự  ủng hộ của nhân dân, các đảng cộng sản cầm   quyền sẽ luôn là chính đảng kiểu mẫu về dân chủ, về đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động.
  7. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy Câu 3: Tính tất yếu lịch sử của sự ra đời của Đảng CSVN. * Những tác động tình hình thế giới (t/g) Sau khi chủ nghĩa tư bản (CNTB) tự do cạnh tranh phát triển nhiều công ty xuyên quốc gia, tư bản độc quyền…   trở thành hệ thống chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới, đã chiếm hầu hết các vùng đất trên thế  giới, biến những nước   nhỏ  thành thuộc địa và phụ  thuộc bóc lột tài nguyên, sức lao động và mở  rộng thị  trường. Từ  đó đã xảy ra những mâu   thuẫn: nhân dân thuộc địa và đế quốc; giai cấp(g/c) vô sản chính quốc và giai cấp tư sản chính quốc. Lênin và quốc tế   cộng sản bổ sung và phát triển tư tưởng đó bằng khẩu hiệu chiến lược “Vô sản toàn thế  giới và các dân tộc bị  áp bức   đoàn kết lại”; tư tưởng HCM “Những người lao động trên toàn thế giới đoàn kết lại”. Thắng lợi CM/10 Nga 1917, CNXH trở thành hiện thực có ý nghĩa mở  ra thời đại mới trong lịch sử loài người,   thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên toàn thế giới;  đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, CM tháng 10 Nga là   tấm gương cổ vũ cho các dân tộc bị áp bức  noi theo trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, tác động sâu sắc đến   phong trào yêu nước Việt Nam. Hai năm sau CM/10 Nga, ngày 2/3/1919 Quốc tế Cộng sản III được thành lập do Lênin sáng lập, trở  thành bộ  tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh đạo các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Nhờ  ảnh hưởng CM /10 Nga và Quốc tế CS cùng sự  ra đời nhiều ĐCS trên t/g: Mỹ 1919, Anh 1920, Mông Cổ  1921, Trung quốc 1921, Nhật 1922, mở ra thời đại quá độ  lên CNXH. Tư  tưởng, lý luận CNCS đã ảnh hưởng và thức   tỉnh phong trào dân tộc ở các thuộc địa, trong đó có VN. * Tình hình trong nước: Năm 1858 Thực dân Pháp (TD. P) xâm lược Việt Nam (nổ  phát súng đầu tiên tại bán đảo Sơn Trà­ Đà Nẵng),   gần 30 năm sau (Hiệp  ước Patơnốt năm 1884), triều Nguyễn đã đầu hàng, dâng nước ta cho Pháp; về  cơ  bản TD.P đã  đặt ách thống trị lên VN. TD.P thực hiện chính sách cai trị, bóc lột hà khắc; về  chính trị, chúng thực hiện chính trị  chuyên chế  điển   hình( chia đất nước ta thành 3 miền để dễ cai trị), về kinh tế phụ thuộc vào chính quốc, về VH­XH thực hiện chính sách   ngu dân. Tóm lại TD.P thâu tóm quyền lực và biến VN từ xã hội phong kiến trở  thành nước thuộc địa, nửa phong kiến  (Mọi quyền hành tập trung vào TD.P). * Chuyển biến về cơ cấu g/c XH  Phong kiến ( phong tước, kiến địa ruộng đất) đã bị tan rã, một số ít g/c phong kiến phản động, đầu hàng kẻ thù:   bộ phận ít g/c phong kiến cam tâm làm tay sai cho địch; đa số g/c phong kiến còn lại có tinh thần yêu nước và dân tộc. Nông dân(chiếm 90% dân số); về mặt tích cực: có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc cao, sẵn sàng theo   g/c công nhân làm cách mạng giải phóng dân tộc; hạn chế: có ý thức về tư hữu của sản xuất nhỏ. Công nhân: (năm 1929: chiếm 1,2% dân số); tính tích cực: gắn bó với nông dân và cũng xuất thân từ nông dân trở  thành công nhân khi TD.P khai thác nước ta  sớm tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lê nin. G/c công nhân là g/c tiên tiến nhất   lãnh đạo CM thông qua chính Đảng của mình; hạn chế: lực lượng còn ít, trình độ  chuyên môn thấp đã làm giảm vai trò  của g/c công nhân VN. Tư  sản: (Đặc biệt ra đời sau g/c công nhân); tư  sản dân tộc(đa số): có tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc,  sẵn sàng tham gia vào CM giải phóng dân tộc ; tư sản mại bản(ít): gắn quyền lợi chính trị, kinh tế với thực dân P. Tiểu tư  sản (nhiều thành phần): đặc biệt đội ngũ trí thức và HCM xem là lực lượng châm ngòi pháo CM; hạn  chế: tinh thần dao động trong giờ phút quyết định nhất. Do vậy giai cấp công nhân VN có sứ mệnh  lịch sử to lớn lãnh đạo CM VN tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng   dân tộc (g/c công nhân VN được tiếp nhận và trang bị lý luận Mác – Lênin tư tưởng tiên tiến của thời đại thể hiện là g/c   có năng lực lãnh đạo CM; do Đảng CS lãnh đạo) Mâu  thuẫn cơ bản  của dân tộc VN trong giai đoạn này là: mẫu thuẫn giữa toàn thể  dân tộc VN  với thực dân  pháp ngày càng sâu sắc (đấu tranh chống TD.P giành độc lập cho dân tộc), trở thành mâu thuẫn chủ yếu nhất. Mâu thuẫn   cơ bản của XH VN thay đổi bên cạnh mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ, phong kiến đã có từ  trước (lật đổ  giai cấp   phong kiến giành ruộng đất cho nông dân). * Các phong trào yêu nước Kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc. ­ Các phong trào đấu tranh chống TD.P xảy ra rất nhiều nơi và nhiều tầng lớp tham gia khởi xướng:  Nhìn chung có hai khuynh hướng: 
  8. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy Phong kiến: phong trào Cần Vương do Tôn Thất Thuyết đứng đầu (1885­1896) điển hình là các cuộc khởi nghĩa  Ba Đình (Thanh Hóa), Bãi Sậy (Hưng Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh); phong trào khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám  đứng đầu (1884­1913)... đều bị thất bại. Dân chủ tư sản: Phan Bội Châu (Đứng đầu phong trào Đông Du); Phan Chu Trinh (phong trào Duy Tân: đổi mới,   cải cách nâng cao dân trí) nhưng theo chủ nghĩa cải lương đấu tranh bằng cách thông qua nghị trường nhưng đều bị  thất   bại. Tóm lại CMVN đầu thế kỷ XX bị bế tắc về đường lối, không có tổ chức chân chính lãnh đạo và chưa tập hợp   được sức mạnh tổng hợp các lực lượng trong xã hội tham gia. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc (NAQ): Ngày 19/5/1890, NAQ sinh ra tại Nghệ An. Từ nhỏ, Người đã kế  thừa và  sớm tiếp thu được các giá trị  truyền thống quý báu của dân tộc đó là tinh thần yêu nước, thương dân; có tính chủ  động   và sáng tạo, có bản lĩnh và cực kỳ thông minh. Ngày 5/6/1911, Bác ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đi năm châu bốn  biển (qua thực tiễn, trí tuệ cộng với bản lĩnh của mình) đã thấy được bản chất của chủ nghĩa thực dân là bóc lột. Tiếp  cận sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề  dân tộc và vấn đề  thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo. Điều   đó đã làm chuyển biến quyết định tư  tưởng và lập trường chính trị  của NAQ từ  lập trường yêu nước chuyển sang lập  trường cộng sản và trở thành người CS đầu tiên của VN. NAQ tham gia đảng XH Pháp, là một đảng tiến bộ nhất lúc đó ở Pháp. Sau một năm rưỡi hoạt động ở Liên Xô   tháng 11/1924 người quyết định về Quảng Châu (TQ) để chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức thành lập Đảng CSVN   cụ thể:  Về  Chính trị: đấu tranh giai cấp (độc lập dân tộc gắn với CNXH); mối quan hệ giữa CM chính quốc với CM   thuộc địa (tính chủ động) là động lực; nền tảng CM: khối liên minh công nông; thành lập Đảng; lực lượng CM tập hợp   được toàn dân. Về  tư  tưởng: tố cáo chủ  nghĩa TD.P; đồng thời tuyên truyền chủ  nghĩa Mác – Lê nin vào phong trào yêu nước  VN.  Về tổ chức: Tháng 6/1925 thành lập Hội VN CM  thanh niên tại Quảng Châu, nòng cốt là Cộng sản đoàn (tiền   thân của Đảng CSVN); tập hợp lực lượng, mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận Chủ nghĩa M­LN và rèn luyện cán bộ  đưa về nước thành lập các tổ chức Đảng. Phát động phong trào vô sản hóa (1928) của Hội VN CM thanh niên đã có tác dụng thúc đẩy phong trào yêu nước   VN theo khuynh hướng CM vô sản, nâng cao ý thức giác ngộ  và lập trường CM của g/c công nhân; luân chuyển điều   động cán bộ về nước và cử đi học tại trường Đại học CS Đông phương… Công tác chuẩn bị  đó đã thúc đẩy phong trào   công nhân nổ ra và  phát triển mạnh mẽ đều khắp 3 kỳ và các năm 1928,1929 dẫn đến CM VN phát triển mạnh mẽ. * Sự ra đời của 3 tổ chức CS Ngày 17/6/1929 tại số nhà 312 phố Khâm Thiên (Hà Nội) Đông Dương CS Đảng (Bắc Kỳ) được thành lập thông   qua tuyên ngôn, điều lệ và xuất  bản báo Búa Liềm. Trước ảnh hưởng của Đông Dương CS Đảng, kỳ bộ Nam Kỳ quyết   định thành lập An Nam Cộng sản Đảng(11/1929), xuất bản tờ báo Đỏ  làm cơ  quan ngôn luận. Tại Trung kỳ, Tân Việt   CM Đảng (một tổ  chức thanh niên yêu nước) chịu tác động của hội VN CM  thanh niên đã thành lập Đông Dương CS   Liên đoàn vào 1/1/1930 tại Hà Tĩnh. Ba tổ chức CS ra đời khẳng định bước phát triển quan trọng của phong trào CMVN. Cả 3 tổ chức CS ở ba miền   đều tuyên bố   ủng hộ  quốc tế  cộng sản, tuy nhiên không tránh khỏi phân tán về  lực lượng và thiếu thống nhất về  tổ  chức. Yêu cầu cấp thiết đặt ra là chấm dứt hiện tượng biệt phái, chia rẽ giữa các nhóm CS, phải thống nhất các tổ chức   CS thành một chính đảng duy nhất ở VN. * Hội nghị hợp nhất 3 Đảng Trước nhu cầu cấp bách của phong trào CM trong nước, NAQ đã đến Hương Cảng (TQ) chủ  trì, triệu tập hội   nghị (từ 6/1/1930 đến 8/2/ 1930) hợp nhất các tổ chức CS lại thành 1 chính  đảng duy nhất tại VN. Hội nghị thống nhất   hợp nhất 3 tổ chức Đảng và lấy tên là Đảng CSVN; hội nghị  thông qua các văn kiện do lãnh tụ  NAQ soạn thảo đó là:   Chánh cương vắn tắt của Đ, Sách lược vắn tắt của Đ, Chương trình tóm tắt của Đ,  Điều lệ của Đ CSVN. Cương lĩnh chính trị đầu tiên đề ra: phương hướng,  mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể: Con đường CM VN là CM dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ CNXH. Nhiệm vụ: đánh đổ đế quốc pháp và bọn phong kiến và giành độc lập dân tộc (làm cho nước Nam hoàn toàn độc   lập.) 
  9. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy Lực lượng CM: xác định lực lượng CM phải đoàn kết công nhân, nông dân­đây là lực lượng cơ bản trong đó giai   cấp công nhân lãnh đạo, đồng thời chủ trương đoàn kết tất cả các g/c, các lực lượng tiến bộ, yêu nước tập trung chống   đế quốc và tay sai.  Phương pháp tiến hành CM giải phóng dân tộc, cương lĩnh khẳng định phải bằng con đường bạo lực CM. Vai trò của Đ với tư cách là đội tiên phong của g/c vô sản. Phát huy tinh thần tực lực, tự cường đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức và g/c vô  sản thế giới. * Ý nghĩa sự ra đời của Đảng ĐCSVN ra đời là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử CMVN. Sự kiện lịch sử vĩ đại ấy đã chấm dứt sự khủng   hoảng về  đường lối cứu nước và tổ  chức lãnh đạo phong trào yêu nước VN đầu TK XX. Đ CSVN ra đời đáp ứng khát   vọng giải phóng dân tộc của nhân dân VN. Chỉ sau 15 năm đi theo đường lối CM của Đ, dân tộc VN đã làm nên kỳ tích vĩ   đại trong CM 8/1945. Thắng lợi vĩ đại ấy đã khẳng định thực tế đường lối đúng đắn, năng lực và hiệu quả lãnh đạo của   ĐCSVN, là mốc son chói lọi trên con đường CM do NAQ­HCM đã hoạch định từ năm 1930 và là nền tảng vững chắc cho   dân tộc VN tiếp nối trên con đương độc lập dân tộc và CNXH. Sự  ra đời của ĐCSVN là sản phẩm sự  kết hợp CN Mác­Lê nin, tư  tưởng HCM với phong trào công nhân và   phong trào yêu nước VN (cách mạng nhất và khoa học nhất). Đồng thời là sự vận dụng sáng tạo CN Mác­Lê nin vào đặc  điểm của dân tộc VN và là công lao to lớn của lãnh tụ NAQ­HCM trong công cuộc vận động thành lập một chính đảng   vô sản  ở  VN. Công lao to lớn  ấy không chỉ  là sự  lựa chọn con đường CM cho dân tộc VN, mà còn linh hoạt, sáng tạo   trong phương thức truyền bá CN Mác­Lê nin và phong trào công nhân VN. Với tinh thần chủ động sáng tạo và uy tín chính trị lãnh tụ  NAQ đã “có sáng kiến” kịp thời giải quyết yêu cầu   cấp bách của cách mạng VN là hợp nhất 3 Đảng. Như tác giả Hồng Hà Công (Hà Huy Tập) “Là đã tập hợp được các lực   lượng CS phân tán  lại thành một khối, nhờ  đó mà đưa lại cho những người lao động Đông Dương một đội tiên phong  chiến đấu và kiên quyết CM ”. ĐCSVN thành lập đã khẳng định dứt khoát nội dung, xu hướng phát triển của XHVN là gắn liền độc lập dân tộc   với CNXH; là Đảng duy nhất lãnh đạo CM VN, là một bước ngoặt quyết định sự phát triển của dân tộc, tạo những tiền   đề và nhân tố hàng đầu quyết định đưa CMVN đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
  10. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy Câu 4: Nội dung và ý nghĩa đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng giai đoạn 1945 ­  1954. Sau ngày CM/8 thành công, đất nước VN có những thay đổi sâu sắc. Ngày 28/8/1945, danh sách Chính phủ lâm  thời được công bố gồm 15 thành viên do HCM làm chủ tịch Chính phủ. Ngày 2/9/1945 vào lúc 14h tại Quảng trường Ba   Đình(Hà Nội), Chủ  tịch HCM đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh nhà nước VN dân chủ  cộng hòa. Chính phủ  lâm thời  chính thức ra mắt quốc dân đồng bào. Cùng với việc thành lập Chính phủ từ TW tại Hà Nội, hệ thống chính quyền CM  các cấp nhanh chóng được thiết lập và củng cố trên phạm vi cả nước. Đảng CS đông dương ra hoạt động công khai và   trở  thành một Đ lãnh đạo chính quyền. Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể  tổ  chức chính trị  XH như: Hội thanh niên,  Hội công thương… phát triển nhanh chóng. Nhân dân phấn khởi tin tưởng vào Đ, Chính phủ và Chủ tịch HCM. Toàn dân   tộc bắt tay vào xây dựng chế độ mới, lập Hiến pháp Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng Nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống TDP là Đ ta có đường lối kháng chiến đúng đắn ngay   từ  đầu. Ngày 19/12/1946, thay mặt Đ và Chính phủ, Chủ  tịch HCM dã ra lời kêu gọi toàn quôc kháng chiến. Từ   Tuyên   ngôn độc lập đến Chỉ thị về kháng chiến kiến quốc (25/11/1945); Công việc khẩn cấp bây giờ (10/1946); Chỉ thị toàn dân   kháng chiến 12/12/1946 và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch HCM (19/12/1946), những quan điểm cơ bản  của đường lối kháng chiến đã hình thành. Giữa năm 1947, Tổng bí thư  Trường Chinh đã viết một loạt các bài báo tập   hợp thành cuốn sách Kháng chiến nhất định thắng lợi. Về  cơ bản, đây là những văn kiện chỉ  đạo đường lối chung của   cuộc kháng chiến tập trung ở một số nội dung sau: Mục đích của cuộc kháng chiến là giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng chế  độ  dân chủ  nhân   dân, góp phần bảo về hào bình thế giới. Cuộc kháng chiến chống TDP là tiếp tục sự nghiệp của CM/8 năm 1945 Tính chất của kháng chiến lúc này vẫn là “ cuộc cách mạng giải phóng. Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó  chưa hoàn thành, vì nước chưa được hoàn toàn độc lập”. Nhiệm vụ của cuộc kháng chiến được xác định ngay từ đầu là “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”. Hai nhiệm vụ  đó bổ sung, hỗ trợ cho nhau đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Lực lượng kháng chiến: Huy động sức mạnh toàn dân tộc, các tầng lớp nhân dân tập hợp trong Mặt trận Việt   Minh, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam và các tổ chức quần chúng khác, lâu dài, . Phương châm của cuộc kháng chiến chống thực dân P được khái quát: toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào  sức mình là chính để đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi. Đường lối kháng chiến chống thực dân P về  bản chất là đường lối chiến tranh nhân dân VN. Trong quá trình  tiến hành cuộc kháng chiến, Đảng và Chủ tịch HCM luôn coi trọng việc bổ sung, phát triển, cụ thể hóa đường lối kháng   chiến phù hợp với yêu cầu thực tế của từng giai đoạn lịch sử. Đường lối đó đã trở thành ngọn cờ dẫn dắt và là động lực   chính trị, tinh thần đưa nhân dân ta tiến lên chiến đấu và chiến thắng thực dân P xâm lược. Ý nghĩa lịch sử: Dưới sự  lãnh đạo của Đ và Chủ  tịch HCM, nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến vĩ đại, đánh bại cuộc   chiến tranh xâm lược thực dân cũ của đế quốc P và can thiệp Mỹ. Thắng lợi của nhân dân ta có ý nghĩa vô cùng to lớn và   sâu sắc, mang tầm vóc thời đại. Đó là thắng lợi của tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể nhân dân VN được Đ và   Chủ tịch HCM khơi dậy bằng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Thắng lợi   của tinh thần đoàn kết quốc tế với sự giúp đỡ  của các nước xã hội chủ  nghĩa và sự  ủng hộ  của phong trào giải phóng   dân tộc trên thế giới. Đồng thời, thắng lợi của nhân dân ta có sự  đóng góp quý báu của nhân dân P và nhân dân tiến bộ  trên thế giới đã ủng hộ giúp đỡ nhân dân ta kháng chiến chống cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc P. Cuộc kháng chiến chống thực dân P được kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, một bản anh hùng  ca của một cuộc chiến tranh nhân dân thần kỳ, thật xứng đáng “được ghi vào lịch sử  dân tộc như một Bạch Đằng, một   Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành của hệ   thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”. Với thắng lợi của cuộc kháng chiến, chúng ta đã bảo vệ  và phát triển thành quả  của Cách mạng tháng Tám.   Giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Thắng lợi đó đã đưa cách mạng VN chuyển qua một giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng   miền Bắc theo con đường XHCN, tạo cơ  sở vững chắc để  tiền hành cách mạng giải phóng dân tộc ở  miền Nam, hoàn  thành độc lập dân tộc, dân chủ và thống nhất đất nước. Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân P đã tác động mạnh mẽ và làm bùng nổ phong   trào đầu tranh tự giải phóng của các nước thuộc địa P, mở đầu sự  sụp đổ  của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế  giới.   Nó cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên các lục địa Á, Phi, Mỹ Latinh, góp phần tích cực làm suy yếu chủ  nghĩa đế quốc, thu hẹp dinh lũy của chúng, góp phần dán một đòn đau vào chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế  quốc Mỹ.
  11. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy Đánh giá về  ý nghĩa lịch sử  của cuộc kháng chiến chống thực dân P xâm lược, chủ  tịch HCM viết: “Lần đầu   tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ  yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là thắng lợi vẻ  vang   của nhân dân VN, đồng thời cũng là thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”.  Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân P là bằng chứng sinh động về  sự  đúng đắn và khoa học của   đường lối kháng chiến trên cơ sở lý luận Mác­Lênin và tư tưởng HCM; khẳng định tính ưu việt của chế độ mới và sức   sống mãnh liệt của cuộc kháng chiến vì đại nghĩa của cả  một dân tộc, vì khát vọng độc lập, tự  do của nhân dân Việt  Nam.
  12. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy Câu 5: Vị trí và vai trò của miền Bắc đối với sự nghiệp cách mạng cả nước giai đoạn 1954­1975.  Chiến tranh chính là sự kế tục chính trị bằng thủ đoạn mới. Chiến tranh là sự thử thách khắc nghiệt và toàn diện  2 bên tham chiến cả  về  chính trị, kinh tế, văn hóa, vật chất lẫn tinh thần ý chí, quyết tâm lòng dũng cảm của con   người… Trong chiến tranh ai mạnh người  ấy thắng không có sự  ngẫu nhiên. Vì vậy khi bàn về  chiến tranh cách mạng,   Lênin có một luận điểm nổi tiếng: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách nghiêm chỉnh phải có một hậu phương tổ chức  vững chắc”. Hậu phương và tiền tuyến có mối quan hệ vô cùng mật thiết. Hậu phương mạnh thì tiền tuyến mạnh. Tiền   tuyến đánh thắng sẽ  bảo vệ được hậu phương, động viên và tạo điều kiện thuận lợi để  hậu phương củng cố  và xây   dựng. Ngược lại, việc xây dựng hậu phương vững mạnh có tác dụng quyết định đến thắng lợi ở tiền tuyến.  Sau hiệp định Giơnevơ  đất nước bị  chia cắt thành hai miền với hai chế  độ  chính trị  – xã hội khác nhau. Miền   Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng đã hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đó là một chuyển biến   cực kì trọng yếu quyết định phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong khi đó, Miền   Nam nước ta còn bị đặt dưới ách thống trị của đế  quốc Mĩ và tay sai Ngô Đình Diệm, nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân   chủ  nhân dân chưa hoàn thành. Nằm trong nhiệm vụ chiến lược chung của cả dân tộc – nhằm chấm dứt tình trạng đất   nước bị chia cắt, t rên cơ sở thử nghiệm, tìm tòi, thăm dò dư luận, độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng Lao động Việt Nam   xác định bản chất đường lối cách mạng VN là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, nhưng phải được sáng tạo và cụ  thể  hóa phù hợp trong từng thòi kỳ. Vì vậy, đối với cách mạng cả  nước lúc này thì: Miền Bắc là hậu phương lớn và Miền  Nam là tiền tuyến lớn. Miền Bắc tất yếu phải tiến lên CNXH, thực hiện cải tạo CNXH và bước đầu phát triển kinh tế,   xã hội, làm cơ sở tiền đề vững chắc cho cách mạng miền Nam phát triển. Miền Bắc –,hậu phương lớn, có vai trò quyết   định nhất đối với sự  phát triển của cách mạng cả  nước, đối với sự  nghiệp thống nhất đất nước, đồng thời chuẩn bị  những điều kiện vật chất và tinh thần cho cả nước tiến lên CNXH sau này. Vì thế, Miền Bắc phải có mối quan hệ gắn  bó, phối hợp với miền Nam tạo điều kiện cho nhau phát triển. Thắng lợi giành được ở mỗi miền là thắng lợi chung cho   cách mạng hai miền.  Ngay sau khi hiệp đinh Giơnevơ về Đông Dương được kí (7/1954), Mĩ đã tiến hành chiến lược chiến tranh đặc   biệt (1960 – 1965), chiến tranh cục bộ (1965 – 1968). Đến năm 1968, khi bước vào Nhà Trắng, Nichxơn đề ra chiến lược   toàn cầu mang tên mình – “Học thuyết Nichxơn”, Học thuyết này thực hiện đầu tiên ở  miền Nam Việt Nam với chiến   lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trong khi đó,  ở  Miền Nam lúc này quân và dân ta gặp không ít khó khăn về  vũ khí,  lương thực thực phẩm, lực lượng chiến đấu... Để  giữ  vững và phát triển phong trào tấn công địch, Đảng và Hồ  Chí   Minh đã xác định: xây dựng miền Bắc thật sự “vững mạnh và tiến bộ”, “thiết thực chiếu cố miền Nam”, “là nền tảng là  gốc rễ  của lực lượng đấu tranh”,“Miền Bắc là chỗ  đứng của ta. Bất kể  trong tình hình nào, miền Bắc cũng phải củng   cố”, “Muốn thực hiện cương lĩnh của Mặt Trận, thì chúng ta phải ra sức cũng cố  Miền Bắc về  mọi mặt, ….Nền có   vững, nhà mới chắc, gốc có mạnh, cây mới tốt”. Thực hiện chủ trương chi viện lực lượng, vật chất cho miền Nam, ngay   từ  tháng 7 năm 1954, Trung  ương Đảng đã quyết định thành lập đoàn vận tải trên biển Đông, đặt tên là Đoàn 759. Bộ   Chính trị cũng quyết định tổ chức tuyến giao liên vận tải quân sự  trên bộ  và trên biển (sau này là tuyến đường Trường   Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển) để  vận chuyển hàng quân sự  vào miền Nam, tổ  chức đưa cán bộ, bộ  đội, chuyển  công văn, tài liệu đi lại giữa hai miền. Như vậy, ngay từ đầu, Đảng và nhà nước đã nhận thấy được tầm quan trọng, vai   trò quyết định của hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn Miền Nam. Đây là một đường lối hoàn toàn đúng đắn  của Đảng. Từ khi hòa bình lập lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta ở miền Bắc đã khắc phục mọi khó khăn gian  khổ, hoàn thành cải tạo ruộng đất, kết thúc thắng lợi thời kì khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và hăng   hái thi đua ra sức thực hiện kế hoạch nhà nước “3 năm”, “5 năm”, cải tạo kinh tế, phát triển kinh tế, văn hoá… để nâng   cao thêm một bước đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân và hơn hết làm nhiệm vụ hậu phương chi viện cho miền   Nam, cùng miền Nam hoàn thành sự  nghiệp giải phóng dân tộc từ  đó làm cơ  sở  vững chắc cho công cuộc đấu tranh   thống nhất nước nhà. Miền Bắc khẩn trương tổ  chức động viên sức người, sức của nhằm chi viện nhanh chóng, kịp   thời, liên tục đáp ứng yêu cầu của chiến trường miền Nam trong các cuộc tiến công và nổi dậy.Công tác động viên lực   lượng ở miền Bắc được thực hiện trên quy mô lớn nhằm tăng cường hơn nữa sức mạnh chiến đấu cho quân đội, đáp   ứng yêu cầu bổ sung quân số cho chiến trường miền Nam.  Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chí Minh “Mỗi người làm việc bằng hai”, “vì miền Nam ruột thịt” nhân dân miền   Bắc từ thành thị tới nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, đã hăng hái thi đua lao động sản xuất, tiết kiệm tiêu dùng,   chi viện cao nhất cho đồng bào và chiến sĩ Miền Nam. Khẩu hiệu “Tay cày tay súng” với các phong trào thi đua như  “Sóng Duyên Hải” trong công nghiệp, “Gió Đại Phong” trong nông nghiệp, “Cờ Ba Nhất” trong lực lượng vũ trang, “Hai  tốt” trong trường học, “Thầy thuốc như  mẹ  hiền” trong ngành y tế, “Ba cải tiến” trong các cơ  quan, “Ba đảm đang”  trong phụ  nữ, “Ba sẵn sàng” trong thanh niên…phát triển rộng khắp, trở  thành cao trào. “Trong 15 năm qua, Miền Bắc   nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới” (Hồ  Chí Minh). Miền Bắc đã tạo cơ  sở  mới về  chính trị, kinh tế, quốc phòng để  chi viện lực lượng và vật chất cho miền   Nam. Với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh cùng với sự  hậu thuẫn của quốc tế,   Miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước, tạo tiền đề  cho cách mạng miền  Nam Việt Nam chuyển hướng, giúp miền Nam vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, vùng lên đúng lúc, trụ vững trong   những lúc ác liệt nhất, hình thành thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp trên cả ba vùng chiến lược. Đây là cơ sở vững  
  13. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy chắc để  Đảng ta củng cố  và nâng cao quyết tâm chiến đấu chống đế  quốc Mĩ xâm lược. Nhận thấy vai trò của hậu   phương lớn miền Bắc đối với chiến trường miền Nam, đế quốc Mĩ đã hai lần tiến hành chiến tranh phá hoại với quy mô   lớn, với mức độ  đánh phá ác liệt đối với Miền Bắc và đối với tuyến giao thông vận tải chiến lược hòng ngăn chặn sự   chi viện của hậu phương lớn đối với miền Nam. Mĩ muốn phá hoại tận gốc tiềm lực quân sự  kinh tế  của Việt Nam,   “kéo lùi miền Bắc Việt Nam trở lại thời kì đồ đá”, làm cho ta không còn khả năng chiến đấu. Miền Bắc đã tập trung lớn   khả  năng về  lực lượng, phương tiện để  khắc phục tại chỗ  và kịp thời hậu quả  của chiến tranh, vượt qua vòng vây   phong tỏa của địch để  tiếp nhận tốt hàng viện trợ  của bên ngoài và tiếp viện theo yêu cầu của tiền tuyến miền Nam.   Cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đến đỉnh cao và hết sức ác liệt vẫn không ngăn được miền Bắc làm nghĩa vụ  hậu   phương. Dưới bom đạn ác liệt của kẻ thù, miền Bắc vừa chiến đấu, vừa sản xuất, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội   trong khói lửa chiến tranh; duy trì, phát triển tiềm lực về mọi mặt, tiếp tục tăng cường lực lượng ngày càng lớn cho tiền  tuyến, đồng thời về cơ bản vẫn giữ vững đời sống nhân dân hậu phương ổn định, đảm bảo càng đánh càng mạnh. Từ  năm 1965 đến năm 1975, miền Bắc đã động viên hàng triệu lao động, mở rộng lực lượng vũ trang và phục vụ chiến đấu.   Trong thời gian diễn ra những cuộc tiến công chiến lược (1968, 1972, 1975), nhân lực động viên ở  miền Bắc phục vụ  nhu cầu chiến tranh tăng gấp 4 đến 5 lần so với trước. Về vật chất, miền Bắc đã tiếp nhận hàng triệu tấn vũ khí, phương tiện kỹ thuật do nước ngoài viện trợ tổ chức   nghiên cứu thiết kế cải biên cải tiến nhiều vũ khi, khí tài, tổ chức vận chuyển vượt hàng nghìn km dưới bom đạn đánh  phá của kẻ địch tới các chiến trường, các vùng giải phóng. Miền Bắc đưa vào miền Nam khối lượng vật chất gấp 10 lần   so với những năm từ 1961 đến năm 1964. Con số đó trong những năm chống chiến lược “Viêt nam hóa chiến tranh” còn  tằng gấp nhiều lần. Miền Bắc thực sự là chỗ dựa vững chắc về tinh thần cho những người ra trận, cho đồng bào, chiến   sĩ đang ngày đêm chiến đấu  ở  miền Nam, đặc biệt  trong những lúc cách mạng miền Nam bị  tổn thất, gặp nhiều thử  thách, khó khăn… Đề  cập đến mối quan hệ  cách mạng hai miền, đồng chí Lê Duẩn khái quát: “Nếu không xây dựng   CNXH  ở  miền Bắc thì không thể  đánh Mĩ ở  miền Nam, nếu không đánh Mĩ ở  miền Nam thì cũng không thể  xây dựng   được XHCN ở miền Bắc”. Ở miền Nam, Đảng ta chỉ đạo xây dựng chiến khu trong các vùng tự  do và chủ  trương mở  rộng các vùng giải   phóng mà hạt nhân là các căn cứ địa được xây dựng từ trong kháng chiến chống Pháp. Đến cuối cuộc kháng chiến, vùng  giải phóng từng bước được mở rộng, nối liền các căn cứ địa từ Trị ­ Thiên đến Liên khu V, từ Tây Nguyên tới Đông Nam  Bộ vây quanh Sài Gòn, nối liền với Đồng bằng sông Cửu Long, trở thành hậu phương chiến lược tại chỗ vững chắc  ở   miền Nam, tiêu biểu là Chiến khu Dương Minh Châu, Chiến khu Đ. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hậu phương tại chỗ  ở miền Nam được Đảng chỉ  đạo xây dựng phát  triển rất phong phú. Hậu phương tại chỗ không chỉ là vùng giải phóng và các căn cứ vững chắc mà còn bao gồm cả  các   “căn cứ  lõm”, các cơ  sở  nằm sâu trong vùng địch kiểm soát. Tuy nhiên, trong chỉ  đạo xây dựng căn cứ  địa cách mạng,   thành công lớn nhất của Đảng ta là đã xây dựng được “thế trận trong lòng dân”, “căn cứ trong lòng dân”. Ngoài những căn cứ được xây dựng ở trong nước, Đảng ta còn phối hợp với hai nước bạn Lào và Cam­pu­chia  xây dựng căn cứ  địa, mở rộng vùng giải phóng dựa lưng vào nhau tạo thành hậu phương chiến lược tại chỗ trên chiến  trường miền Nam. Đây là một nhân tố quan trọng góp phần quyết định trực tiếp đến thắng lợi của cuộc kháng chiến. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta chỉ đạo xây dựng hậu phương vững chắc, tạo điều kiện  để duy trì, đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị đưa cuộc kháng chiến đến giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền   Nam thống nhất Tổ quốc. Đảng lãnh đạo xây dựng hậu phương cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, không chỉ có ý nghĩa lịch sử  mà còn có giá trị hiện thực sâu sắc. Trong tình hình mới, để  sẵn sàng ứng phó thắng lợi với các tình huống chiến lược,   nhất là tình huống chiến tranh, ngay từ thời bình Đảng và nhân dân ta có nhiều việc phải làm. Đặc biệt Đảng cần có chủ  trương, biện pháp đúng đắn chỉ  đạo xây dựng các căn cứ  hậu phương, nhất là “hậu phương lòng dân”, “thế  trận lòng  dân” tạo chỗ dựa vững chắc cho chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra) giành thắng lợi.
  14. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy Câu 6: Nội dung cơ bản đường lối đổi mới được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  VI   của ĐCSVN (12/1986). 1. Giới thiệu: ĐCSVN ­   Đội tiên phong của giai cấp CNVN – người quyết định mọi thắng lợi của CMVN.   Trong suốt chặng đường dài lãnh đạo của mình, Đảng luôn luôn có những xây dựng, đổi mới đưa CMVN vượt qua   những thử  thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong hành trình gian nan ấy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần   thứ VI của Đảng (12/1986) là một trong những mốc son chói lọi, quyết định cho đường lối đổi mới toàn diện của Đảng,   của cách mạng. 2. Bối cảnh lịch sử: ­ Về lý luận: Đổi mới là một quy luật tất yếu của đời sống tự  nhiên, xã hội và cả  tư  duy. Những yếu tố cũ sẽ  lạc hậu, lỗi thời cần phải đào thải, những nhân tố mới sẽ xuất hiện, phát triển theo xu thế tiến bộ tích cực. ­ Về thực tiễn: + Tình hình quốc tế: Thế  giới có nhiều thay đổi. Liên Xô tiến hành cải tổ nhằm tạo những bước đột phá, song cách thức tiến hành   mang tính chủ quan, duy ý chí, thiếu biện chứng và đã đi đến thất bại. Hệ thống XHCN ở Đông Âu đang rạn nứt. Trung   Quốc cũng có những chủ  trương cải cách. Đảng cộng sản tiếp tục lãnh đạo công cuộc cải cách mở  cửa, thực hiện   chuyên chính nhân dân, xây dựng CNXH dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác­Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông và lý luận  Đặng Tiểu Bình. Chủ trương cải cách của Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu phát triển kinh tế, chính trị. Nhiều   nước trong khu vực đông bắc Á và đông nam Á cũng tiến hành những bước cải cách và phát triển mạnh mẽ  như  Hàn   Quốc, Sin­ga­po. Những chuyển biến của thế giới đã có những tác động đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nước   ta.  + Trong nước: Trước 1986, nền kinh tế ­  xã hội Việt Nam đứng trước những khủng hoảng trầm trọng. Sản xuất bị đình trệ   trên nhiều mặt nông nghiệp và công nghiệp. Năng suất lao động và hiệu quả kinh tế giảm sút, nhiều mặt bị mất cân đối  nghiêm trọng. Phân phối lưu thông rối ren. Lạm phát ở mức 3 con số (1986: 774,7%). Đời sống vô cùng khó khăn. Niềm  tin của nhân dân vào đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước bị  giảm sút nhiều. Nguyện vọng của nhân dân là phải   đổi mới. Trước tình hình bức bách ấy, Đảng CSVN đã dám nhìn thẳng sự thật, nói lên sự thật và sửa chữa những sai lầm  trong công tác lãnh đạo của mình, có những quyết định mạnh mẽ  về  việc đổi mới toàn diện đất nước trong tình hình   mới. 3. Nội dung đường lối đổi mới của Đại hội đại biểu ĐCSVN khóa VI: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng CSVN họp từ ngày 15/12 – 18/12/1986 tại thủ đô Hà Nội. Dự Đại   hội có 1.192 đại biểu đại diện cho 1,9 triệu đảng viên. Đại hội đã nghe và thảo luậ  Báo cáo chính trị  của BCH Trung  ương Đảng khóa V do Tổng Bí thư  Trường Chinh trình bày và nhiều văn kiện quan trọng khác. Đại hội đã bầu BCH  Trung ương Đảng khóa VI gồm 124 ủy viên chính thức và 49 ủy viên dự  khuyết. BCH Trung ương đã bầu ra Bộ Chính  trị  gồm 13 đồng chí. Dồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư. Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn  Đồng, Lê Đức Thọ là cố vấn BCH Trung ương Đảng. Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, gồm những nội dung cơ bản: ­ Đổi mới cơ cấu kinh tế: Có chính sách sử  dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế  XHCN theo quan điểm của Lênin: “Có nên   kinh tế  cơ  cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ  quá độ”. Các thành phần đó là: kinh tế  XHCN (quốc   doanh, tập thể); kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tự nhiên, tự  túc   tự cấp. Nhận thức và vận dụng đúng quy luật sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư, tập trung thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: lương   thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng; hàng xuất khẩu. ­ Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế: Kiên quyết xóa bỏ  cơ  chế  quản lý tập trung quan liêu hành chính bao cấp; đổi mới kế  hoạch hóa, kết hợp kế  hoạch hóa với thị trường, từng bước đưa nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự  quản lý nhà nước. Phương   hướng đổi mới cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan với trình độ phát triển của nền kinh tế. Trong cơ chế quản  lý đó, tính kế hoạch là đặc trưng số một và sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa ­  tiền tệ là đặc trung thứ hai ­ Đổi mới và tăng cường vai trò quản lý, điều hành Nhà nước về kinh tế: Tăng cường bọ máy quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương thnhf ột thể thống nhất, có sự  phân biệt   rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm tùy cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ: “Phân biệt rõ chức năng quản   lý hành chính ­  kinh tế của các cơ quan nhà nước Trung ương và địa phương với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh   của các đơn vị kinh tế cơ sở”. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế­xã hội, thực hiện cơ  chế “quản lý đất  nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằn đạo lý”. ­ Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại: Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại trên cơ sở mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Mở rộng hợp  tác đầu tư với nước ngoài thông qua việc công bố chính sách đầu tư với nhiều hình thức, nhất là những ngành đòi hỏi kỹ 
  15. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy thuật cao và sản xuất hàng xuất khẩu. Bên cạnh đó, tạo điều kiện cho người nước ngoài và Việt kiều về nước đầu tư,   hợp tác kinh doanh. ­ Đổi mới tư duy lý luận và phong cách lãnh đạo của Đảng: Nâng cao nhận thức lý luận, vận dụng đúng quy luật khách quan, khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí hoặc bảo   thủ trì trệ. Đổi mới bắt đầu từ đổi mới tư  duy, trước tiên là đổi mới tu duy kinh tế trên cơ  sở  nắm vững bản chất cách   mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác­Lênin, kế thừa tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đảng phải quán triệt   tư tưởng “lấy dân làm gốc”, phải nắm vững thực tiễn và không ngừng nâng cao trình độ  trí tuệ  và đổi mới phong cách,   phương pháp làm việc. 4. Kết luận: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánh dấu bước ngoặt   trong sự nghiệp quá độ lên CNXH ở nước ta. Đại hội đã tìm ra lối hoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế­xã hội bằng việc   đề ra đường lối đổi mới, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường đi lên CNXH. Mục tiêu tổng quát của Đại hội VI đã   chuẩn bị những tiền đề quan trọng trong chặng đường đầu tiên để đẩy mạnh CNH, HĐH trong những chằng đường tiếp   theo.
  16. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử ĐCS Việt Nam – Đinh  Huy Câu 7: Thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm của 25 năm đổi mới đất nước? 1. Giới thiệu: Sau 25 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc cách mạng đã gặt hái được   nhiều thành công lớn lao, đồng thời cũng xuất hiện một số hạn chế nhất định, để lại những bài học sâu sắc. 2. Những thành tựu cơ bản: ­ Về thực tiễn: Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đạt được những bước tiến có ý nghĩa lịch sử. Tăng trưởng kinh tế   cao và tương đối  ổn định: khoảng trên 7% trong suốt thời gian dài từ  1991 đến 2010. Phát triển nền kinh tế  hàng hóa  nhiều thành phần, định hướng XHCN. Từng bước hình thành các loại thị  trường: thị  trường dịch vụ  hàng hóa, thiij   trường sức lao động, thị trường tài chính­tiền tệ, thị  trường bất động sản, thị  trường khoa học­công nghệ… Sự  nghiệp   CNH được đẩy mạnh trên cơ sở hình thành các vùng kinh tế trọng điểm và các khu công nghiệp, khu chế xuất Sản xuất nông nghiệp phát triển đã đưa Việt Nam nhiều năm liền trở  thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ  hai   trên thế giới và nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu trong tốp đầu thế giới như: hạt tiêu, cà phê, cao su… Văn hóa­xã hội đạt được nhiều thành tự quan trọng. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện   rõ rệt. Đến năm 2013, thu nhập bình quân đầu người ước đạt 1.800USD. Những gía trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc được  bảo tồn và phát huy. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới được đẩy mạnh trên cả  nước. Thực  hiện hiệu quả các chính sách xã hội, trở thành điểm sáng về xóa đói, giảm nghèo và là một trong những nước sớm hoàn  thành mục tiê thiên niên kỷ. Chính trị­xã hội  ổn định. Hệ  thống chính trị  và khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố  và tăng cường. Sự  nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN được đẩy mạnh. Bộ máy hành chính nhà nước được cải cách một bước.  Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị­xã hội từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động. Công tác xây   dựng, chỉnh đốn Đảng được tăng cường nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu   của tình hình mới. An ninh quốc phòng được củng cố. Trước những diễn biến phức tạp của tiinhf hình thế giới và trong nước, chủ  quyền và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững. Lực lượng vũ trang ngày càng vững mạnh, được xây dựng theo hướng chính   quy và từng bước hiện đại. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng. Vị thế của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc  tế . ­ Về lý luận: Sau 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, nhận thức của Đảng về CNXH và con đường đi lên CNXH ngày càng   sáng tỏ; hệ thống luận điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội XHCN và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam đã   hình thành trên những nét cơ bản. 3. Những hạn chế: Những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng cuẩ  đất nước. Kinh tế  phát triển chưa bền vững,   sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Những tiêu cực và tệ nạn xã hội ngày càng diễn biến phức tạp, phân hóa giàu   nghèo ngày càng tăng. An ninh chính trị  vẫn còn tiềm  ẩn những yếu tố  gây mất  ổn định, đe dọa chủ  quyền quốc gia.   Hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của nhà nước và chính quyền các cấp chưa cao, gây bức xúc trong nhân dân. Tệ   quan liêu, tham nhũng, lãng phí đang gây bất bình trong xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân với Đảng và nhà nước. Một số vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam chưa được làm sáng tỏ, đặc  biệt là trong mối quan hệ  giữa tăng trưởng kinh tế  và công bằng xã hội. Lý luận về  các bước đi của CNH, HĐH và   những vấn đề về thể chế kinh tế thị trường; về nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; về đảng cầm quyền trong điều   kiện kinh tế thị trường, dân chủ và mở cửa, hội nhập quốc tế chưa được làm sáng tỏ. 4. Bài học kinh nghiệm qua 25 năm đổi mới: Trong bất kỳ  điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối đổi mới, kiên định và vận dụng   sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác­Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa với những bước đi thích hợp. Tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc   tế, nhưng luôn đảm bảo độc lập, chủ quyền, tự chủ, giữ vững truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc. Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế  với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Coi trọng chất lượng,   hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững. Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất   phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới. Phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức khai thác ngoại lực, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh  thời đại. Củng cố quốc phòng­an ninh, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt chăm lo củng cố, xây dựng Đảng vững mạnh cả  về  chính trị, tư  tưởng và tổ  chức; không ngừng đổi   mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị. ­­­­­­­­Hết­­­­­­­ * Ghi chú: Các anh/chị đọc lại, điều chỉnh bổ sung cho phù hợp. Chú ý liên hệ thực tiễn cách mạng.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản