intTypePromotion=3

Đề cương ôn tập môn Những vấn đề cơ bản về hệ thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN

Chia sẻ: Đinh Văn Huy | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:39

0
250
lượt xem
42
download

Đề cương ôn tập môn Những vấn đề cơ bản về hệ thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề cương ôn tập môn Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN gồm 8 câu hỏi lý thuyết giúp bạn làm quen với hình thức thi của môn học, hệ thống lại kiến thức qua các câu hỏi, bài tập và tự đánh giá năng lực của mình. Mời bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề cương ôn tập môn Những vấn đề cơ bản về hệ thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN

  1. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ,  NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT XàHỘI CHỦ NGHĨA Câu 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành hệ thống chính trị ở nước ta. Vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị   trong hệ thống chính trị của nước ta. Câu 2: Phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Liên hệ thực tiễn. Câu 3: Vị trí, vai trò, chức năng của HĐND? Liên hệ. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND. Liên   hệ. Câu 4: Nguồn gốc và bản chất của Pháp luật. Bản chất của pháp luật XHCN? Hệ thống pháp luật XHCN? Câu 5: Các quan điểm và nội dung thực hiện dân chủ cơ sở. Liên hệ thực tiễn. Câu 6:  Khái niệm pháp chế  XHCN. Mối quan hệ  giữa pháp luật và pháp chế. Các biện pháp tăng cường pháp chế  XHCN. Liên hệ thực tiễn. Câu 7: Cơ cấu tổ chức, chức năng của TAND và VKSND? Câu 8: Nội dung cơ bản các ngành luật: Hiến pháp, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, đất đai.
  2. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. Câu 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành hệ thống chính trị ở nước ta. Vai trò của các tổ chức chính   trị trong hệ thống chính trị của nước ta. Chính trị là hoạt động gắn với những quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội khác nhau, xoay  quanh vấn đề trung tâm ­ vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước. Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị,   các phong trào xã hội, các tổ chức chính trị  ­ xã hội…) được xây dựng trên các quyền và các chuẩn mực xã hội, phân bố  theo  một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ  chế và quan hệ  cụ  thể, nhằm thực thi quyền lực chính  trị. Hệ thống chính trị được tạo thành từ nhiều bộ phận là một kết cấu phức tạp gồm nhiều bộ phận nhỏ khác, như: ­ Tiểu hệ thống thể chế chính trị (các tổ chức), ­ Tiểu hệ thống quan hệ, ­ Tiểu hệ thống cơ chế, ­ Tiểu hệ thống các nguyên tắc vận hành. Như vậy, cấu trúc của HTCT gồm bốn bộ phận: + Các tổ chức là cốt vật chất của HTCT, + Quan hệ chính trị là bộ phận kết nối, + Cơ chế là phương thức hoạt động,  + Các nguyên tắc vận hành nhằm đảm bảo HTCT vận hành thông suốt. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nước ta: Hệ thống chính trị nước ta về tổ chức bộ máy bao gồm: ĐCS VN, Nhà nước, Mặt trận TQVN và các TCCTXH. ­ ĐCSVN là hạt nhân, lãnh đạo hệ thống chính trị. ­ NNCHXHCNVN bao gồm: Quốc hội, Chủ  tịch nước, Chính phủ, hệ  thống tư  pháp (TA và VKS) và chính quyền địa   phương. Là trung tâm của quyền lực chính trị. QH là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực cao nhất của nước CHXHCNVN. QH có chức năng   lập pháp; quyết định những vấn đề xã hội, QP, AN của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của công   dân. QH thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của NN. Chủ  tịch nước là người đứng đầu NN, thay mặt NN về  đối nội và đối ngoại. CTN do QH bầu ra trong số các Đại biểu   QH. CTN phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước QH. CP là cơ  quan chấp hành của QH, cơ  quan HCNN cao nhất của Nước CHXHCNVN. CP thống nhất quản lý việc thực   hiện các nhiệm vụ chính trị, k tế, v hóa, x hội, QP, AN và đối ngoại của NN.  TAND và VKSND có chức năng nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp, pháp luật của NN. Để thực hiện nhiệm vụ đó, các cơ quan   này phải thực hiện một số nhiệm vụ như điều tra, tố tụng, truy tố, xét xử, thi hành án ...
  3. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. Hệ thống Tòa án ở nước ta bao gồm: TAND Tối cao, các TAND địa phương, các Tòa quân sự và các Tòa án khác do Luật   định. Đó là những cơ quan xét xử của Nước CHXHCNVN. Hệ  thống VKS ở nước ta bao gồm: VKSND Tối cao, các VKSND địa phương, các VKS Quân sự. VKS thực hành quyền   công tố và kiểm soát các hoạt động tư pháp. Đối với địa phương: Nhân dân các địa phương bầu ra HĐND cấp mình.  HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra. HĐND bầu ra UBND, UBND là cơ  quan chấp hành của HĐND và là cơ quan HCNN ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành HP, luật, các VB của cơ  quan NN   cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp. ­ MTTQ và các tổ chức chính trị ­ xã hội là cơ  sở chính trị của chính quyền nhân dân, là nơi thể hiện ý chí nguyện vọng,  tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia công tác bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp,   xây dựng chủ trương chính sách pháp luật, vận động nhân dân thực hiện đường lối chủ  trương của Đảng, pháp luật của Nhà  nước, thực hiện giám sát, phản biện hoạt động các cơ  quan nhà nước, đại biểu dân cử, CB,CC, đảng viên, giải quyết những  mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Các cơ chế vận hành của hệ thống chính trị: + Cơ chế Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. + Cơ chế mệnh lệnh hành chính. + Cơ chế thể chế (xây dựng, vận hành và hoàn thiện hệ thống các tổ chức của hệ thống chính trị) + cơ chế tư vấn: tuyên truyền, giáo dục theo định hướng chính trị nhất định. + Cơ chế kiểm soát quyền lực (có hai hệ thống): ­ Các cơ quan nhà nước (QH, HĐND, thanh tra, kiểm toán…), đây là hệ thống kiểm soát quyền lực bên trong. ­ Các tổ chức Đảng, đoàn thể, dư  luận xã hội, hệ  thống thông tin đại chúng, quyền khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Đây  Là hệ thống kiểm soát quyền lực bên ngoài. Các cơ chế vận hành này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi một loại tổ chức trong hệ thống chính trị tuy theo chức năng,  nhiệm vụ, phương thức tổ chức và hoạt động để  sử  dụng và kết hợp các cơ  chế  sao cho quá trình thực thi quyền lực chính trị  có hiệu lực và hiệu quả nhất. Vị trí, vai trò của Nhà nước trong Hệ thống chính trị XHCN ở VN: Nhà nước Việt Nam có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị được quy định bởi chức năng và nhiệm   vụ của nó trong hệ thống chính trị, trong đời sống xã hội và được thể  hiện trong mối quan hệ giữa Nhà nước với Đảng và các  tổ chức chính trị ­ xã hội trong hệ thống chính trị. Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành hiến pháp, pháp  luật và chính sách làm công cụ quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong hệ thống chính trị nước ta, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ cột, là công cụ tổ chức thực hiện  ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống   xã hội. Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mặt khác, Nhà nước chịu sự  lãnh đạo và thực hiện   đường lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Vị trí, vai trò của Nhà nước trong Hệ thống chính trị XHCN ở VN thể hiện ở các mặt sau đây: Thứ nhất: Nhà nước là biểu hiện tập trung nhất của quyền lực chính trị ­ là đại diện của các tầng lớp, giai cấp, nhóm lợi ích chủ yếu trong xã hội; ­ là đại diện chính thức của toàn xã hội;
  4. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. ­ Nhân dân thực hiện quyền lực của mình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện; Thứ hai: Nhà nước là công cụ chủ yếu, hữu hiệu nhất để thực hiên quyền lực chính trị ­ Cưỡng chế nhà nước trong thực hiện quyền lực chính trị; ­ Đầy đủ phương tiện, cơ sở vật chất để thực hiện quyền lực chính trị; ­ Là chủ thể duy nhất mang chủ quyền trong quan hệ quốc tế về chính trị. Thứ ba: Thể hiện ở mối quan hệ của Nhà nước với Đảng và các tổ chức CTXH ­ Đảng hoạch định chiến lược và mục tiêu cơ bản, đường lối, chủ trương phát triển kinh tế xã hội để từ đó Nhà nước thể   chế hóa và thực hiện. Đảng là nguồn nhân sự quan trọng cho cơ quan nhà nước. Đảng kiểm tra giám sát việc thực hiện quyền   lực nhà nước, thực hiện đường lối chủ trương, chính sách. ­ Tổ chức CTXH là tập hợp quần chúng nhân dân liên kết theo nguyên tắc tự nguyện nhằm đáp ứng các lợi ích cho các thành  viên. Tham gia vào quá trình tổ chức cơ quan nhà nước và giám sát thực hiện quyền lực nhà nước theo quy định của pháp luật.   Đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật, chủ trương, đường lối chính sách phát triển của đất nước.
  5. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. Câu 2: Phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Liên hệ thực tiễn.
  6. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. Qua thực tiễn tồn tại và phát triển của lịch sử nhân loại, qua nghiên cứu các quan điểm tư tưởng về tổ chức, xây dựng và   vận hành của bộ máy nhà nước qua các thời kỳ lịch sử, chúng tôi cho rằng, khái niệm nhà nước pháp quyền đề cập đến phương   thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước nói chung thông qua hệ thống pháp luật, như hiến pháp, luật và các văn  bản pháp quy khác. Nói cách khác, nhà nước pháp quyền là nhà nước được xem xét dưới góc độ pháp luật, trong đó tính tối cao   của pháp luật được tôn trọng, các tư tưởng và hành vi chính trị, tôn giáo... của bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào cũng được giới   hạn bởi khuôn khổ pháp luật và chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Với cách tiếp cận này, chúng ta có thể  thấy, tư  tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyền đã có từ  rất lâu trong lịch sử   nhân loại và tương ứng với mỗi kiểu nhà nước (chủ  nô, phong kiến, tư sản, xã hội chủ  nghĩa) đều có một hệ  thống pháp luật   tương  ứng và đạt mức độ  phát triển khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không thống nhất với quan điểm cho rằng, "bất cứ  nhà nước nào có hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm khác nhau đều coi là nhà nước pháp quyền" mà cần xác định rằng, tư   tưởng về nhà nước pháp quyền phát triển không ngừng, là thành quả của nhân loại, nó hình thành và phát triển cùng với sự tiến   bộ xã hội và cho đến nay đã được thế  giới thừa nhận về mặt lý luận như  một học thuyết về  nhà nước pháp quyền. Tại Hội   nghị quốc tế về nhà nước pháp quyền được tổ chức tại Bê­nanh, năm 1992, các luật gia đã đưa ra nhiều khái niệm, tiêu chí về  một nhà nước pháp quyền và được đông đảo dư luận quốc tế đồng tình, bao gồm: sự thừa nhận tính tối cao của pháp luật; việc   xác định quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong bộ máy quyền lực nhà nước; việc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của   con người, tôn trọng pháp luật quốc tế v.v.. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, vấn đề  nhà nước pháp quyền đề  cập đến phương  thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước dưới góc độ pháp luật, mà pháp luật thì bao giờ cũng mang tính giai cấp   và tính đặc thù của mỗi nhà nước, mỗi dân tộc; do đó, phương thức tổ chức xây dựng và vận hành của nhà nước pháp quyền sẽ  thể hiện cụ thể khác nhau về bản chất chế độ chính trị, hệ thống quan điểm, mục đích nhiệm vụ của từng thời kỳ phát triển   hoặc điều kiện cụ thể của mỗi nước, chứ không có mô hình, tiêu chí về  nhà nước pháp quyền đồng nhất cho tất cả  các nước   khác nhau. Qua nghiên cứu sự hình thành, phát triển và các quan điểm lý luận về nhà nước pháp quyền hiện nay, chúng ta có thể xác   định, nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy   định và thừa nhận tính tối cao của pháp luật; bao hàm việc xác định rõ ràng quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với hệ thống   pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát   sinh trong xã hội, nhất là việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân (hoặc con người nói chung). Từ đó, chúng ta có thể rút ra bốn tiêu chí chung của nhà nước pháp quyền như sau: ­ Phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước phải do pháp luật quy định; ­ Nhà nước và công dân phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật (đảng phái, tổ  chức, tôn giáo... phải được tổ  chức và   hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật); ­ Quyền lực nhà nước được xác định gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp; ­ Có hệ  thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để  điều chỉnh những   quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội; đặc biệt là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân (hoặc con người   nói chung) Như  vậy, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước gắn với một giai cấp mà là một hình thức tổ  chức  quyền lực nhà nước, thực hiện quản lý xã hội theo pháp luật, đảm bảo quyền tự do dân chủ của nhân dân. Qua mấy chục năm xây dựng và đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, tại Hội nghị đại biểu   toàn quốc giữa nhiệm kỳ (1994), Đảng ta đã xác định nhiệm vụ và phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đây là nhiệm vụ lớn lao của Đảng và của toàn dân tộc, cho nên Đảng   ta luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện và cụ thể  hóa trong các văn kiện của Đảng như: Nghị  quyết Hội nghị  Trung  ương 8, khóa   VII, năm 1995; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, v.v.. Tiếp thu những tiến bộ khoa học về nhà nước pháp quyền đồng thời quán triệt quan điểm chủ nghĩa Mác­Lênin, tư tưởng   Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật kiểu mới có thể khái quát nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như sau: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân; tất cả quyền lực   nhà nước đều thuộc về nhân dân; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, quản lý xã hội bằng pháp luật nhằm phục vụ lợi ích và   hạnh phúc của nhân dân, do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân và sự   giám sát của nhân dân. Tham khảo thêm: ­ Sự khác nhau giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư sản
  7. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. Trên cơ  sở  các tiêu chí chung về  nhà nước pháp quyền, chúng ta có thể  nhận thấy tương đối rõ ràng sự  khác nhau giữa  Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với Nhà nước pháp quyền tư sản. 1 ­ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư sản đều phải thừa nhận phương thức tổ chức, xây   dựng và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định. Tuy nhiên, bản chất và nội dung pháp luật về tổ chức, xây dựng và   vận hành bộ máy của hai nhà nước đó có nhiều điểm khác nhau rất cơ bản. Rõ nhất là, sự  khác nhau trong các quy phạm của   hiến pháp và pháp luật về tổ chức, cơ cấu nhân sự  và việc xây dựng, vận hành của bộ máy quyền lực như: Quốc hội và Nghị  viện; Tổng thống và Chủ  tịch nước, Thủ  tướng Chính phủ, Tòa án, Tòa án Hiến pháp, v.v.. Pháp luật trong Nhà nước pháp   quyền xã hội chủ  nghĩa thừa nhận tất cả  quyền lực nhà nước thuộc về  nhân dân, do nhân dân bầu ra các cơ  quan quyền lực   (Quốc hội, Chính phủ...) và chỉ có nhân dân trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình là chủ thể duy nhất có quyền tuyên  bố chấm dứt hoạt động của Quốc hội, Chính phủ  hoặc tổ  chức ra Quốc hội và Chính phủ  nhiệm kỳ mới. Trong khi đó, Hiến   pháp và pháp luật tư sản lại thừa nhận quyền lực của cá nhân Tổng thống hoặc cá nhân Thủ tướng có quyền giải tán Nghị viện   (Quốc hội) hoặc giải tán Chính phủ... 2 ­ Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước và công dân đều phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật, vì   pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân. Trong Nhà nước pháp quyền tư sản, nhà nước  và công dân cũng phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật, nhưng pháp luật tư sản không phải là pháp luật của toàn dân, không   thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của toàn dân mà chỉ phản ánh ý chí, nguyện vọng của một bộ phận nhân dân, đó là những   người giàu, là giai cấp tư sản. Nói cách khác, luật pháp của Nhà nước pháp quyền tư sản chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản   và gạt ra ngoài lề quyền lợi của người lao động ­ những người bị áp bức bóc lột. Đây là nội dung khác biệt cơ  bản nhất giữa   Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư sản. 3 ­ Nhà nước pháp quyền tư  sản coi thuyết "tam quyền phân lập" là học thuyết cơ  bản trong việc thực hiện quyền lực   nhà nước, các cơ  quan lập pháp, hành pháp, tư pháp hoàn toàn độc lập với nhau trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành  pháp và tư pháp. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không thừa nhận việc phân chia quyền lực mà coi quyền lực nhà nước   là thống nhất và thuộc về nhân dân; trong đó, có sự phân công, phối hợp, để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp   nhằm bảo đảm cho quyền lực nhà nước thống nhất, được thực hiện với hiệu quả cao nhất. 4 ­ Về  hệ  thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư  sản cũng có nhiều   điểm khác nhau. Bên cạnh sự khác nhau về tính giai cấp, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa chỉ công nhận các quy phạm   pháp luật khi nó được xác lập và thông qua theo một trình tự và thủ  tục nhất định; trong khi đó, Nhà nước pháp quyền tư  sản   thường coi "án lệ" hoặc "tập quán" như một loại quy phạm pháp luật "bất thành văn". Xây dựng nhà nước pháp quyền đang trở thành một xu thế khách quan tất yếu đối với các quốc gia dân chủ trong thế giới   hiện đại. Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung đó. Yếu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được Đảng  ta chính thức đưa vào văn kiện Đại hội VIII của Đảng và qua các kỳ ĐH tiếp theo, tiếp tục được khẳng định tại Đại hội XI của   Đảng, trong đó Đảng ta đặc biệt chú ý đến việc “nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng  cường pháp chế XHCN và kỷ lụa, kỷ cương” Phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được Đảng ta chính thức đưa vào văn kiện Đại hội VII của Đảng,  trong đó nêu rõ: “Quốc hội cần hướng vào việc thực hiện hai yêu cầu cơ  bản: Một là, xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà   nước có năng lực định ra một hệ thống luật pháp đồng bộ đáp ứng được yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế ­ xã hội và quản  lý mọi mặt xã hội văn minh, tiến bộ; hệ thống pháp luật đó là cơ sở bảo đảm cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng   và Nhà nước được thực thi có hiệu quả, là một nhân tố trọng yếu làm cho các quan hệ  xã hội của chúng ta trở  nên lành mạnh   hơn. Hai là, bảo đảm quyền lực và hiệu lực trên thực tế của Quốc hội, do Hiến pháp quy định”(1). Từ  Đại hội VII đến Đại hội VIII, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về  nhà nước pháp quyền đã có bước phát   triển. Nếu như ở Đại hội VII, Đảng ta mới chỉ xác định yêu cầu phải xây dựng nhà nước pháp quyền và mới chỉ định hình được   rằng, đó là nhà nước có năng lực định ra một hệ thống luật pháp đồng bộ để quản lý mọi mặt đời sống xã hội, thì đến Đại hội   VIII, Đảng ta lại xác định thêm tính “xã hội chủ nghĩa” cho nhà nước pháp quyền, tức là chủ  trương xây dựng nhà nước pháp   quyền xã hội chủ nghĩa. Ở đây, chúng ta thấy bước phát triển tư duy lý luận của Đảng về nhà nước pháp quyền là ở chỗ đã đề   cao tính pháp chế, coi đó là đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền, đồng thời cũng coi trọng khía cạnh đạo đức như  một   thuộc tính của xã hội chủ nghĩa.
  8. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. Tại Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa và xác định bản chất của   nhà nước, đó là của dân, do dân và vì dân. Đồng thời với chủ trương tăng cường pháp chế, các Nghị quyết của Đại hội IX cũng   chủ  trương mở rộng dân chủ  ­ là cơ  sở  chính trị  ­ xã hội của nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa. Còn về  cơ  sở  kinh tế  ­   chính trị của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được Đảng ta dựa trên bản chất định hướng xã hội chủ  nghĩa của nền kinh   tế thị trường. Chủ trương xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được Đảng ta khẳng định lại ở Đại hội X:  “Xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả  quyền lực nhà nước đều   thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ  quan trong việc thực hiện quyền   lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp   luật. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan   công quyền”(2). Như  vậy,  ở đây chúng ta vẫn dễ dàng nhận thấy rằng, tính pháp chế  là đặc trưng cơ  bản của nhà nước pháp   quyền và bản chất của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Về mặt tư duy lý luận,   có lẽ điểm khác biệt của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với các nhà nước pháp quyền khác là ở  cơ  chế  vận hành của nhà nước, bởi vì ở các nhà nước pháp quyền tư sản thì cơ chế vận hành phổ  biến là “tam quyền phân lập”. Việc   Đảng ta xây dựng cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ  quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư  pháp để  bảo   đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, chính là dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác ­ Lê­nin về nhà nước và pháp luật. Chủ trương đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những đặc trưng đã nêu ở trên vẫn  tiếp tục được khẳng định tại Đại hội XI của Đảng, trong đó Đảng ta đặc biệt chú ý đến việc “nâng cao năng lực quản lý và  điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương”(3). Qua quá trình đổi mới và phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, có thể thấy: Một là, Đảng đã chỉ rõ tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và coi  đó là yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước. Hai là, nhận diện được hình hài của nhà nước pháp quyền: là phương thức tổ chức dân chủ quyền lực nhà nước mà theo  đó pháp luật là cơ sở cho việc thực hiện quyền lực cũng như thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mọi chủ thể trong xã hội. Ba là, nhất quán chỉ rõ bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân  dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Bốn là, nhận rõ đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền là tính pháp chế, khẳng định vai trò, vị trí của pháp luật trong   quản lý nhà nước và xã hội, tính tối cao của Hiến pháp trong đời sống xã hội. Năm là, xác định được cơ chế vận hành của các cơ quan quyền lực nhà nước: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự  phân   công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sáu là, thấy rõ yêu cầu mở rộng dân chủ đồng thời với việc tăng cường kỷ  luật, kỷ  cương, giáo dục đạo đức trong xây  dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bảy là, khẳng định nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước trong quá trình xây   dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa Việt Nam. Điều đó không chỉ  mang tính nguyên tắc được khẳng định từ  lý luận  Mác ­ Lê­nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là kết luận chắc chắn được rút ra từ thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng   ra đời đến nay. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhằm bảo đảm   cho nhà nước mang bản chất của giai cấp công nhân, thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Sự lãnh đạo  của Đảng tạo điều kiện phối hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, giúp nhà nước hoàn thành mọi nhiệm   vụ của mình và giữ vững tính chất xã hội chủ nghĩa của nhà nước pháp quyền.
  9. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. Từ  thực tiễn tổ chức và hoạt động của bộ  máy nhà nước, Đảng ta đã ban hành 02 nghị  quyết để  lãnh đạo, chỉ  đạo thực  hiện khâu đột phá trong tiến trình hoàn thiện tổ chức quyền lực nhà nước. Nghị quyết số 48­NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX)  về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” đã đề ra mục  tiêu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch. Trong đó, trọng tâm là hoàn   thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;   đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực thi pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội,   giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, mở rộng hội nhập quốc tế; xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh; thực hiện   quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại   vào năm 2020. Nghị quyết số 49­NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã đề  ra   các giải pháp đồng bộ nhằm vừa giải quyết những vấn đề  bức xúc trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài vì mục tiêu xây  dựng nền tư  pháp trong sạch, vững mạnh, công bằng, phụng sự  công lý, phục vụ  Tổ  quốc và nhân dân; tạo cơ  sở  quan trọng   cho công cuộc cải cách tư pháp đi vào chiều sâu, đặc biệt là việc thay đổi về chất các thể chế, nguyên tắc, điều kiện bảo đảm   độc lập xét xử và nâng cao năng lực, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ các chức danh tư pháp. Chủ  trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN  ở  Việt Nam được hình thành trên cơ  sở  những nguyên lý của chủ   nghĩa Mác – Lê­nin về xây dựng, hoàn thiện kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng. Trong điều kiện phát triển kinh   tế thị trường định hướng XHCN, cần thiết phải xây dựng các thiết chế quyền lực phù hợp. Nền kinh tế thị trường định hướng   XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, dưới   sự  lãnh đạo của Đảng. Trong nền kinh tế đó, cơ  chế thị trường cần được vận hành đầy đủ, linh hoạt để  phát huy mọi nguồn  lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân, xóa đói giảm nghèo, tăng cường đoàn kết,   đồng thuận xã hội; phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước  và từng chính sách; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đồng thời giữ vững, tăng cường tính độc lập, tự chủ. Trong điều kiện   phát triển nền kinh tế thị trường với sự tác động của nhiều yếu tố trong và ngoài nước, với sự  tham gia ngày càng nhiều chủ  thể thuộc nhiều thành phần kinh tế như hiện nay, Nhà nước phải bảo đảm và phát huy quyền tự  do kinh doanh theo pháp luật   để mọi công dân có nhu cầu, có điều kiện đều được tham gia hoạt động kinh doanh; mọi thành phần kinh tế, mọi chủ thể kinh   tế đều được coi trọng, cạnh tranh bình đẳng theo pháp luật, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN bằng luật pháp, cơ  chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch,  kế hoạch và các nguồn lực kinh tế; bảo đảm giữ  vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập, phát triển đầy đủ  các yếu tố  thị  trường  và các loại thị trường; cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; định hướng phát triển, phát   huy mặt tích cực, hạn chế mặt trái, mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Trong điều kiện các quy luật thị trường chưa vận hành   đồng bộ, nhà nước cần thực hiện “tròn vai” chức năng quản lý KT­XH, làm tốt vai trò “bà đỡ” cho sự  ra đời của các loại thị  trường, giúp cho thị trường vận hành thông suốt. Thực tiễn tiến hành công cuộc đổi mới và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hơn hai mươi năm qua cho phép chúng   ta rút ra những bài học quý báu, làm tiền đề  cho việc tiếp tục nghiên cứu, đúc kết thực tiễn, làm sâu sắc hơn lý luận về  Nhà  nước pháp quyền XHCN; bổ sung, làm giàu thêm lý luận về tổ chức quyền lực trong Nhà nước XHCN. Trước hết, cần kiên trì học thuyết Mác ­ Lê­nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức quyền lực nhà nước ; kiên trì mục tiêu  Nhà nước XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mang lại lợi ích, tự do, dân chủ, công bằng, bình đẳng và cuộc  sống hạnh phúc cho người dân. Đó cũng là chuẩn mực cao quý để  đánh giá bản chất vì con người của Nhà nước pháp quyền   XHCN. Đây là điều mà ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến khi đề  ra yêu cầu xây dựng   Nhà nước, xây dựng xã hội trên nguyên tắc pháp quyền. Theo đó, mọi hành vi, mọi hoạt động ở mọi nơi, mọi lúc của bộ  máy   nhà nước, của từng công chức đều phải thể hiện được “... thần linh pháp quyền”[2]; ý thức pháp luật, tinh thần trách nhiệm, kỷ  cương, kỷ luật phải là yếu tố chi phối toàn bộ hoạt động của bộ máy công quyền; môi trường pháp chế  phải trở thành yếu tố  tự nhiên của xã hội. Thứ hai, bám sát thực tiễn, giải quyết những vấn đề thực tiễn;  kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn; bảo đảm mọi   lý luận đều có khởi nguồn và là nhu cầu giải quyết các vấn đề  thực tiễn. Càng giải quyết đúng đắn các đòi hỏi của thực tiễn  thì tính pháp quyền XHCN của Nhà nước càng nhiều, lý luận về Nhà nước pháp quyền XHCN càng khẳng định sức sống của   mình. Thứ  ba, cần tiến hành từng bước vững chắc, với lộ  trình phù hợp để  bảo đảm chắc chắn thành công.  Xây dựng Nhà  nước pháp quyền XHCN là vấn đề mới, chưa có tiền lệ, liên quan đến thể  chế quản lý từ  Trung ương đến địa phương, trong   tất cả các lĩnh vực của đời sống KT­XH. Vì vậy, không thể nóng vội, “rũ tung” vấn đề rồi sắp xếp lại, mà phải tìm cho được  khâu đột phá; vừa làm, vừa rút kinh nghiệm để  triển khai  ở  các khâu khác. Cụ  thể, chúng ta dành ưu tiên cho việc hoàn thiện   pháp luật, cải cách hành chính, nâng cao chất lượng tranh tụng của Tòa án và thành quả triển khai ở các lĩnh vực này đã tạo tiền   đề thuận lợi để tiến hành những bước tiếp theo.
  10. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. Với việc xác định xây dựng pháp luật là khâu đột phá và tập trung nguồn lực triển khai, trong thời gian không dài, hệ  thống pháp luật của nước ta đã hình thành, điều chỉnh ngày càng sâu rộng các quan hệ phát sinh trong xã hội và đang bước vào  giai đoạn hoàn thiện. Các chính sách của Nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống KT­XH đã được điều chỉnh ngày   càng đầy đủ trong các đạo luật chuyên ngành. Năm 1991, nước ta mới có 92 luật, sắc lệnh, pháp lệnh (trong đó có 35 luật) chủ  yếu tập trung điều chỉnh các lĩnh vực về  tổ chức bộ máy, an ninh, quốc phòng, kinh tế... thì đến năm 2011, nước ta đã có 330   luật, pháp lệnh, điều chỉnh tương đối đầy đủ các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là các luật, pháp lệnh liên quan đến chế độ   kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, quyền và nghĩa vụ của công dân... Cải cách hành chính, trước hết là cải cách   thủ tục hành chính đã góp phần từng bước xây dựng nền hành chính tuân thủ pháp luật, trong sạch, trách nhiệm, gần dân, tinh   gọn với các nội dung cơ bản là cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán   bộ, công chức và cải cách tài chính công. Mục tiêu của Chương trình là xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững   mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo các nguyên tắc pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của   Đảng, đáp ứng yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… Thứ  tư, tăng cường và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Nhà  nước, quyền lực nhà nước là các phạm trù chính trị ­ pháp lý. Lãnh đạo xây dựng Nhà nước, tổ chức quyền lực nhà nước là sứ   mệnh chính trị  của Đảng nhằm giữ  vững bản chất của Nhà nước XHCN, bảo đảm thực hiện đúng đắn vai trò của Nhà nước   trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ  XHCN, bảo đảm tất cả  quyền   lực nhà nước thuộc về nhân dân, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của   nhân dân. Thứ  năm, học tập có chọn lọc kinh nghiệm của các nước. Nhà nước pháp quyền là một giá trị  tư  tưởng được tích lũy  trong lịch sử nhân loại, gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ, ngăn ngừa, loại trừ chuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, vô  pháp luật. Tuy nhiên, việc vận dụng tư tưởng này cần được thực hiện phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa,   lịch sử  của mỗi quốc gia, dân tộc. Đây cũng là vấn đề  liên quan đến bài học bám sát thực tiễn nêu trên. Hiện nay, có một số   người không thích nói đến “thực tế Việt Nam”, “đặc thù Việt Nam”, coi đó là sự ngụy biện cản trở hội nhập quốc tế. Họ cho   rằng, cần lấy mô hình thành công của các nước tiên tiến để  “áp dụng trọn gói” khi xây dựng các thiết chế nhà nước của Việt   Nam. Tuy nhiên, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là một sự  nghiệp lớn, là một trong những vấn đề  hệ  trọng liên quan  đến sự phát triển của đất nước, đến cuộc sống của nhân dân; vì vậy, không thể  nôn nóng, chủ quan, khinh suất hoặc sao chép   kinh nghiệm nước ngoài. Để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, chúng ta cần nắm vững các định hướng lớn   sau: ­ Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do  nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo; xây dựng, bổ sung các thể chế, cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm thực hiện nhất   quán nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát  giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, tạo thành sức mạnh tổng hợp của quyền lực nhà   nước. ­ Đổi mới tổ  chức và hoạt động của bộ  máy nhà nước. Theo đó, cần đẩy mạnh việc đổi mới tổ  chức, hoạt động của   Quốc hội nhằm: một mặt, bảo đảm Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất   thực hiện quyền lập hiến, lập pháp; mặt khác, tạo cơ chế phù hợp, có hiệu lực, hiệu quả để Quốc hội thực hiện tốt chức năng   giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp   luật, tăng tính khả thi của pháp luật.  ­ Xác định rõ hơn vị trí, vai trò của Chủ tịch nước trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, đặc biệt là mối quan hệ  giữa   Chủ tịch nước với các cơ  quan lập pháp, hành pháp, tư  pháp; trách nhiệm, quyền hạn của Chủ tịch nước trong việc thực hiện   chức năng nguyên thủ quốc gia, thay mặt nhà nước về đối nội, đối ngoại và thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân. ­ Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Chính phủ là cơ  quan chấp hành của Quốc hội, cơ  quan hành chính nhà nước cao   nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp. Làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ  phù hợp   với vị trí, tính chất đó của Chính phủ. ­ Xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ  quyền con người, quyền công   dân. Xác định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; Viện kiểm sát   nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Sửa đổi, bổ sung một số quy định về nguyên tắc tổ chức và  hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân theo định hướng cải cách tư pháp; cần nghiên cứu thấu đáo cơ chế bảo   vệ Hiến pháp, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của các cơ quan   trong bộ máy nhà nước. 
  11. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. ­ Về chính quyền địa phương, cần xác định rõ hơn địa vị pháp lý, mô hình tổ chức, thẩm quyền của các cấp chính quyền  địa phương; quan hệ  giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; tăng cường phân cấp, phân quyền giữa Trung  ương và địa   phương nhằm bảo đảm sự  điều hành, chỉ  đạo thống nhất của Trung  ương, đồng thời phát huy tính tự  chủ, tăng cường trách   nhiệm của chính quyền địa phương. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN không chỉ  là công việc của Nhà nước mà là sự  nghiệp của toàn Đảng, toàn dân.   Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế  độ XHCN; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội là vấn đề cốt tử, là tiền đề  quan trọng để  xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN  ở Việt Nam. Đây là một sự  nghiệp lớn, là quá trình lâu dài,   nhưng phải tiến hành với nhịp độ khẩn trương, đòi hỏi sự phấn đấu nỗ lực của cả hệ thống chính trị, của toàn thể cán bộ, công   chức và nhân dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân có vai trò hết sức quan trọng. Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là một sáng tạo trong tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Đảng ta   về tổ chức bộ máy nhà nước nói riêng và tổ chức quản lý xã hội nói chung. Từ chỗ cơ bản quan tâm đến các vấn đề  bên ngoài   của tổ chức quyền lực nhà nước (như  kiện toàn tổ  chức, chức năng, nhiệm vụ  của từng cơ  quan trong bộ máy nhà nước…),   chúng ta đã coi trọng bản chất của nhà nước. Đó là việc xác lập nguyên tắc pháp quyền XHCN, coi trọng tính pháp quyền trong   tổ  chức, hoạt động của bộ  máy nhà nước. Từ  nhận thức đúng đắn về  nguyên tắc này, chúng ta ngày càng ý thức được đây là   tinh hoa của khoa học tổ chức quyền lực nhà nước, quản lý xã hội của loài người và vận dụng sáng tạo, hài hòa với các nguyên   tắc cơ bản về tổ chức, hoạt động của Nhà nước XHCN.  Một số vấn đề  đặt ra hiện nay.  Bên cạnh những kết quả đã đạt được về  mặt lý luận, thực tiễn xây dựng nhà nước   pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong những năm đổi mới đã bộc lộ không ít những vấn đề cần phải giải quyết cả về   lý luận lẫn thực tiễn. Về phương diện lý luận, cần giải quyết một số vấn đề sau: Một là, cần xác định rõ những đặc trưng xã hội chủ nghĩa của nhà nước pháp quyền mà chúng ta đang xây dựng. Một số  ý kiến cho rằng, nếu chỉ dựa trên cơ  sở tính pháp chế và dân chủ  thì bất cứ  nhà nước pháp quyền nào cũng như  vậy. Còn nói   đến cơ sở kinh tế của nhà nước pháp quyền của chúng ta là ở tính định hướng xã hội chủ  nghĩa của nền kinh tế thị trường thì   vẫn chưa rõ và có phần khiên cưỡng, thiếu sức thuyết phục. Trong khi chính tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế  thị trường cũng chưa được được làm rõ về  mặt lý luận, thì có nên chăng lấy điều đó để  lý giải cho một vấn đề  chưa rõ khác?   Hơn nữa, khi nền kinh tế ­ tức cơ sở hạ tầng mới chỉ là định hướng xã hội chủ nghĩa, thì nhà nước ­ tức kiến trúc thượng tầng   có thể gọi là xã hội chủ nghĩa được không hay cũng chỉ mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa? Đó là vấn đề đặt ra cần được   lý giải một cách khoa học. Chính vì trong lịch sử chưa từng có một nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa đích thực, cho nên   trong lý luận về nhà nước pháp quyền vẫn còn một mảng trống mà chúng ta cần bổ sung và phát triển. Hai là, cần làm rõ cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập   pháp, hành pháp và tư  pháp. Cần làm sáng tỏ “tính độc lập tương đối” của mỗi quyền, sự  chế   ước lẫn nhau giữa các nhánh   quyền lực, bảo đảm quyền lực không bị  tha hóa và bị  lạm dụng. Vấn đề  đặt ra là làm thế  nào để  tránh chồng chéo cũng như  tránh lạm quyền trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Ba là, làm sáng tỏ  hơn nữa mối quan hệ  giữa Đảng và Nhà nước. Vấn đề  đặt ra là chỉ  ra được phạm vi tác động của  Đảng cầm quyền đối với các cơ quan quyền lực nhà nước, chỉ rõ sự tối cao của pháp luật, tránh sự can thiệp tùy tiện của Đảng   đối với hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, tránh sự bao biện, ôm đồm, không tôn trọng luật pháp. Bốn là, làm rõ cơ chế bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân, của Mặt trận, của các đoàn thể chính trị ­ xã hội   đối với hoạt động của Nhà nước. Sở dĩ vấn đề này được đặt ra là vì, mọi quyền hành chỉ thuộc về nhân dân khi có một cơ chế  thích hợp để nhân dân có thể  trực tiếp giám sát các hoạt động của Quốc hội và đại biểu Quốc hội, của hội đồng nhân dân và   đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, cũng như giám sát mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước. Phải   có cơ chế thích hợp để cử tri có thể bày tỏ sự tín nhiệm hay bất tín nhiệm của mình đối với các đại biểu mà mình bầu ra, tạo   điều kiện để các đại biểu gắn bó hơn với cử tri, đề cao ý thức trách nhiệm của người đại diện nhân dân. Năm là, đổi mới tư duy pháp lý trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta . Mặc dầu trong gần 30 năm  đổi mới toàn diện của đất nước, chúng ta đã có nhiều đổi mới trong lĩnh vực lập pháp, song hệ  thống luật pháp của chúng ta   cho đến nay vẫn tỏ ra chưa theo kịp thực tiễn và còn nhiều bất cập. Do vậy, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay,  yêu cầu đổi mới tư duy pháp lý lại được đặt ra một cách cấp thiết hơn, nhằm xây dựng hệ thống luật pháp của Việt Nam một   cách hoàn chỉnh và ổn định hơn, làm cơ sở cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  12. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. Đổi mới tư duy pháp lý cần hướng đến giải quyết những nhiệm vụ như xác định mô hình luật pháp của nước ta; nghiên   cứu, tổng kết kinh nghiệm trong và ngoài nước trong lĩnh vực xây dựng và thực thi các thể chế pháp lý, để tiếp thu có chọn lọc  các giá trị và kinh nghiệm trong lĩnh vực này; đổi mới công tác kế hoạch lập pháp; thay đổi quan niệm về quy mô các đạo luật,   nên tập trung xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô điều chỉnh hẹp. Một đạo luật với ít các điều khoản sẽ được nhanh  chóng xây dựng, đáp  ứng kịp thời các nhu cầu điều chỉnh pháp luật, dễ  dàng tương thích với các không gian pháp lý quốc tế.   Tính hữu ích của một đạo luật ít điều khoản không chỉ được thể hiện ở sự gọn nhẹ về nội dung, dễ xây dựng, mà còn thể hiện  ở việc dễ kiểm soát tính đồng bộ và thống nhất, dễ sửa đổi khi có nhu cầu và dễ áp dụng trên thực tế. Về phương diện thực tiễn, cần giải quyết một số vấn đề như: Đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa, nghĩa  là xây dựng và  phát triển kinh tế bền vững. Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc như xóa đói, giảm nghèo, xóa dần khoảng cách chênh lệch giàu nghèo  giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền ngược, vấn đề tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ  thất nghiệp, khám chữa bệnh cho người nghèo… Tăng cường kỷ cương phép nước, phải kiên quyết đấu tranh chống lại những hiện tượng vi phạm pháp luật mà nổi bật là   tham nhũng và buôn lậu, xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân; làm hàng giả, trốn, gian lận thuế… gây tổn thất lớn   cho Nhà nước và nhân dân. Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính, về cơ chế chính sách, về quản lý và sử  dụng đất đai, tài sản công, về công tác cán bộ,… Tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật. Bên cạnh việc xây dựng pháp luật, việc thực hiện pháp luật cũng có vai trò hết   sức quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền, hệ thống pháp luật có thể  rất đầy đủ, hoàn thiện nhưng việc thực hiện   không nghiêm thì cũng không thể nói đến sự hiện diện của nhà nước pháp quyền. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật . Thực tiễn cho thấy rằng,  một trong những nguyên nhân của việc thực hiện pháp luật chưa tốt là do kiến thức về  luật pháp chưa tốt, nhiều người dân  chưa am hiểu về luật pháp, chưa ý thức được sự cần thiết phải chấp hành luật, hoặc do không nắm được luật nên vi phạm mà   không biết. Chính vì vậy, để  tăng cường việc thực thi pháp luật, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ  biến pháp luật và  giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, chú trọng sự tham gia của các phương tiện thông tin đại chúng, của các đoàn thể chính trị ­  xã hội cũng như bộ máy chính quyền các cấp và cuối cùng là siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, để mệnh lệnh hành chính   luôn được chấp hành một cách nghiêm túc và thông suốt từ trung ương đến cơ sở. Tăng cường hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân các cấp, của các cơ  quan và từng đại biểu hội đồng nhân dân ,  nhằm kiểm tra, đánh giá việc chấp hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ  quan có thẩm   quyền cấp trên; kiểm tra, đánh giá và kết luận, xử lý đối với việc thực hiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân. Tăng cường đạo đức công vụ  của cán bộ, công chức. Đây là vấn đề  được đặt ra hết sức bức thiết nhằm ngăn chặn và  hạn chế những tiêu cực, tình trạng sách nhiễu, quan liêu, tham nhũng,… trong các cơ quan nhà nước. Thực tiễn cho thấy, dù hệ  thống văn bản quy phạm pháp luật có đạt đến độ hoàn hảo tuyệt đối, quy chế, quy tắc ứng xử của cơ quan quản lý nhà nước   có đạt đến độ hoàn mỹ thì cũng khó có thể đem lại hiệu quả như mong muốn nếu như trong quá trình thực thi công vụ, cán bộ,  công chức không thực hiện nghiêm pháp luật, chấp hành không đúng quy chế, quy tắc ứng xử đã được thể chế hóa. Đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Đây không phải là một vấn đề  mới vì nó được đặt ra một cách thường xuyên, liên tục, theo   yêu cầu của thực tiễn. Tuy nhiên, trước thực trạng yếu kém và bất cập của các tổ  chức Đảng, sự  thoái hóa, tụt hậu và biến  chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên như  hiện nay, thì vấn đề  đổi mới và chỉnh đốn Đảng lại được đặt ra một  cách bức thiết hơn bao giờ hết. Đổi mới và tự chỉnh đốn Đảng gồm nhiều nội dung như: Đổi mới công tác tư  tưởng, rèn luyện   phẩm chất, đạo đức cách mạng, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đổi mới công tác tổ  chức, bộ  máy của Đảng và của hệ  thống chính trị; công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát; công tác quần chúng,… Chỉ có tiến hành đồng bộ những nội dung   đó mới làm cho Đảng ngày càng vững mạnh hơn, đủ  năng lực lãnh đạo công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ   nghĩa. Như vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan đối với Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần  xác định rằng, đây là sự nghiệp dài lâu của toàn Đảng, toàn dân, bởi vì trong việc này còn ngổn ngang nhiều vấn đề mà chúng ta   cần phải giải quyết cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Những vấn đề  đó không phải dễ  gì một sớm một chiều mà giải  quyết được. Để đạt tới một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo đúng nghĩa của nó cần có sự nỗ lực rất lớn của Đảng   và Nhà nước, sự đầu tư về trí tuệ, sức người, sức của, của toàn xã hội./ Liên hệ:  
  13. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. Về phương diện thực tiễn. Hiện nay cẩn giải quyết một số vấn đề như:  ­ Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc  như xóa đói, giảm nghèo, xóa dần khoảng cách chênh lệch giàu nghèo   giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền ngược, vấn đề tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ  thất nghiệp, khám chữa bệnh cho người nghèo... ­ Tăng cường kỷ cương phép nước, phải kiên quyết đấu tranh chống lại những hiện tượng vi phạm pháp luật mà nổi bật  là tham nhũng và buôn lậu, xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân; làm hàng giả, trốn, gian lận thuế... gây tổn thất   lớn cho Nhà nước và nhân dân. Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính, về cơ  chế  chính sách, về quản lý   và sử dụng đất đai,tài sản công, về công tác cán bộ,...  ­ Tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật Bên cạch việc xây dựng pháp luật, việc thực hiện pháp luật cũng có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng nhà nước  pháp quyền, hệ thống pháp luật có thể   rất đầy đủ, hoàn thiện nhưng việc thực hiện không nghiêm thì cũng không thế nói đến   sự hiện diện của nhà nước pháp quyền. ­Đấy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật Thực tiễn cho thấy rằng, một trong những nguyên nhân của việc thực hiện pháp luật chưa tốt là do kiến thức về  luật   pháp chưa tốt, nhiều người dân chưa am hiểu về luật pháp, chưa ý thúc được sự cần thiết phải chấp hành luật hoặc do không   nắm được luật nên vi phạm mà không biết. Chính vì vậy, để  tăng cường việc thi pháp luật cần đẩy mạnh công tác tuyên  truyền, phổ  biến pháp luật và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, chú trọng sự  tham gia của các phương tiện thông tin đại   chúng, của đào thể  chính trị  xã hội cũng như  bộ  máy chính quyền các cấp và cuối cùng là siết chặt kỷ  luật, kỷ  cương hành   chính để mệnh lệnh hành chính luôn được chấp hành một cách nghiêm túc và thông suốt từ trung ương đến cơ sở. .. ­Tăng cường hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân các cấp, của các cơ quan và từng đại biểu hội đồng nhân dân, Nhằm kiếm tra, đánh giá việc chấp hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bàn quy phạm pháp luật của cơ  quan có  thẩm quyền cấp trên; kiểm tra, đánh giá và kết luận, xử lý đối với và thực hiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân. ­ Tăng cường đạo đức công vụ của cán bộ, công chức . Đây là vấn đề được đặt ra hết sức bức thiết nhằm ngăn chặn và hạn chế những tiêu cực, tình trạng sách nhiễu, quan liêu,   tham những,... trong các cơ quan Nhà nước. Thực tiễn cho thấy. dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có đạt đến độ  hoàn   hảo tuyệt đối, quy chế, quy tắc ứng xử của cơ quan quản lý nhà nước có đạt đốn độ hoàn mỹ thì cũng khó có thể đem lại hiệu   quả như mong muốn nếu như trong quá trinh thục thi công vụ, cán bộ, công chức không thực hiện nghiêm pháp luật, chấp hành  không đúng quy chế quy tắc ứng xử đã được thế chế hóa. ­ Đổi mớí và chỉnh đốn đảng. Trước thực trạng yếu kém và bất cập của các tổ  chức Đảng, sự  thoái hóa, tụt và biến chất của một số  bộ  phận không   nhỏ cán bộ, đảng viên như hiện nay thì vấn đề đổi mói và chỉnh đốn Đảng lại được đặt ra một cách bức thiết hơn bao giờ hết.   Đổi mới và tự chỉnh đốn gồm nhiều nội dung như: Đổi mói công tác tư tưởng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, phòng   chống tham nhũng, lãng phí; công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát,… Chỉ  có tiến hành đồng bộ  những nội dung đó mới  làm cho Đảng ngày càng vững mạnh hớn, đủ năng lực lãnh đạo công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Như vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là tất yếu khách quan đối với Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần xác định rằng,   đây là sự nghiệp lâu dài của toàn Đảng, toàn dân. Những vấn đề đó không phải dề gì một sớm một chiều mà giải quyết. Để đạt   tói một nhà nước pháp quyền XHCH theo đúng nghĩa của nó cần có sự nỗ lực rất lớn của Đảng và Nhà nước, sự đầu tư  về trí   tuệ, sức người, sức của, của toàn xã hội.
  14. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. Câu 3: Vị  trí, vai trò, chức năng của HĐND? Liên hệ. Vị  trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của   UBND. Liên hệ. Hiến pháp 2013 khẳng định địa vị pháp lý của chính quyền địa phương là thiết chế không thể thiếu trong tổ chức bộ máy  của Nhà nước, là nơi có tính chất quyết định đối với việc đưa chủ  trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà   nước vào cuộc sống. Là thiết chế  quan trọng  bảo đảm tất cả  quyền lực Nhà nước thuộc về  nhân dân đồng thời khẳng định   nguyên tắc tổ chức của chính quyền gồm UBND và HĐND:”chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của   nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND được tổ chức phù hợp với đặc   điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt do luật định” (Điều 111) Vị trí, vai trò, chức năng của HĐND: Vị trí, vai trò của HĐND  HP năm 1992 (sửa đổi bổ sung 2001) khẳng định “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại   diện cho ý chí , nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân   địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”.  Hiến pháp 2013 một lần nữa khẳng định:” HĐND là cơ  quan quyền lực nhà nước  ở  địa phương, đại diện cho ý chí,   nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và   cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của dịa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến   pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND ” (Điều 113) Như vậy dựa vào đó ta thấy rằng HĐND có 2 vị trí, vai trò cơ bản: ­ Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
  15. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. ­ Là cơ quan đại diện cho nhân dân địa phương. Về chức năng của HĐND HĐND thực hiện 2 chức năng cơ bản đó là chức năng quyết định và chức năng giám sát. ­ HĐND quyết định những chủ trương và biện pháp quan trọng để  phát huy tiềm năng của địa phương; xây dựng và phát   triển địa phương về kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vất chất tinh thần của nhân   dân địa phương làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước. Đây là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhất đối vơi đời   sống KT­XH ở địa phương. ­ Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ  ban nhân dân,  Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị  quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát   việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa   phương. Liên hệ: Liên hệ thức tiễn với HĐND xã, phường, thị trấn: Thực tế hiện nay HĐND xã, phường, thị trấn đôi khi chưa phát huy đầy đủ vị trí,vai trò của cơ  quan quyền lực nhà nước   ở địa phương: + Hoạt động của HĐND xã, phường, thị  trấn nhìn chung còn hạn chế, công tác tham gia xây dựng và tuyên truyền, phả  biện pháp luật, chủ  trương của Đảng Nhà nước, nghị  quyết của HĐND còn thiếu chủ  động, chất lượng các nghị  quyết của  HĐND chưa cao. + Việc xem xét, quyết đinh những vấn đề quan trọng, nhất là về kinh tế ­ xã hội, ngân sách nhà nước, xây dựng cơ bản có   lúc còn mang tính hình thức, nhiều kiến nghị thông qua hoạt động giám sát chưa được các cơ quan có trách nhiệm giải quyết kịp   thời; + Việc giám sát giải quyền khiêu nại, tố cáo của công dân, công tác hỏa giải ở cơ sở còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu,   nguyện vọng chính đáng của nhân dân; một số đại biểu HĐND chưa làm tròn trách nhiệm của người đại biểu dân cử... Nguyên nhân của những tồn tại,hạn chế: +Do một số cấp ủy thiếu quan tâm đến hoạt động HĐND, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động còn nhiều bất cập; +Thường trực HĐND xã, phường, thị trấn, nhất là Phó chủ  tịch HĐND hoạt động chuyên trách ở một số địa phương còn   hạn chế về trình độ và năng lực, lại thiếu ổn định. +Một số  ban, ngành, cán bộ, đảng viên,chưa nhận thức đầy đủ  về  vị  trí vai trò của HĐND, có biểu hiện xem nhẹ  hoạt   động của HĐND;  + một số cơ quan nhà nước ý thức chấp hành nghị quyết cúa HĐND chưa cao; một số đại biểu hạn chế về trình độ, năng   lực, thiếu tâm huyết với HĐND; điều kiện bảo đám cho các hoạt động của HĐND, đại biểu HĐND còn hạn chế. Giải pháp : + Thời gian tới cấp ủy ở cơ sở cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của HĐND, đổi mới   nội dung và phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng ở địa phương đối với hoạt động của HĐND, quan tâm công tác quy hoạch,   đào tạo, phân công cán bộ có tâm, có tầm làm công tác HĐND, để xây dựng HĐND thật sự là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa   phương.
  16. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. + Cần cải tiến và nâng cao chất lượng kỳ họp HĐND. Kỳ  họp là hình thức hoạt động chủ  yếu của cơ  quan dân cử, lả  hoạt động tập trưng cao từ tuệ của đại biểu HĐND. Tại kỳ  họp, HĐND sẽ  thảo luận và thông qua các quyết định quan trọng   thực hiện các chức năng thẩm quyền của HĐND. Kỳ họp HĐND xã, phường, thị trấn thực hiện công khai, dân chủ, diễn ra sôi  nổi, là diễn đàn của nhân dân trong cộng ứng khu dân cư, lả nơi từ hiện phương châm dân biết. dân bàn. dân làm. dân kiểm trả ,   để  thu hút sự  quan tâm theo dõi của cử  tri đối với hoạt động của HĐND, công khai những vấn đề  mà HĐND bàn và ra quyết  định. Do vậy, tổ  chức kỳ họp phải có sự  chuẩn bị  chu đáo, cung cấp đầy đủ  và kịp thời các báo cáo. Tờ  trình cho đại biểu   nghiên cứu, dành thời gian thỏa đáng cho đại biểu thảo luận và chất vấn  + Thực hiện từ chức năng giám sát của HĐND xã, thị trấn. Giám sát là một trong các chức năng cơ bản của HĐND, có vai   trò quan trọng trong việc chấp hách pháp luật và nghị quyết của HĐND trên các inh vực kinh tế ­ xã hội, quốc phòng, an luận ở   địa phương + Đối mới và nâng cao chất lượng tiếp xúc củ  tri, tiếp dân của đại biểu HĐND sẽ  tác động trực tiếp đến hiệu quả  hệ  động của HĐND. Thông qua tiếp xúc cử  tri, tiếp dân, người đại biểu sẽ  thực hiện tốt hơn quyền giám sát của mình. nhất là  giám sát việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và công tác hòa giải ở cơ sở. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND: Vị trí, vai trò, chức năng của UBND: ­ Ủy ban nhân dân do HĐND bầu ra, là cơ  quan chấp hành của HĐND, cơ  quan hành chính nhà nước ở  địa phương, chịu   trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên. ­ Chịu trách nhiệm chấp hành HP, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và NQ của HĐND cùng cấp. ­ Thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương. Nhiệm vụ và quyền hạn của UBND thể hiện ở các lĩnh vực cụ thể sau đây:  Với vai trò là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của minh trong những lĩnh vực có ý  nghĩa quyết định đến đời sống của nhân dân địa phương bao gồm các lĩnh vực cụ thể sau đây: 1.Về kinh tế: Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, kế hoạch đầu tư, kế hoạch ngân sách... 2.Về nông, lâm, ngư: Thực hiện quy hoạch phát triển nông, lâm, ngư... 3.Công nghiệp, tiểu thủ  công nghiệp: Thực hiện các dự  án phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế. Xây dựng các làng   nghề TTCN. 4.Giao thông vận tải: Xây dựng hệ thống giao thông theo quy hoạch, quản lý khai thác các công trình giao thông và kết cấu   hạ tầng. 5.Thương mại, dịch vụ, du lịch : Quy hoạch phát triển thương mại, du lịch; quản lý thị trường; kiểm tra việc thi hành các   quy định về thương mại, dịch vu, du lịch. 6.Giáo dục đào tạo: xây dựng chương trình phát triển giáo dục, quản lý thi cử, quản lý và kiểm tra tiêu chuẩn giáo viên,  bằng cấp... 7.Văn hóa, thể dục, thể thao, y tế... : Quản ly nhà nước về văn hóa, thông tin, báo chí, thể dục, thể thao, phát thanh, truyền  hình; quản lý các hoạt động y tế... 8. Về  khoa học, công nghệ, tài nguyên môi trường: khuyến khích nghiên cứu khoa học,  ứng dụng khoa học công nghệ;   kiểm tra, bảo vệ tài nguyên, môi trường. 9.Về  an ninh, quốc phòng: Đảm bảo an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; Xây dựng lực lượng dân quân, tự  vệ; thực  hiện nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội... 10 Về chính sách tôn giáo, dân tộc: Đảm bảo thực hiện chính sách dân tộc, không kỳ thị chia rẽ dân tộc. Đảm bảo quyền   tự do tín ngưỡng của công dân.
  17. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. 11.Về thi hành pháp luật: Kiểm tra việc thi hành pháp luật, các biện pháp bảo vệ tài sản của nhà nước, tính mạng tài sản của   nhân dân. Thực hiện thanh tra tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo, quản lý hộ tịch, hộ khẩu. 12.Về xây dựng chính quyền: Tổ chức tốt các cuộc bầu cử; tổ chức bộ máy theo quy định của nhà nước; xây dựng đề án   thành lập, chia tách các cơ quan và đơn vị hành chính theo quy định của pháp luật. Trong điều kiện hiện nay, nhiều địa phương đang trong quá trình đô thị hóa, và mỗi địa phương lại có những đặc điểm,  tính chất riêng thì ngoài những nhiệm vụ và quyền hạn chung UBND ở một số nơi cũng có những nhiệm vụ và quyền hạn riêng   biệt cụ thể. Ngoài ra UBND ở từng cấp hành chính khác nhau sẽ có những nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau. Vấn đề này được quy   định rất cụ thể trong Luật Tổ chức HĐND và UBND 2003. Như vậy UBND sẽ tiến hành quản lý tất cả các lĩnh vực ở địa phương , trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn do pháp   luật quy định thì UBND ra quyết định chỉ thị và tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thi hành các văn bản pháp luật, nghị quyết của   HĐND cùng cấp và cấp trên.UBND phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và UBND cấp trên trực   tiếp.  Liên hệ UBND cấp xã Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là đơn vi hành chính cơ sở, là cấp gần dân nhất và nơi diễn ra mọi hoạt động  kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của các tầng lớp nhân dân. Thời gian qua Bộ máy chính quyền cấp xã đã tăng cường quản lý, điều hành theo pháp luật, góp phần quan trọng thúc đẩy   phát triển kinh tế ­ xã hội, bảo đảm an ninh ­ quốc phòng. Trình độ, kiến thức và năng là công tác của cán bộ cơ  sở từng bước   được nâng cao Những hạn chế + Một số nơi chưa xây đựng và thực hiện quy chế làm việc, trách nhiệm người đứng đầu các cấp nhiều nơi chưa có quy  định dẫn tới tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong giải quyết công việc... + Quản lý, điều hành của UBND cấp xã một số nơi hiệu quả  thấp, nhất là việc thực hiện các chương trình, dự  án phát   triển kinh tế ­ xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng và cải cách thù tục hành chính. Tình trạng vi phạm Luật Đất đai xảy ra ở nhiều   tìm nhưng chậm được giải quyết dứt điểm. Công tác quản lý xây dựng, quản lý đô thị ở các phường còn nhiều tiêu cực; + Việc phòng, chống các vi phạm, tệ nạn và hành vi vi phạm pháp luật chưa hiệu quả, vấn đề  tà đạo, tôn giáo trái phép   còn xảy ra ở một số nơi những cấp ủy, chinh quyền, mặt trận và các đoàn thế ở cơ sở chưa kịp thời nắm bắt thông tin. Một bộ  phận cán bộ, công chức cơ sở quan liêu, tham nhũng cửa quyền, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. + Chính sách, chế  độ đối với cán bộ cơ  sở còn bất cập, chưa động viên, khuyên khích được cán bộ  có năng lực về  công  tác  ở  cơ  sở. Đội ngũ cán bộ, công chức ở  xã, phường, thị  trấn quá đông số  cán bộ  được hưởng lương, phụ  cấp, trợ  cấp, bồi  dưỡng... Số lượng cán bộ hoạt động không chuyên trách tăng nhanh đang lả gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Số lượng, chức   danh và mức phụ cấp hoặc sinh hoạt phí đối với cán bộ không chuyện trách (ở  xã và thôn) do HĐND các tỉnh, thành phố quyết  định có sự chênh lệch quá lớn trong đội ngũ cán bộ cơ sở giữa các địa phương. + Trình độ, kiến thức, năng lực cán bộ cấp xã nhiều mặt còn hạn chế: tỷ lệ cán bộ  chưa đạt chuẩn về  chuyên  môn còn  cao, Công tác đào tạo cán bộ còn chạy theo bằng cấp, Đội ngũ cán bộ, công chức cơ  sở chưa được đào tạo cơ  bản, chủ yếu là   học tại chức, thậm chí một số chưa được đào tạo về  chuyên môn, nghiệp vụ. Một số  cán bộ  chủ  chốt ở  xã, phường, thị  trấn   tuổi cao, năng lực hạn chế nhưng chưa đủ điều kiện về tuổi và năm công tác để nghỉ chế độ nên không bố trí được cán bộ trẻ,  có năng lực thay thế. + Sự  chỉ  đạo của các cấp, các ngảnh đối với cơ  sở  thiếu thống nhất; việc ban hành văn bản các cơ  quan cấp trên còn   nhiều chồng chéo.
  18. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. + Cơ sở hạ tầng và điều kiện, giao thông liên lạc, phương tiện làm việc của nhiều xã còn khó khăn. Nhất là các xã miền núi,   vùng sâu, vùng xa, nhiều thôn, tổ dân phố chưa có nhà văn hóa, không có nơi.để sinh hoạt chi bộ, họp dân hoặc tổ chức các buổi   sinh hoạt văn hóa cộng đồng...
  19. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. Câu 4: Nguồn gốc và bản chất của Pháp luật. Bản chất của pháp luật XHCN? Hệ thống pháp luật XHCN?
  20. Đề cương ôn tập Môn: Những vấn đề cơ bản về hê thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN – Đinh  Huy. Pháp luật là hệ  thống các quy tắc xử  sự  chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể  hiện ý chí của giai cấp   thống trị và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, là yếu tố đảm bảo sự ổn định và trật tự của xã   hội. Nguồn gốc của Pháp luật Theo quan điểm của chủ  nghĩa Mác­Lênin, lịch sử  phát triển loài người đã có thời kỳ  không có pháp luật. Đó là thời kỳ  Công xã nguyên thủy. Trong thời kỳ này các bộ lạc, thị tộc đã dùng những quy tắc chung để điều chỉnh hành vi của con người.   những quy tắc xã hội chung đó có những đặc điểm chung sau: ­ Thể hiện ý chí, phù hợp với lợi ích của toàn thị tộc, bộ lạc và không thành văn; ­ Điều chỉnh cách xử sự của những thành viên trong thị tộc, bộ lạc theo tinh thần hợp tác công đồng; ­ Được thực hiện một cách tự nguyện và theo thói quen của mỗi thành viên. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định, cùng với sự phân công lao động phát triển, chế độ tư hữu xuất hiện  và xã hội phân chia thành giai cấp thì các tập quán thể hiện ý chí chung không còn phù hợp nữa. Trong điều kiện đó tầng lớp có tài sản đã   lợi dụng địa vị xã hội của mình, đã tìm cách giữ lại những tập quán có lợi và vận dụng biến đổi phù hợp với ý chí nguyện vọng của họ   nhằm mục đích củng cố và bảo vệ trật tự mà giai cấp thống trị xã hội mong muốn. Các tập quán đó đã trở thành quy phạm pháp luật với   sự thừa nhận của nhà nước. mặc khác cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của sự phân công lao động và người lao động ngày  càng tăng, vì vậy trong xã hội xuất hiện nhiều quan hệ mới, đòi hỏi nhà nước phải có những quy phạm pháp luật mới để điều chỉnh. Vì   vậy hoạt động xây dựng pháp luật của nhà nước sớm được tiến hành. Như vậy Pháp luật ra đời cùng với nhà nước, là công cụ sắc biến để thực hiện quyền lực nhà nước, duy trì bảo vệ lợi ích   của giai cấp thống trị; nhà nước ban hành ra pháp luật và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện. Bản chất của pháp luật: Khi nói đến pháp luật dù thuộc kiểu pháp luật nào cũng thể hiện tính giai cấp và tính xã hội. + Tính giai cấp trong pháp luật Mác và Ăng ghen đã kết luận trong Tuyên ngôn Đảng  Cộng sản: “ Pháp luật của các ông là ý chí của các ông được đề   lên thành luật pháp, cái ý chí mà nội dung là do những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định”.  Giai cấp thống trị, thông qua nhà nước biến ý chí của mình thành ý chí của nhà nước được cụ  thể hoá dưới dạng văn  bản pháp luật. Pháp luật là công cụ chủ yếu để nhà nước quản lý xã hội, công cụ  đó phải phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp   thống trị. Như  vậy, bản chất giai cấp là thuộc tính chung của các kiểu pháp luật, nhưng mỗi kiểu pháp luật có cách thể  hiện   riêng. Pháp luật Chiếm hữu nô lệ phủ nhận hoàn toàn quyền con người đối với Nô lệ. Pháp luật Phong kiến hạn chế đến mức tối đa quyền lợi của người Nông dân. Pháp luật Tư sản bảo vệ quyền chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và quyền tự do bán sức lao động. Pháp luật XHCN bảo vệ lợi ích cho người lao động, cho số đông trong xã hội. + Tính xã hội trong pháp luật Bên cạnh tính giai cấp, pháp luật còn mang tính xã hội. Khi thiết lập các quy phạm pháp luật, con người đã loại bỏ dần tính tự phát trong quan hệ xã hội. Pháp luật là do nhà nước đại diện chính thức cho toàn xã hội ban hành. Vì vậy, pháp luật ngoài tính giai cấp của giai   cấp cầm quyền, còn thể hiện ý chí của các giai cấp và tầng lớp khác nhau trong xã hội. Tóm lại: Không có kiểu pháp luật chỉ thể hiện duy nhất tính giai cấp và ngược lại, cũng không có kiểu pháp luật chỉ thể   hiện tính xã hội.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản