intTypePromotion=3

Đề cương vi sinh học đai cương dành cho sư phạm sinh

Chia sẻ: Luu Thi Thanh Thu Thu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:52

0
222
lượt xem
96
download

Đề cương vi sinh học đai cương dành cho sư phạm sinh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Câu 1:sơ lược lịch sử phát triển của vi sinh vật học, tại sao nói lui Paxto là người đặt nền móng cho các ngành vsh thực nghiệm Xét qua lịch sử phát triển, ngành vi sinh học trải qua các giai đoạn chính: Giai đoạn sơ khai:giai đoạn trước thế kỉ 18, thời kì chưa có kính hiển vi, con người đã mơ hồ biết đến một loại sinh vật nào đó, họ đã nhân ra được vai trò của nó nhưng chưa nhìn thấy. Vd:tài liệu TQ cách đây 4000 năm đã đề cập đến việc nấu rượu, trong quá trình...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề cương vi sinh học đai cương dành cho sư phạm sinh

  1. 1 Câu 1:sơ lược lịch sử phát triển của vi sinh vật học, tại sao nói lui Paxto là ng ười đ ặt nền móng cho các ngành vsh thực nghiệm Xét qua lịch sử phát triển, ngành vi sinh học trải qua các giai đoạn chính: Giai đoạn sơ khai:giai đoạn trước thế kỉ 18, thời kì chưa có kính hiển vi, con người đã m ơ h ồ biết đến một loại sinh vật nào đó, họ đã nhân ra được vai trò c ủa nó nh ưng ch ưa nhìn th ấy. Vd:tài liệu TQ cách đây 4000 năm đã đề cập đến vi ệc n ấu r ượu, trong quá trình n ấu có s ử tham gia của mốc vàng……vD2: sự xen canh cây trồng với cây họ đậu… Giai đoạn phát hiện ra vi sinh vật Đây là buổi ban đầu của ngành vi sinh học. Người đầu tiên nhìn th ấy và mô t ả vi sinh v ật là Antonie van Leeuwenhoek (1632-1723) người Hà Lan. Antonie van Leeuwenhoek là ng ười đ ầu tiên chế tạo ra những chiếc kính hiển vi thô sơ với đ ộ phóng đ ại t ừ 270-300 l ần và quan sát th ế giới vi sinh vật quanh ông như nước sông hồ, nước ao tù, n ước c ống và ngay c ả trong b ựa răng của ông. Ông xuất bản quyển "Phát hiện của Leeuwenhoek v ề nh ững bí m ật c ủa gi ới t ự nhiên" và năm 1695, mô tả toàn bộ các quan sát của ông về vi sinh vật. Tiếp theo sau Leeuwenhoek có nhiều người đã mô t ả được r ất nhi ều loài vi sinh v ật, song các nghiên cứu thời bấy giờ chỉ chứng minh có sự hiện diện của thế gi ới vi sinh v ật, mô t ả và phân loại chúng một cách rất thô sơ. Trong quyển "Hệ thống tự nhiên", Carl Linnaeus (1707-1778), nhà phân loại thực vật nổi tiếng trên thế giới, đã xếp vi sinh vật vào m ột chi (genus) g ọi là "Chaos", có nghĩa là hỗn loạn. Mãi đến cuối thế kỷ 18, những hiểu biết về vi sinh vật mới dần d ần phong phú h ơn và lôi cu ốn nhiều nhà bác học lao vào nghiên cứu thế giới nh ỏ bé này và đưa d ần chúng ra ánh sáng, cho thấy chúng với đời sống con người gắn bó với nhau rất chặt ch ẽ. Giai đoạn vi sinh học thực nghiệm với Pasteur Louis Pasteur (1822-1895), người Pháp, là ng ười đã khai sinh ra ngành vi sinh h ọc th ực nghi ệm. Qua quá trình nghiên cứu và thực nghiệm, Pasteur đã ch ứng minh vi sinh v ật không th ể "t ự sinh" hay "ngẫu sinh" như nhiều nhà bác học cùng thời chủ trương. Ông làm thí nghi ệm v ới bình c ổ cong có uốn khúc hình chữ U, trong chứa nước canh thịt đã đun sôi. Bình này đ ể yên lâu ngày vẫn không hư thối, nhưng nếu đập vỡ cổ bình thì ít lâu sau nước canh th ịt s ẽ h ư th ối vì nhi ễm vi khuẩn có sẵn trong không khí. Pasteur có công rất lớn với phân loại vì đã giải quy ết đ ược ph ương pháp t ẩy đ ộc r ượu vang (đun đến 60oC và giữ trong chai đậy kín), đưa đến phương pháp tẩy đ ộc sữa, th ực phẩm vẫn còn áp dụng đến nay. Ngoài ra ông giải quyết đ ược b ệnh t ằm gai (b ệnh Pébrine), m ột lo ại b ệnh làm ngành nuôi tằm của Pháp bị suy sụp, bằng cách ch ứng minh b ệnh này do vi sinh v ật gây ra và truyền từ tằm bệnh sang tằm mạnh. Ông còn chứng minh dịch bệnh than ở cừu là do vi khuẩn gây ra và lan truy ền t ừ con b ệnh sang con mạnh. Ông tìm ra được vaccine ngừa bệnh cho cừu để ch ống lại bệnh than này. Ngoài ra, ông còn chế được các loại vaccine tụ huyết trùng gà, b ệnh heo b ị đóng d ấu... Công lao lớn nhất của Pasteur đối với nhân loại là vi ệc ch ế ra vaccine ng ừa và tr ị b ệnh chó d ại là bệnh nan y lúc bấy giờ. Năm 1885, lần đầu tiên Pasteur đã dùng vaccine tr ị cho m ột em bé chín tuổi bị chó dại cắn, thoát khỏi bệnh. Ngày nay khắp thê gi ới đ ều có các Vi ện Pasteur đ ể chế vaccine ngừa bệnh chó dại và chích cho mọi người bị chó cắn ph ải. Giai đoạn sau Pasteur và vi sinh học hiện đại Tiếp theo sau Pasteur, Robert Koch (1843-1910) là ng ười có công l ớn trong vi ệc phát tri ển các phương pháp nghiên cứu vi sinh vật. Ông đề ra ph ương pháp ch ứng minh m ột vi sinh v ật là nguyên nhân gây ra bệnh truyền nhiễm mà ngày nay m ọi nhà nghiên c ứu b ệnh h ọc đ ều ph ải theo và gọi là qui tắc Koch (Koch's postulates).
  2. 2 Kế đó, học trò của Kock là Julius Richard Petri (1852-1921) ch ế ra các d ụng c ụ đ ể nghiên c ứu vi sinh vật mà đến nay còn dùng tên của ông để đặt tên cho d ụng c ụ ấy: đĩa Petri. Ông cũng nêu ra các biện pháp nhuộm nàu vi sinh vật. Ngày 24/03/1882, Koch công b ố công trình khám phá ra vi trùng bệnh lao và gọi nó là Mycobacterium tuberculosis, nguyên nhân gây bệnh lao là một bệnh nan y của thời đó. Khám phá này mở đường cho vi ệc ch ữa tr ị b ệnh này ngày nay. Sergei Winogradsky (1856-1953, người Nga) và Martinus Beijerinck (1851-1931, ng ười Hà Lan) là những nhà vi sinh học có công lớn trong vi ệc phát triển ngành vi sinh h ọc đ ất. Dmitry Ivanovsky (1892) và Beijerrinck (1896) là những người phát hiện ra virus đ ầu tiên trên th ế giới khi chứng minh vi sinh vật nhỏ hơn vi khuẩn, qua được l ọc b ằng s ứ x ốp, là nguyên nhân gây bệnh khảm cây thuốc lá. Ngày nay vi sinh học đã phát triển rất sâu với hàng trăm nhà bác h ọc có tên tu ổi và hàng ch ục ngàn người tham gia nghiên cứu. Các nghiên cứu đã đi sâu vào b ản ch ất c ủa s ự s ống ở m ức phân tử và dưới phân tử, đi sâu vào kỹ thuật cấy mô và tháo lắp gene ở vi sinh v ật và ứng d ụng kỹ thuật tháo lắp này để chữa bệnh cho người, gia súc, cây tr ồng và đang đi sâu vào đ ể gi ải quyết dần bệnh ung thư ở loài người. Nói Lui Pasteur là người đặt nền móng cho ngành vi sinh học thực nghi ệm vì - Thứ nhất, ông đấu tranh đòi thay đổi thực hành trong bệnh vi ện đ ể gi ảm thi ểu lây lan b ệnh do vi khuẩn. - Thứ hai, ông phát hiện ra rằng có thể dùng dạng vi khu ẩn đã làm y ếu đ ể ch ủng ng ừa ch ống lại dạng vi khuẩn độc. - Thứ ba, Pasteur thấy rằng bệnh dại lây nhiễm nhờ một tác nhân rất nh ỏ không nhìn th ấy d ưới kính hiển vi, nhờ đó mở ra thế giới các virus. Kết quả là ông đã tri ển khai đ ược k ỹ thu ật tiêm vaccin cho chó chống bệnh dại và điều trị người bị chó dại cắn. - Và thứ tư, Pasteur đã phát triển phương pháp "tiệt trùng ki ểu Pasteur", m ột quy trình dùng s ức nóng để tiêu diệt vi khuẩn có hại trong các loại thực phẩm d ễ thiu th ối mà không làm h ỏng th ực phẩm. Nghiên cứu sự lên men và sự tự sinh Pasteur nghiên cứu xem tại sao rượu lại bị nhiễm nh ững chất ngoài ý mu ốn trong quá trình lên men. Ông đã chứng minh được rằng mỗi giai đoạn của quá trình lên men đ ều liên quan v ới s ự tồn tại của một loại vi sinh vật đặc thù hay con men - một sinh v ật mà ng ười ta có th ể nghiên cứu bằng cách nuôi cấy trong một môi trường vô trùng thích h ợp. Nh ận đ ịnh sáng su ốt này là c ơ sở của ngành vi sinh. Pasteur đã giáng một đòn quyết định vào thuyết t ự sinh, h ọc thuy ết đã t ừng t ồn t ại trong 20 th ế kỷ cho rằng cuộc sống có thể tự này sinh từ những chất liệu h ữu cơ. Ông cũng phát tri ển lý thuyết mầm bệnh. Cùng thời gian này, ông khám phá ra s ự t ồn t ại c ủa s ự s ống trong đi ều ki ện không có oxy: "Lên men là hậu quả của sự sống không có không khí". Khám phá v ề s ự s ống yếm khí đã mở ra con đường nghiên cứu những mầm bệnh gây nhi ễm trùng huy ết và b ệnh ho ại thư, cùng với nhiều bệnh nhiễm trùng khác. Nhờ Pasteur, người ta có thể phát minh ra nh ững k ỹ thuật tiêu diệt vi khuẩn và kiểm soát ô nhiễm. Kỹ thuật "tiệt trùng kiểu Pasteur" Ông đã chứng minh rằng bệnh của rượu là do vi sinh vật gây ra, nh ững vi sinh v ật này có th ể b ị tiêu diệt bằng cách đun nóng rượu đến nhiệt độ 55oC trong vài phút. áp d ụng cho bia và s ữa, cách xử lý này, được đặt tên là "tiệt trùng kiểu Pasteur" đã nhanh chóng thông d ụng trên kh ắp thế giới. Nghiên cứu bệnh nhiễm trùng ở người và động vật Nǎm 1865, Pasteur bắt đầu nghiên cứu những bệnh của tằm đang làm l ụn b ại ngành t ằm t ơ ở Pháp. Ông đã tìm ra tác nhân gây bệnh và cách lan truy ền nh ững tác nhân này - theo qui lu ật lây và di truyền - và cách ngǎn ngừa bệnh. Bổ sung thêm nghiên c ứu v ề s ự lên men, gi ờ đây ông có thể khẳng định mỗi bệnh là do một vi khuẩn đặc trưng gây ra và nh ững vi khu ẩn này là những yếu tố ngoại lai. Với hiểu biết này, Pasteur có thể đ ặt ra nh ững qui t ắc c ơ b ản c ủa ti ệt trùng. Ngǎn ngừa được lây nhiễm, phương pháp tiệt trùng của ông đã cách m ạng hóa ngành ngoại khoa và sản khoa. Từ nǎm 1877-1887, Pasteur vận dụng cơ sở vi sinh học vào cuộc chiến ch ống các b ệnh nhi ễm
  3. 3 trùng. Ông tiếp tục tìm ra ba vi khuẩn gây b ệnh cho ng ười: t ụ cầu, liên c ầu và ph ế c ầu. Điều trị và phòng ngừa bệnh dại Louis Pasteur đã tìm ra phương pháp làm yếu các vi sinh vật đ ộc là c ơ s ở cho ch ủng ng ừa. Ông đã phát triển các vaccin chống bệnh tả ở gà, bệnh than và bệnh l ợn đóng d ấu. Sau khi n ắm vững phương pháp chủng ngừa, ông đã áp dụng khái ni ệm này vào b ệnh d ại. Câu 2: các nhóm đối tượng chủ yếu của vsvh. Sự thống nhất và sai khác giữa 2 siêu giới procaryota và eucaryota Các nhóm đối tượng chủ yếu của vi sinh vật, sự thống nhất và khác biệt giữa procaryota và eucaryota • Các nhóm đối tượng chủ yếu của vi sinh vật gồm: - Vi rút học ( Virology ) - Vi khuẩn học ( Bateriology ) - Nấm học ( Mycology ) - Tảo học ( Algology) - Động vật nguyên sinh học ( protozoology) • Sự thống nhất và sai biệt: - Sự thống nhất: + Cấu tạo tế bào đều gồm 3 phần: màng, tế bào chất, nhân hoặc chất nhân. + Vật chất di truyền đều chứa AND, chức năng của AND ở nhân sơ và nhân chuẩn là như nhau. Quá trình sao chép AND là cơ sở cho di truyền từ tế bào này sang tế bào khác. - Sự khác biệt: Procaryota Eucaryota Gồm: vi khuẩn, vi khuẩn nam Gồm: nấm, tảo, thực vật động vật Kích thức từ 1-10 micromet Kích thức từ 10 – 100 micromet Mức độ tổ chức cơ thể thường là đơn Mức độ tổ chức cơ thể là đơn bào, đa bào, tập bào đoàn Nhân không có màng bao bọc Nhân có màng bao bọc, cách biệt với tế bào chất. Có lỗ nhân. Có 2 dạng vật chất di truyền là AND, Vật chất di truyền dạng AND ARN Chỉ có 1 nhiễm sắc thể dạng vòng, đơn, Có nhiều hơn 1 nhiễm sắc thể, dạng thẳng, kép, không có protein histon có protein histon. Vật chất di truyền chỉ nằm trong nhân Vật chất di truyền nằm trong nhân, ti thể, lục lạp (cơ thể quang hợp) Phiên mã và dịch mã diễn ra đồng thời ở Phiên mã tổng hợp ARN ở nhân, dịch mã tổng hợp tế bào chất protein ở tế bào chất. Cấu trúc nội bào đơn giản, chưa có các Cấu trúc nội bào phức tạp. Tế bào chất chứa các bào quan phức tạp,chuyên hóa cáo như mạng lưới bào quan chuyên hóa. nội sinh chất, ti thể, lạp thể, thể golgi, riboxom. Riboxom nhỏ (70s) Riboxom lớn ( 80s) Quang hợp diễn ra ở thể mang màu( đối Quang hợp diễn ra ở lục lạp. với những cơ thể quang hợp) Hô hấp diễn ra ở màng chất nguyên sinh Hô hấp diễn ra ở màng trong của ti thể
  4. 4 Thành tế bào cấu tạo bởi peptidoglycan Thành cấu tạo bởi polysaccharid Vận đông tế bào: tiên mao được tạo Tiên mao và tiêm mao cấu tạo từ tubulin thành từ các hạt flagellin phân bào bằng cách nhân đôi Phân bào phức tạp với bộ máy phân bào gồm nguyên phân và giảm phân. Câu 15:các phản ứng bảo vệ của tế bào khi bị virut xâm nhập, interferon.sự khác biệt giữa interferon và kháng thế. Khi virut xâm nhập vào tế bào, sẽ làm tế bào nhiễm virut lân cận không có khả năng tiếp nhận lần nhiễm tiếp theo của các loại virut đó hoặc các loại virus khác. Sự xâm nhiễm của một loại virut vào tế bào trước đó ngăn cản sự nhân lên của virut xâm nhiêm vào tế bào tiếp theo đó. Hiện tượng này là hiện tượng cảm nhi ễm. Do: virut thứ nhất có thể làm hỏng tế bào vật chủ, hoặc làm hỏng các con đường chuyển hóa của nó, làm cho nó không bị bội nhiễm bởi một loại virut khác nữa. điều này sảy ra với các virut mà giữa chúng có sự giống hay khác tính kháng nguyên. Virut thứ nhất có thể kích thích việc sản xuất ra một thứ ức chế gọi là cảm nhiễm tố-interferon, chất này ngăn cản việc sau chép của virut thứ 2. Nếu 2 virut cùng loài cản nhau gọi là hiện tượng cản nhiễm đồng loại, nếu 2 virut khác loại cản nhau gọi là hiện tượng cản nhiễm dị loại, nếu virut trong quá trình nhân lên đã ngăn cản lại các con cháu của chính nó xâm nhiễm vào cac tế bào khác gọi là hiện tượng cảm nhiễm.
  5. 5 Đặc điểm tác dụng của Interferon Sự khác biệt giữa Interferon và kháng thể Câu 4: cấu tạo tế bào vi khuẩn, màng nhày, thành tế bào, màng nguyên sinh ch ất, ch ất nhân, plasmid.
  6. 6 *Màng nhày: một số loài vi khuẩn có lớp màng nhày nằm ở bên ngoài thành. Màng nhày g ồm lớp vỏ và lớp nhày nhớp. + lớp vỏ nhày ( capsule): có cấu tạo chặt chẽ, kết dính chặt. + lớp nhày nhớp(layer…) không có cấu tạo chặt chẽ nhưng có tính k ết dính. Bản chất của lớp vỏ nhày là polysaccharide tạo tính kết dính  màng sinh học (biofilm) Chức năng của màng nhày: + bảo vệ vi khuẩn tránh bị thực bào. + bảo vệ vi khuẩn trong điệu kiện khô hạn, giúp chống lại hi ện t ượng mất n ước. + Cung cấp dinh dưỡng cho vi khuẩn khi thiếu thức ăn. + Là nơi tích lũy một số sản phẩm trao đổi ( xantan, dextran…) + Giúp vi khuẩn bám vào giá thể( Trường hợp của vi khu ẩn gây bệnh sâu răng) *Thành tế bào: Thành phần câu tạo nội thành là peptidoglycan (còn g ọi là mạng l ưới murein, mucopeptit…) Peptidoglycan gồm 2 chất N-axetylmuzamic (M), và N-axetylglucozamin (G) -Phân tử M còn liên kết với một chuỗi tetrapeptit (g ồm 4 axit amin) -Các phân tử G, M liên kết với nhau tao chuỗi dọc dị phân t ử GM-GM ( chu ỗi glycan). -Các phân tử M trên 2 chuỗi dọc liên kết với nhau bằng liên k ết peptip gi ữa các axit amin t ạo thành cầu nối giữa các chuỗi dọc GM-GM hình thành mạng lưới murenin rắn ch ắc. -Căn cứ vào cấu trúc thành chia vi khuẩn làm 2 loại Gram + và Gram – Vi khuẩn Gram+: + Lớp peptidoglycan dày 20-80nm. + Gồm có acid teicoid(liên kết với lớp peptidoglycan) và acid lipoteichoid (liên k ết v ới màng t ế bào chất). Chức năng: duy trì kích đại thành tế bào trong quá trình phân bào. Đi ều hòa v ận chuy ển các cation, polisaccharid đóng vai trò kháng nguy ển kích thích các ph ản ứng mi ễn d ịch đ ặc hi ệu. vi khuẩn Gram -: +Có lớp peptidoglycan mỏng và có thêm một lớp màng ngoài. L ớp màng ngoài gi ống v ới ch ức năng màng tế bào chất, gồm 2 lớp. lớp màng ngoài cùng gồm lipopolysaccharide và lipoprotein. Có th ể có ch ức năng nh ư th ụ th ể, ngăn cản các phản ứng miễn dịch(thực bào, kháng sinh). Hình thành nội độc tố (lipit A). Chứa protein porin ở ngoài cùng tạo kênh ra vào màng tế bào của các phân t ử. Lớp trong gồm photpholipit và lipoprotein. -Một số vi khuẩn thành tế bào không có cấu trúc điển hình và có loài vi khu ẩn không có thành t ế bào(micoplasma). *Màng tế bào chất:-Dày 50-100A0. -Gồm: photpholipip, protein, gluxit(glicolipit, glycoprotein) ­Màng sinh chất hay Màng tế  bào chất (Cytoplasmic membrane, CM)  ở  vi khuẩn cũng tương tự   như   ở  các sinh vật khác. Chúng cấu tạo bởi 2 lớp phospholipid (PL), chiếm 30­40% khối lượng  của màng, và các protein (nằm trong, ngoài hay xen giữa màng), chiếm 60­70% khối lượng của   màng.  Đầu phosphat của PL tích  điện, phân cực,  ưa nước ;  đuôi hydrocarbon không tích  điện,   không phân cực, kỵ nước. CM có các chức năng chủ yếu sau đây: Khống chế sự qua lại của các chất dinh dưỡng, các sản  phẩm trao đổi chất Duy trì áp suất thẩm thấu bình thường trong tế bào. Là nơi sinh tổng hợp các thành phần của  thành tế  bào và  các polyme của bao nhày (capsule).Là  nơi tiến hành quá  trình phosphoryl oxy  hoá và quá trình phosphoryl quang hợp (ở vi khuẩn quang tự dưỡng) Là nơi tổng hợp nhiều enzym, các protein của chuỗi hô hấp. Cung cấp năng lượng cho sự hoạt  động của tiên mao Chất nhân: -Không có màng nhân.
  7. 7 -Nst là phân tử AND dạng kép vòng. Không có liên k ết v ới protein histon (tr ừ vi khu ẩn c ổ), xo ắn lại với nhau, chiều dài 1mm. -Các gen phan bố liên tục, rất ít hoặc không có vùng intron. -AND nhân đôi theo cơ chế lăn đai thùng ( 1 đi ểm kh ởi đ ầu cho quá trình sao chép). *Plasmid: - Là thành phần không bắt buộc trong tế bào vi khuẩn. - Là phân tử AND kép, dạng vòng, kích thước bằng 1/100 NST của t ế bào vi khu ẩn. - Tồn tại 2 dạng: + dạng tự do không có khả năng nhân lên độc lập so với NST c ủa vi khu ẩn. + Dạng liên kết với NST nhờ các đoạn tương đồng nhân lên cùng quá trình nhân c ủa NST Câu 7: cấu tạo và sự sinh sản của xạ khuẩn, nấm mốc: Xạ khuẩn (Actinomycetes) Xạ khuẩn thuộc nhóm Procaryotes, có cấu tạo nhân đơn giản giống như vi khuẩn. Tuy vậy, đa số tế bnào xạ khuẩn lại có cấu tạo dạng sợi, phân nhánh phức tạp và có nhiều màu sắc giống như nấm mốc. Hình thái và kích thước Đa số xạ khuẩn có cấu tạo dạng sợi, các sợi kết với nhau tạo thành khuẩn lạc có nhiều màu sắc khác nhau: trắng, vàng, nâu, tím, xám v.v.... Màu sắc của xạ khuẩn là một đặc điểm phân loại quan trọng. Đường kính sợi của xạ khuẩn khoảng từ 0,1 - 0,5 µm. Có thể phân biệt được hai loại sợi khác nhau. Sợi khí sinh là hệ sợi mọc trên bề mặt môi trường tạo thành bề mặt của khuẩn lạc xạ khuẩn. Từ đây phát sinh ra bào tử. Sợi cơ chất là sợi cắm sâu vào môi trường làm nhiệm vụ hấp thu chất dinh dưỡng. Sợi cơ chất sinh ra sắc tố thấm vào môi trường, sắc tố này thường có màu khác với màu của sợi khí sinh. Đây cũng là một đặc điểm phân loại quan trọng. Một số xạ khuẩn không có sợi khí sinh mà chỉ có sợi cơ chất, loại sợi này làm cho bề mặt xạ khuẩn nhẵn và khó tách ra khi cấy truyền. Loại chỉ có sợi khí sinh thì ngược lại, rất dễ tách toàn bộ khuẩn lạc khỏi môi trường. Khuẩn lạc xạ khuẩn thường rắn chắc, xù xì, có thể có dạng da, dạng phấn, dạng nhung, dạng vôi phụ thuộc vào kích thước bào tử. Trường hợp không có sợi khí sinh khuẩn lạc có dạng màng dẻo. Kích thước khuẩn lạc thay đổi tuỳ loài xạ khuẩn và tuỳ điều kiện nuôi cấy. Khuẩn lạc thường có dạng phóng xạ (vì thế mà gọi là xạ khuẩn), một số có dạng những vòng tròn đồng tâm cách nhau một khoảng nhất định. Nguyên nhân của hiện tượng vòng tròn đồng tâm là do xạ khuẩn sinh ra chất ức chế sinh trưởng, khi sợi mọc qua vùng này chúng sinh trưởng yếu đi, qua được vùng có chất ức chế chúng lại sinh trưởng mạnh thành vòng tiếp theo, vòng này lại sinh ra chất ức chế sinh trưởng sát với nó khiến khuẩn ty lại phát triển yếu đi. Cứ thế tạo thành khuẩn lạc có dạng các vòng tròn đồng tâm. Cấu tạo tế bào Khuẩn lạc xạ khuẩn tuy có dạng sợi phân nhánh phức tap đan xen nhau nhưng toàn bộ hệ sợi chỉ là một tế bào có nhiều nhân, không có vách ngăn ngang. Giống như vi khuẩn, nhân thuộc loại đơn giản, không có màng nhân. Thành tế bào xạ khuẩn giống với thành tế bào vi khuẩn gram +. Màng tế bào chất dày khoảng 50 nm và có cấu trúc tương tự như màng tế bào chất của vi khuẩn. Nhân không có cấu trúc điển hình, chỉ là những nhiễm sắc thể không có màng. Khi còn non, toàn bộ tế bào chỉ có một nhiễm sắc thể sau đó hình thành nhiều hạt rải rác trong toàn bộ hệ khuẩn ty (gọi là hạt Cromatin). Sinh sản Xạ khuẩn sinh sản sinh dưỡng bằng bào tử. Bào tử được hình thành trên các nhánh phân hoá từ khuẩn ty khí sinh gọi là cuống sinh bào tử. Cuống sinh bào tử ở các loài xạ khuẩn có kích thước và hình dạng
  8. 8 khác nhau. Có loài dài tới 100 - 200 nm, có loài chỉ khoảng 20 - 30 nm. Có loài cấu trúc theo hình lượn sóng, có loài lò xo hay xoắn ốc. Sắp xếp của các cuống sinh bào tử cũng khác nhau. Chúng có thể sắp xếp theo kiểu mọc đơn, mọc đôi, mọc vòng hoặc từng chùm. Đặc điểm hình dạng của cuống sinh bào tử là một tiêu chuẩn phân loại xạ khuẩn. Bào tử được hình thành từ cuốn sinh bào tử theo kiểu kết đoạn (fragmentation) hoặc cắt khúc (segmentation). - Kiểu kết đoạn: Hạt cromatin trong cuống sinh bào tử được phân chia thành nhiều hạt phân bố đồng đều dọc theo sợi cuống sinh bào tử. Sau đó tế bào chất tập trung bao bọc quang mỗi hạt cromatin gọi là ti ền bào tử. Ti ền bào tử hình thành màng tạo thành bào tử nằm trng cuống sinh bào tử. Bào tử thường có hình cầu hoặc ôvan, được giải phóng khi màng cuống sinh bào tử bị phân giải hoặc bị tách ra. - Kiểu cắt khúc: Hạt cromatin phân chia phân bố đồng đều dọc theo cuống sinh bào tử. Sau đó giữa các hạt hình thành vách ngăn ngang, mỗi phần đều có tế bào chất. Bào tử hình thành theo kiểu này thường có hình viên trụ hoặc hình que. Ngoài hình thức sinh sản bằng bào tử, xạ khuẩn còn có thể sinh sản bằng khuẩn ty. Các đo ạn khuẩn ty gãy ra môi trường phát triển thành hệ khuẩn ty. Thuộc nhóm Procaryotes ngoài xạ khuẩn và vi khuẩn còn có niêm vi khuẩn, xoắn thể, ricketsia và Mycoplasma. Các nhóm này đều có cấu tạo nhân đơn giản. Cấu tạo tế bào và hoạt tính sinh lý có nhiều sai khác. Ví dụ như Mycoplasma có kích thước rất nhỏ bé so với vi khuẩn, không có màng tế bào, vì thế hình dạng luôn biến đổi. Ricketsia cũng có kích thước nhỏ bé, sống ký sinh bắt buộc v.v... Nấm mốc (nấm sợi) Nấm mốc cũng thuộc nhóm vi nấm, có kích thước hiển vi. Khác với nấm men, có không phải là những tế bào riêng biệt mà là một hệ sợi phức tạp, đa bào có màu sắc phong phú. Hình thái và kích thước Nấm mốc có cấu tạo hình sợi phân nhánh, tạo thành một hệ sợi chằng chịt phát triển rất nhanh gọi là khuẩn ti thể hay hệ sợi nấm. Chiều ngang của khuẩn ti thay đổi từ 3 - 10 µm. Nấm mốc cũng có 2 loại khuẩn ti: khuẩn ti khí sinh mọc trên bề mặt môi trường, từ đây sinh ra những cơ quan sinh sản. Khuẩn ti cơ chế mọc sâu vào môi trường. Khuẩn lạc của nấm mốc cũng có nhiều màu sắc như khuẩn lạc xạ khuẩn. Khuẩn lạc nấm mốc khác với xạ khuẩn ở chỗ nó phát triển nhanh hơn, thường to hơn xạ khuẩn ở chỗ nó phát triển nhanh hơn, thường to hơn khuẩn lạc xạ khuẩn nhiều lần. Dạng xốp hơn do kích thích khuẩn ti to hơn. Thường thì mỗi khuẩn lạc sau 3 ngày phát triển có kích thước 5 - 10 mm, trong khi đó khuẩn lạc xạ khuẩn chỉ khoảng 0,5 - 2 mm. Cấu tạo tế bào Cũng như nấm men, nấm mốc có cấu tạo tế bào điển hình như ở sinh vật bậc cao. Thành phần hoá học và chức năng của các cấu trúc này cũng tương tự như ở nấm men. Điều sai khác cơ bản giữa nấm mốc và nấm men là ở tổ chức tế bào. . Nấm mốc có tổ chức tế bào phức tạp hơn, trừ một số nấm mốc bậc thấp có cấu tạo đơn bào phân nhánh. Ở những nấm mốc bậc thấp này, cơ thể là một hệ sợi nhiều nhân không có vách ngăn.
  9. 9 Đa số nấm mốc có cấu tạo đa bào, tạo thành những tổ chức khác nhau như sợi khí sinh, sợi cơ chất. Sợi cơ chất của nấm mốc không đơn giản như ở xạ khuẩn mà phức tạp hơn. Có những loài có sợi cơ chất giống như rễ chùm ở thực vật gọi là rễ giả, ví dụ như ở Aspergillus niger. Ở những loài nấm mốc ký sinh trên thực vật, sợi cơ chất tạo thành những cấu trúc đặc biệt gọi là vòi hút. Ở một số loài nấm mốc, các sợi nấm nối với nhau thông qua các cầu nối, các cầu nối hình thành giữa các sợi nằm gần nhau gọi là sự hợp nối do có hiện tượng 2 khối nguyên sinh chất trộn lẫn với nhau. Đó có thể là một hình thức lai dinh dưỡng. Một số loài nấm mốc có cấu tạo gần giống mô thực vật gọi là mô giả. Đó là các tổ chức sợi xốp gồm các sợi nấm xếp song song với nhau tạo thành một tổ chức sợi xốp. Ngoài tổ chức sợi xốp còn có tổ chức màng mỏng giả gần giống như màng mỏng ở thực vật bậc cao. Chúng gồm những tế bào có kích thước xấp xỉ nhau hình bầu dục, xếp lại với nhau. Hai tổ chức trên có ở thể đệm và hạch nấm. Thể đệm cấu tạo bởi nhiều khuẩn ti kết lại với nhau, từ đó sinh ra các cơ quan sinh sản của nấm mốc. Hạch nấm thường có hình tròn hoặc hình bầu dục không đều, kích thước tuỳ theo loài, từ dưới 1 mm đến vài cm. Đặc biệt có loài có kích thước hạch nấm tới vài chục cm. Hạch nấm là một tổ chức giúp cho nấm sống qua những điều kiện ngoại cảnh bất lợi. Sợi nấm tồn tại trong hạch không phát triển. Khi gặp điều kiện thuận lợi hạch sẽ nảy mầm và phát triển bình thường. Sinh sản Nấm mốc có 3 hình thức sinh sản chính a. Sinh sản dinh dưỡng - Sinh sản dinh dưỡng bằng khuẩn ti: là hình thức từ một khuẩn ti gây ra những đoạn nhỏ, những đoạn nhỏ này phát triển thành một hệ khuẩn ti. - Sinh sản dinh dưỡng bằng hạch nấm - Sinh sản dinh dưỡng bằng bào tử dày: trên phần giữa của khuẩn ti hoặc phần đầu khuẩn ti hình thành tế bào có màng dầy bao bọc, bên trong chứa nhiều chất dự trữ. Gặp điều kiện thuận lợi bào tử dầy sẽ nảy mầm thành một hệ sợi nấm. Bào tử dầy thường là đơn bào, đôi khi là 2 hoặc nhiều tế bào. b. Sinh sản vô tính Sinh sản vô tính ở nấm mốc có hai hình thức: - Bào tử kín: là bào tử hình thành trong một nang kín. Từ một khuẩn ti mọc lên cuống nang, cuống nang thường có đường kính lớn hơn đường kính khuẩn ti. Cuống nang có loại phân nhánh và có loại không phân nhánh. Trên cuống nang hình thành nang bào tử. Cuống nang có phần ăn sâu vào trong nang gọi là nang trụ. Nang trụ có hình dạng khác nhau tuỳ loài. Ở một số loài, bào tử nằm trong nang có tiên mao, khi nang vỡ bào tử có khả năng di động trong nước gọi là động bào tử (Zoospore). Sự khác nhau giữa bào tử dày ở sinh sản dinh dưỡng và bào tử kín ở sinh sản vô tính: bào tử dầy chính là một hoặc một vài tế bào trong một sợi nấm hình thành màng dầy bọc lại. Bào tử kín phức tạp hơn, có cơ quan mang bào tử là nang, có nang trụ, cuống nang ... - Bào tử đính: là hình thức bào tử được hình thành bên ngoài cơ quan sinh bào tử chứ không nằm trong nang kín. Hình thức này có nhiều loại khác nhau. Có loại bào tử nằm hoàn toàn bên ngoài cơ quan sinh bào tử. Từ sợi nấm mọc lên cuống sinh bào tử, cuống sinh bào tử có thể phân nhánh hoặc không. Từ đỉnh của cuống sinh bào tử bằng cách phân cắt cùng một lúc từ một sợi thành nhiều bào tử. Có loại mọc chồi thành bào tử thứ nhất rồi bào tử thứ nhất lại mọc chồi thành bào tử thứ hai, cứ như thế tạo thành chuỗi, trong chuỗi kiểu này bào tử ở cuối chuỗi non nhất, bào tử ở sát cuống sinh bào tử già nhất, gọi là chuỗi gốc già. Có loại các bào tử được
  10. 10 liên tiếp mọc ra từ đỉnh cuống sinh bào tử đẩy dần thành một chuỗi trong đó bào tử ở cuối chuỗi được sinh ra đầu tiên gọi là chuỗi gốc non. Ở một số loài bào tử nằm trong thể bình, phương thức sinh bào tử cũng tương tự như ở cơ chế trên (phân cắt cùng một lúc, chuỗi gốc nhà, chuỗi gốc non). Đặc điểm khác cơ bản là cuống sinh và bào tử nằm trong một thể hinh bình, các bào tử sinh ra được đẩy dần ra khỏi miệng bình. Khác với bào tử kín, nang phải vỡ ra bào tử mới ra ngoài được. Ngoài các hình thức trên còn một số hình thức khác nữa. Trên cùng một loài nấm mốc có thể có nhiều hình thức sinh sản khác nhau. Ví dụ như Fusarium có bào tử dày và bào tử đính. Cách phát sinh bào tử khác nhau cũng có thể có cùng ở một loại nấm. c. Sinh sản hữu tính Nấm mốc có 3 hình thức sinh sản hữu tính - đẳng giao, di giao và tiếp hợp. - Đẳng giao: Từ sợi khuẩn ti sinh ra các túi giao tử trong có chứa giao tử. Các giao tử sau khi ra khỏi túi kết hợp với nhau thành hợp tử. Hợp tử phân chia giảm nhiễm thành các bào tử. Mỗi bào tử khi được giải phóng ra từ hợp tử có thể phát sinh thành sợi nấm. Các giao tử và túi giao tử hoàn toàn giống nhau giữa cơ thể “đực” và cơ thể “cái”. - Dị giao: là trường hợp các giao tử và túi giao tử ở cơ thể “đực” và “cái” khác nhau. Ở lớp nấm noãn (Oomycestes) cơ quan sinh sản cái gọi là noãn khí ở trong chứa noãn cầu. Cơ quan sinh sản đực gọi là hùng khí có hình ống cong. Có thể có nhiều hùng khí mọc hướng về phía noãn khí, trong hùng khí chứa các tinh trùng. Khi hùng khí mọc vươn tới noãn khí, từ hùng khí tạo thành các ống xuyên qua đó tinh trùng vào thụ tinh noãn cầu tạo thành noãn bào tử. Noãn bào tử được bao bọc bởi một màng dày, sau một thời gian phân chia giảm nhiễm và phát triển thành sợi nấm mốc. Tiếp hợp: Hình thức sinh sản thường có ở nấm tiếp hợp. Từ 2 khuẩn ti khác nhau gọi là sợi âm và sợi dương mọc ra 2 mấu lồi gọi là nguyên phối nang. Các nguyên phối nang mọc hướng vào nhau dần dần hình thành màng ngăn với khuẩn ti sinh ra nó tạo thành tế bào đa nhân. Hai tế bào đa nhân tiếp hợp với nhau tạo thành hợp tử đa nhân gọi là bào tử tiếp hợp có màng dầy. Hợp tử sau một thời gian n ảy mầm mọc thành một ống mầm. Đầu ống mầm sau phát triển thành một nang vô tính chứa những bào tử. Ống mầm trở thành cuống nang giống như trường hợp hình thành bào tử kín. Sau một thời gian nang vỡ giải phóng bào tử ra ngoài. Mỗi bào tử phát triển thành một sợi nấm. Câu 13: quan hệ giữa virut độc với tế bào vật chủ. Các bệnh virut ở người, động vật, và thực vật Sau khi virut độc xâm nhập vào tế bào vật chủ, virut độc nhân lên một cách độc lập trong tế bào vật chủ và làm tan tế bào vật chủ. Sự nhân lên của virut độc diễn ra theo 5 bước Hấp phụxâm nhập sinh tổng hợp các thành phầnlắp rápgiải phóng. + hấp phụ:vi rut bám một cách đặc hiệu lên thụ thể bề mặt tế bào nhờ có gai glycoprotein(vi rut động vật) và gai đuôi(phage) có tác dụng kháng nguyên tương hợp với các thụ thể trên bề mặt tế bào. Nhờ vậy mà mỗi loài vi rút chỉ kí sinh trên 1 loại tế bào nhất định. + xâm nhập: Đối với virut động vật: đưa cả nucleocapsit vào tế bào chất, sau đó cởi vỏ để giải phóng axit - nucleic Đối với phage: emzyme lisozim phá hủy thành tế bào để bơm axit nucleic vào tế bào chất, vỏ - nằm bên ngoài.
  11. 11 +sinh tổng hợp:Tổng hợp vỏ capsit, đuôi, gai, bao đuôi, tổng hợp axit nucleic, protein nhờ các vật chất của tế bào chủ. + lắp ráp: lắp ráp axit nucleic vào protein vỏ để tạo thành virut hoàn chỉnh + giải phóng:vi rut phá vỡ thành tế bào vật chủ chui ra ngoài. Đồng thời tiêu diệt luôn tế bào vật chủ, nhờ hệ enzyme lisozim là tan thành tế bào vật chủ. Các bệnh vi rút ở người, động vật thực vật mà em biết: ở người: bệnh tay chân miệng, bệnh dại, sởi, đau mắt đổ, sốt xuất huyết, AIDS…. - ở động vật:tai xanh, nở mồm long móng… - ở thực vật:bệnh xoăn lá, đốm lá, thân lùn, còi cọc… - Câu 8: cấu tạo, sinh sản, ý nghĩa thực tiễn của nấm men Hình thái và kích thước -Nấm men thường có hình cầu hoặc hình bầu dục, một số loại có hình que , một số có cấu tạo sợi giả do 1 số tế bào nấm men dính lại thành chuỗi.Kích thước trung bình của nấm men là 3 - 5 x 5 - 10µm. Cấu tạo tế bào Là cơ thể đơn bào điển hình với các tế bào nhân thực, tế bào chất chứa các bào quan đã chuyên hóa. nấm men có cấu tạo tế bào khá phức tạp, gần giống như tế bào thực vật. Có đầy đủ các cấu tạo thành tế bào, màng tế bào chất, tế bào chất, ty thể, riboxom, nhân, không bào và các hạt dự trữ. - Thành tế bào: Thành tế bào có bản chất là polysaccharide( dày 100-400nm).Thành tế bào nấm men được cấu tạo bởi hai lớp phân tử bao gồm 90% là hợp chất glucan và mannan, phần còn lại là protein, lipit và glucozamin. Glucan là hợp chất cao phân tử của D - Glucoza, mannan là hợp chất cao phân tử của D - Manoza. Trên thành tế bào có nhiều lỗ, qua đó các chất dinh dưỡng được hấp thu và các sản phẩm của quá trình trao đổi chất được thải ra. - Màng nguyên sinh chất Màng nguyên sinh chất của tế bào nấm men dày khoảng 8 nm có cấu tạo t ương t ự nh ư màng nguyên sinh chất của vi khuẩn. -Tế bào chất của nấm men cũng tương tự như tế bào chất của vi khuẩn, độ nhớt của tế bào chất cao hơn của nước 800 lần. Nhân tế bào nấm men là nhân điển hình, có màng nhân, bên trong là chất dịch nhân có chứa hạch nhân. Cũng như nhân tế bào của vi sinh vật bậc cao, nhân tế bào nấm men ngoài AND còn có protein và nhiều loại men. Hạch nhân của tế bào nấm men không phải chỉ gồm một phân t ử AND như ở vi khuẩn mà đã có cấu tạo nhiễm sắc thể điển hình và có quá trình phân bào nguyên nhiễm còn gọi là gián phân. Quá trình gián phân gồm 4 giai đoạn như ở vi sinh vật bậc cao. Số lượng nhiễm sắc thể trong tế bào nấm men khác nhau tuỳ loại nấm men. Ở Saccharomyces serevisiae là nhóm nấm men phân bố rộng rãi nhất, thể đơn bội của nó có n = 17 nhiễm sắc thể, thể lưỡng bội có 2n = 34. Ngoài nhiễm sắc thể ra, trong nhân tế bào S. serevisiae còn có từ 50 đến 100 plasmic có cấu tạo là 1 phân tử AND hình vòng kín có kích thước 2 µm, có khả năng sao chép độc lập, mang thông tin di truyền. - Ty thể:Khác với vi khuẩn, nấm men đã có ty thể giống như ở tế bào bậc cao, đó là cơ quan sinh năng lượng của tế bào. Ty thể nấm men có hình bầu dục, được bao bọc bởi hai lớp màng, màng trong gấp khúc thành nhiều tấm răng lược hợc nhiều ống nhỏ làm cho diện tích bề mặt của màng trong tăng lên. Cấu trúc của hai lớp màng ty thể giống cấu trúc của màng nguyên sinh chất. Trên bề mặt của màng trong có dính vô số các hạt nhỏ hình cầu. Các hạt này có ch ức năng sinh
  12. 12 năng lượng và giải phóng năng lượng của ty thể. Trong ty thể còn có một phân t ử AND có c ấu trúc hình vòng, có khả năng tự sao chép. Trong ty thể còn có cả các thành phần cần cho quá trình tổng hợp protein như riboxom, các loại ARN và các loại enzym cần thiết cho sự tổng hợp protein. Các thành phẩn này không giống với các thành phần tương tự của tế bào nấm men nhưng lại rất giống của vi khuẩn. AND của ty thể rất nhỏ nên chỉ có thể mang mật mã tổng hợp cho một số protein của ty thể, số còn lại do tế bào tổng hợp rồi đ ưa vào ty th ể. Người ta đã ch ứng minh được quá trình tự tổng hợp protein của ty thể. Quá trình này bị kìm hãm bởi cloramfenicol giống như ở vi khuẩn, trong khi đó chất kháng sinh này không kìm hãm được quá trình tổng hợp protein ở tế bào nấm men. - Riboxom của tế bào nấm men có hai loại : loại 80S gồm 2 tiểu thể 60S và 40S nằm trong tế bào chất, một số khác gắn với màng tế bào chất. Một số nghiên cứu đã chứng minh r ằng: các riboxom gắn với màng tế bào chất có hoạt tính tổng hợp protein cao hơn. loại 70S là lo ại riboxom có trong ti thể. Ngoài các cơ quan trên, nấm men còn có không bào và các hạt dự trữ như hạt Volutin, hạt này không những mang vai trò chất dự trữ mà còn dùng làm nguồn năng lượng cho nhiều quá trình sinh hoá học của tế bào. Ngoài hạt Volutin trong tế bào còn có các hạt dự trữ khác như glycogen và lipit. Một số nấm men có khả năng hình thành một lượng lớn lipit. - Bào tử: Nhiều nấm men có khả năng hình thành bào tử, đó là một hình thức sinh s ản c ủa n ấm men. Có 2 loại bào tử: bào tử bắn và bào tử túi. Bào tử túi là những bào tử được hình thành trong một túi nhỏ còn gọi là nang. Trong nang thường chứa từ 1-8 bào tử, đôi khi đến 12 bào tử. Phương thức hình thành túi phụ thuộc vào hình thức sinh sản của nấm men. Bào tử bắn là những bào tử khi hình thành nhờ năng lượng của tế bào bắn mạnh về phía đối di ện. Đó là m ột hình thức phát tán bào tử. Sinh sản Ở 3 nấm men có 3 hình thức sinh sản - Sinh sản sinh dưỡng : là hình thức sinh sản đơn giản nhất của nấm men. Có 2 hình thức sinh sản sinh dưỡng: nảy chồi và hình thức ngang phân đôi tế bào như vi khuẩn. Ở hình th ức n ảy chồi, từ một cực của tế bào mẹ nảy chồi thành một tế bào con, sau đó hình thành vách ngăn ngang giữa hai tế bào. Tế bào còn có thể tách khỏi tế bào mẹ hoặc có thể dính với tế bào mẹ và lại tiếp tục nảy chồi làm cho nấm men giống như hình dạng cây xương rồng tai nhỏ. - Sinh sản đơn tính: bằng hai hình thức bào tử túi và bào tử bắn như đã nói ở phần bào tử. - Sinh sản hữu tính: do hai tế bào nấm men kết hợp với nhau hình thành hợp tử. Hợp tử phân chia thành các bào tử nằm trong nang, nang chín bào tử được phát tán ra ngoài. Nếu 2 tế bào nấm men có hình thái kích thước giống nhau tiếp hợp với nhau thì được gọi là tiếp hợp đ ẳng giao. Nếu 2 tế bào nấm men khác nhau thì gọi là tiếp hợp dị giao. Trong chu trình sống của nhiều loài nấm men, có sự kết hợp các hình thức sinh sản khác nhau. Sau đây là quá trình sinh sản của S. serevisiae - một loài nấm men phân bố rộng rãi trong thiên nhiên. Chu trình sống của nấm men này có 2 giai đoạn đơn bội và l ưỡng bội. Đ ầu tiên t ế bào sinh dưỡng đon bội (n) sinh sôi nảy nở theo lối nảy chồi. Sau đó 2 tế bào đơn bội kết hợp với nhau, có sự trao đổi của tế bào chất và nhân hình thành tế bào lưỡng bội (2n). Tế bào lưỡng bội lại nảy chồi (sinh sản sinh dưỡng) thành nhiều tế bào lưỡng bội khác, cuối cùng hình thành hợp tử. Nhân của hợp tử phân chia giảm nhiễm thành 4 nhân đơn bội. Mỗi nhân đơn bội được bao bọc nguyên sinh chất, hình thành màng, tạo thành 4 bào tử nằm trong một túi gọi là bào tử túi. Khi túi vỡ, bào tử ra ngoài phát triển thành tế bào dinh dưỡng và lại phân chia theo lối này rồi tiếp tục chu trình sống.
  13. 13 Ý nghĩa thực tiễn của nấm men Nấm men là nhóm vi sinh vật phân bố rộng rãi trong thiên nhiên, nó tham gia vào các quá trình chuyển hoá vật chất, phân huỷ chất hữu cơ trong đất. Hoạt tính sinh lý của nhiều loài nấm men được ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp và các ngành khác. Đặc biệt trong quá trình sản xuất các loại rượu, cồn, nước giải khát lên men, làm thức ăn gia súc ... Ngoài hoạt tính sinh lý, bản thân tế bào nấm men có rất nhiều loại vitamin và các axit amin, đặc biệt là axit amin không thay thế. Đặc tính này được dùng để chế tạo thức ăncho người, gia súc từ nấm men sử dụng trong sản xuất vitamin và enzyme, Nấm men chiếm một vị trí đặc biệt trong công nghiệp thực phẩm, làm nở bột mì,làm bia, nấu rượu, chế vang, làm phomat, sản xuất sinh khối để chế protein làm thịt nhân tạo. Ngoài ra nấm men còn được sử dụng rộng rãi trong công nghệ AND. Câu 12: khái niệm chung về virut. Cho ví dụ Vi rut là một nhánh của sự sống gồm những cơ thể siêu hiển vi, nằm ở ranh giới giữa phân tử hữu cơ lớn nhất ( albumin=10nm) với tế bào vi khuẩn nhỏ nhất (micoplasma=100nm). Có thể đi qua màng lọc vi khuẩn, không lắng đọng trong máy li tâm thường. Vì chứa có cấu tạo tế bào nên được gọi là hạt virut. Là vi sinh vật kí sinh bắt buộc. tồn tại ngoài cơ thể sống như 1 phân tử hóa học Vi rut mang bản chất sống mà không sống. Ví dụ: : Virut bại liệt(poliomyelite), virut viêm gan A (PiconaviridaeVirut dại ( Rhabdoviridae).. Câu 21. ảnh hưởng của oxi đến sự sinh trưởng và phát tri ển c ủa vi sinh v ật, các khái ni ệm hi ếu khí, vi hiếu khí, kị ký, hô hấp tùy tiện, vn. Tại sao oxi r ất đ ộc v ới các vsv k ị khí trong khi đó nó l ại là yếu tố tiên quyết đối với sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật hiếu khí. Oxi có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động sống của vsv. Trong không khí oxi chiếm 20,95% thể tích và và 23,14% khối lượng. Tùy thuộc vào nhu cầu đối với oxi mà người ta chia vsv thành các nhóm sau đây: -vsv hiếu khí: là các vsv có thể sinh trưởng được khi có mặt của phân tử oxi. Chúng có chuỗi hô hấp hoàn chỉnh, dùng oxi làm chất nhận hidro cu ối cùng. Trong t ế bào có ch ứa enzyme SOD(superoxide dismutaza) và peroxidaza. Tuyệt đại đa số vi nấm và s ố đông vi khuẩn thuộc nhóm này. - vi hiếu khí: thuộc nhóm này là các vsv ch ỉ sinh trưởng đ ược trong nh ững đi ều ki ện áp lực oxi rất thấp, chúng cũng thông qua chuỗi hô hấp và dùng oxi làm th ể nh ận cu ối cùng vd như các loại Vibrio cholera, Zymononas… - kị khí: Các vi sinh vật thuộc nhóm này sự có mặt của oxi phân t ử là có h ại. Chúng ch ỉ sinh trưởng được ở lớp dịch thể sâu , ở nơi không có oxi, quá trình lên men, quá trình phosphoryl hóa quang hợp quá trình metan. Trong tế bào của các vi sinh vật này không có SOD, xitocromoxidaza, catalaza,phần lớn không có hidrogen peroxidaza. Vd: Có thể kể đến rất nhiều loài trong các chi Clostridium, Fusobacterium, Bifidobacterium, Eubacterium, Peptococcus, Butyrivibrio, Desulfovibrio, Veillonella,…. -hô hấp tùy tiện:+ Hiếu khí không bắt buộc. Thuộc nhóm này là các vi sinh vật có thể sinh trưởng được cả trong điều kiện có oxi lẫn trong điều kiện không có oxi. Trong tế bào có chứa SOD và peroxidaza. Có oxi chúng sinh trưởng tốt hơn. Phần lớn nấm men và
  14. 14 vi khuẩn thuộc nhóm này. vd như Saccharomyces cerevisiae, E.coli, Enterobacter aerogenes, Proteus vulgaris. +Kị khí không bắt buộc: Đó là những vi khuẩn kị khí nhưng lại tồn tại được khi có mặt oxi.Trong tế bào có SOD, có peroxidaza nhưng thiếu catalaza, hidrogenperoxidaza. Thuộc nhóm này có thể kể đến Streptococcus lactis, S.faecalis, Lactobacillus lactis, Leuconostoc mesenteroides, Butyribacterium rettgeri,…. Đối với hô hấp kị khí, chất nhận điện tử cuối cùng không phải là oxi mà là chất vô cơ khác. Các vi khuẩn nhóm này không có hệ thuống cytocrom và các enzyme peroxidase, deoxidase để phân hủy oxi cho nên oxi độc với chúng. ­vì   hai   điện   tử   bên   ngoài   của   oxy   không   thành   cặp   do   đó   rất   dễ   tiếp   nhận   điện   tử   và   bị   khử.   Flavoprotein, một số  thành phần tế  bào khác và  sự  bức xạ   đều có  thể  thúc  đẩy việc khử  oxy, tạo   thành các sản phẩm khử như gốc tự do superoxide, hydrogen peroxide, gốc hydroxyl. - O2 + e­ → O2­ (gốc tự do superoxide) - O2 + e­ + 2H+ → H 2O2 (hydrogen peroxide) - O2 + e­ + H+ → H 2O + OH­(gốc hydroxyl) Các sản phẩm khử  oxy này là  cực kỳ  có  hại vì  chúng là  các chất oxy hóa mạnh và  phá  hủy  - nhanh chóng các thành phần tế bào (nói ngắn gọi, những vk kị khí không có enzyme để phân   hủy các chất độc hình thành do quá trình tiếp xúc của chuỗi e với khí quyển) -hô hấp hiếu khí: ở vsv hô hấp hiếu khí là quá trình chuyển hóa năng lượng diễn ra trong chuỗi dài cytochrom có sự tham gia của men vàng obiquinon, nh ưng chất nh ận e cuối cùng là khí trời Vi khuẩn hiếu khí  bắt buộc và  vi khuẩn kỵ  khí  không bắt buộc thường chứa các enzyme như  - superoxide   dismutase   (SOD)   và   catalase,   chúng   phân   biệt   xúc   tác   việc   phá   hủy   gốc   superoxide   và   hydrogen   peroxide.   Peroxidase   cũng   có   thể   dùng   để   phá   hủy   hydrogen   peroxide: 2O2∙- + 2H+ →→superoxide dismutase→→ O2 + H 2O 2H2O2→→catalase→→ 2H 2O + O 2 H2O2 + NADH + H+→→peroxidase→→ 2H2O + NAD + Vi   sinh   vật   kỵ   khí   không   bắt   buộc   có   thể   thiếu   catalase   nhưng   hầu   hết   luôn   có   superoxide   dismutase. Vi khuẩn kỵ  khí  không bắt buộc Lactobacillus plantarum dùng ion Mn2+ thay thế SOD  đểđể phân giải gốc tự do của superoxide. Tất cả các vi sinh vật kỵ khí bắt buộc đều không có hai   loại enzyme nói trên hoặc có  với nồng  độ  rất thấp và  do  đó  không có  năng lực chống chịu  được  với oxy. Câu 22:các kiểu hô hấp, tiến hóa, mối liên quan giữa các hình thức hô hấp. Căn cứ vào điều kiện có oxy hay không có oxy và nguồn chất nh ận điện tử cuối cùng người ta chia vk thành 2 kiểu hô hấp: -Hô hấp hiếu khí: Xảy ra khi môi trường có ôxi phân tử. Hô hấp hiếu khí là quá trình ôxi hóa các phân tử hữu cơ. Trong đó, chất nhận electron cuối cùng là ôxi phân tử. Sản phẩm cuối cùng là CO2, H2O và giải phóng nhiều năng lượng.vd: Anabaena , Oscillatoria nơi xảy ra: màng trong ty thể (sinh vật nhân thực) hoặc màng sinh chất (sinh vật nhân sơ). - điều kiện môi trường: cần 02.
  15. 15 - chất nhận điện tử: 02 phân tử. - năng lương sinh ra: 38 ATP. - sp cuối cùng: C02 và H20 cùng với năng lượng ATP. - Hô hấp kị khí: Xảy ra khi môi trường không có ôxi phân tử. Hô hấp kị khí là quá trình phân giải cacbohiđrat để thu năng lượng cho tế bào. Trong đó, chất nhận electron cuối cùng không phải là ôxi phân tử mà là các phân tử vô cơ như NO3-, SO42-...vd:vi khuẩn đường ruột nơi xảy ra: màng sinh chất - sinh vật nhân thực (không có bào quan ty thể). - điều kiện môi trường: không cần 02. - chất nhận điện tử: chất vô cơ NO3- , SO4 2-, C02. - năng lượng sinh ra:
  16. 16 Phản ứng xảy ra như sau: 2CH3CO-COOH  2CO2 + 2CH3CHO Giai đoạn 5 : Pyruvate bị loại CO2 thành Acetaldehyd(CH3CH0) Nhờ có NADH2 aldehyt acetic bị khử thành rượu:CH3CHO +NADH+H+2CH3CH2OH + 2NAD+ Acetaldehyd bị khử thành etanol nhờ sự xúc tác của alcoholdehydrogenase với NADH là chất cho electron sp cuối cùng của lên men rượu là rượu ethylic và khí CO2. C6H12O6 + 2 ADP+2Pi 2C2H5OH+2CO2+ 2ATP+2H20 + Hiệu ứng Pasteur: là quá trình kìm hãm sự lên men của nấm men bằng oxi phân t ử do nhà khoa học Pasteur phát hiện ra lần đầu tiên. + Giải thích: - do nấm men thuộc giới sinh vật kị khí không bắt buộc. - trong môi trường không có hoặc ít oxi thì quá trình lên men di ễn ra m ạnh m ẽ => s ự sinh s ản và sinh trưởng của nấm men gần như dừng lại. - trong môi trường hiếu khí => nấm men sinh trưởng và sinh s ản m ạnh => đình ch ỉ quá trình lên men. Câu 26: sự tạo thành axetat trong điều kiện hiếu khí và kị khí. ứng dụng Sự tạo thành axetat trong điều kiện kị khí: *Axetat sinh ra trong điều kiện kị khí là sản phẩm phụ của quá trình lên men butyric. -từ nguyên liệu là glucose (C6H12O6), vi khuẩn Closstridium phân hủy glucose tạo thành acid piruvic (CH3-CO-COOH) theo con đường đường phân. Từ hai phân tử acid pyruvic bị khử CO2, tạo hai phân tử Axetaldehyt (CH3CHO) sau đó với sự tham gia của HS- CoA sẽ chuyển thành dạng axetyl-CoA, hai phân tử axetyl-CoA trùng hợp tạo thành Axeto-axetil-CoA và tiếp tục một số chuyển hóa khác tạo butyril-CoA, sau khi loại HS-CoA tạo acid butyric là sản phẩm chính, ngoài ra còn các sản phẩm phụ như acid axetic, etanol,… Nếu môi trường hơi acid sẽ lên men theo hướng tạo acetol và rượu butanol là sản phẩm chính. - Phương trình tổng quát quá trình lên men: Đặc điểm của quá trình lên men này là: Trong quá trình lên men này H2 không được chuyển cho những chất nhận mà tạo thành H2 phân tử. Hai phân tử CH3CHO trùng hợp với nhau tạo thành aldehit hydrooxy butylic quá trình này có sự trùng hợp những hợp chất có 2 cacbon thành những hợp chất có 4 cacbon. *Axetat sinh ra trong điều kiện kị khí là sản phẩm phụ của quá trình lên men lactic dị hình: Xảy ra trong trường hợp vi khuẩn lactic không có các enzyme cơ bản của sơ đồ Embden – Mayerhorf – Parnas (aldolase và triozophotphatizomerase), vì vậy xilulose 5-photphat sẽ được tạo thành theo con đường pento-photphat (PP). Trong trường hợp này chỉ có 50% lượng đường tạo thành axit lactic, ngoài ra còn có các sản phẩm phụ khác như: axic axetic, etanol, CO2. C6H12O6 CH3CHOHCOOH+CH3COOH +C2H5OH+COOH(CH2)2COOH+CO2 Với tác nhân gây lên men là Bifidobacterium thì số lượng axit axetic sinh ra lớn axit lactic. *sự tạo thành axit axetic trong điều kiện hiếu khí: là quá trình oxy hoá rượu etylic thành acid acetic nhờ có enzym alcohol oxydaza xúc tác trong điều kiện hiếu khí: CH3CH2OH + O2 -> CH3COOH + H2O + 117 Kcal
  17. 17 Để chuyển hoá thành acid acetic, rượu và oxy phải thâm nhập vào tế bào vi khuẩn , ở đây nhờ có enzyme của vi khuẩn xúc tác(vi khuẩn acetic..), rượu được chuyển hoá thành acid acetic theo một quá trình sau: C2H5OH + ½ O2 -> CH3CHO (Acetaldehyd) + H2O CH3CHO + H2O -> CH3CH(OH)2 (Hydrat acetaldehyd) CH3CH(OH)2 + ½ O2 -> CH3COOH + H2O Trong quá trình lên men giấm, rượu etylic được oxy hoá thành acid acetic. Ở đây sự chuyển hydro được thực hiện nhờ sự xuất hiện của NADP (Nicotinamit adenin dinucleotit photphat dạng oxy hoá). Hydro được NADP nhận (trở thành NADPH2) được chuyển qua chuỗi hô hấp để thu năng lượng, song cơ chất không bị phân giải hoàn toàn nên được gọi là quá trình oxy hoá không hoàn toàn. SỐ ỨNG DỤNG QUAN TRỌNG CỦA AXIT AXETIC Ứng dụng trong chế biến mủ cao su: Trong sản xuất mủ cao su, người ta rất sợ hiện tượng đông đặc của mủ trước khi đưa đi chế biến. Để chống đông mủ cao su, người ta thường dùng NH3 3%. Lượng NH3 được sử dụng tùy theo loại mủ đem sơ che. Mủ đổ xông khói, người ta sử dụng lượng NH3 là 0,6-1g/l mu. Mủ đánh đông không pha loãng, người ta thường sử dụng lượng NH3 là 0,3-0,6g/l. Khi đổ mủ vào xô hoặc thùng chứa, người ta thường dùng NH3 để chống đông. Theo đó, mủ đuoc5 pha loãng với nước đến độ cao su thô ( DRC) khoảng 14%, pH=4,7. Tuy nhiên, tùy theo hệ thống máy cán, người ta có thể thay đổi pH hoặc độ cao su thô cho thích hợp. Sau khi pha loãng và khuấy trộn mủ với NH3, người ta cho thêm vào dung dịch axit axetic 2,5% với lượng là 3,5- 10kg/tấn dung dịch mủ cao su, khi cho axit vào người ta khuấy liên tục. Ứng dụng axit axetic trong công nghệ thực phẩm:Với hàm lượng axit axetic từ 5-10%, người ta gọi dung dịch này là dầu ăn. Dầu ăn được sử dụng trong công nghệ thực phẩm để chế biến đồ hộp rau, quả, gia vị trong các bữa ăn gia đình. Lượng dầu ăn được sử dụng trong công nghệ thực phẩm rất lớn, do đó, việc sản xuất dầu ăn không chỉ mang tính chất thủ công mà đã trở thành một ngành sản xuất theo qui mô công nghiệp ở nhiều nước trên thế giới. Ứng dụng trong công nghiệp khác: Axit axetic còn được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp như công nghiệp sản xuất chất màu, dung môi hữu cơ, tổng hợp chất dẻo tơ sợi. Những ngành sản xuất này đòi hỏi lượng axit axetic nhiều và có chất lượng cao hơn dung dịch axit axetic dùng trong công nghệ thực phẩm và trong công nghệ chế biến mủ cao su. Câu 28: vi khuẩn đường ruột E.coli và Proteus vulgaris với hình thức hô hấp tùy tiện .sự khác biệt của 2 vi khuẩn này với Clostridium bacterium về ki ểu hô hấp và sản phẩm của quá trình lên men. vi khuẩn đường ruột E.coli và Proteus vulgaris với hình thức hô hấp tùy tiện như sau: Khi có phân tử oxi thì glucoseđường phânchu trình krepchuỗi vận chuyển e Khi không có oxi nhưng có chất hữu cơ có thể lên men thì chúng lên men Ví dụ:glucose đường phânlên men hỗn hợp các axit hữu cơ. Còn vi khuẩn clotidium bacterium thì lên men kị khí: Glucoseđường phânlên men butyric Do E.coli và Proteues vulgaris có các enzyme phân giải H202 như catalase và peroxydase nên chúng có thể hô hấp tùy tiện. Còn clostridium bacterium không có hệ enzyme để phân giải chất độc H202 được hình thành quá trình tiếp xúc của chuỗi e với khí quyển. Sản phẩm: Vi khuẩn đường ruột: glucoseaxit focmic,xuccinic Clostridium bacterium: glucoseaxit butyric+2C02+E(có thể là axetic, axeton,….)
  18. 18 Vi khuân nitrat và phản nitrat hóa. Ý nghĩa thực tiễn. Câu 31: Vi khuẩn Nitrat Nitrat hóa gồm giai đoạn nitrit hóa và giai đo ạn nitrat hóa. a. Quá trình nitrit hóa. Vi sinh vật Là quá trình chuyển hóa từ NH4+ NO2- 3 Vi sinh vật NH4+ + O2 NO2- + H2O + 2H+ + Q 2 Tham gia vào giai đoạn này có 4 gi ống ch ủ y ếu: Nitrosomonat; Nitrosolobus; Nitrocystis; Nitrosospira. Loài vi khuẩn nitrit hóa có hình bầu dục, hình cầu, hình que h ơi xo ắn. T ế bào có kích th ước 0,6 – 1,0 x 0,9 – 2,5 µ m, có tiên mao, có khả năng di động đ ược, đa s ố Gram âm, không sinh nha bào, phát triển tốt ở pH + 7,0 – 7,5, ở nhi ệt đ ộ 28 – 30 0C, độ ẩm của đất 40 – 70%, tùy từng chủng khuẩn. b. Quá trình nitrat hóa. Vi sinh vật NO2- N O 3- 1 Vi sinh vật NO2- + N O 3- + Q O2 2 Tham gia vào giai đoạn này gồm có 3 giống vi sinh vật: Nitrobacter, Nitospira, Nitrococcus. Là những vi khuẩn hình cầu, hình trứng, có tiên mao, di đ ộng đ ược, Gram âm, không sinh nha bào. Tế bào có kích thước 0,3 – 0,4 x 2,1 – 6,5 µ m, thích ứng ở môi trường pH trung tính h ơi kiềm, nhưng vẫn có thể phát triển tốt ở môi trường chua. Ngoài các giống vi khuẩn cơ bản chuyển hóa trên còn có các loài vi sinh v ật khác: Nhóm vi sinh vật dị dưỡng: Alcaligenes, Anthrobacter, Corynebacterium, Achromobacter, Pseudomonas, Nocardia, Streptomyces Ý nghĩa: Ngoài các biện pháp canh tác như tưới tiêu, chủ động tránh các đi ều ki ện ng ập n ước, yếm khí, tránh khô hạn, áp dụng các công thức luân canh h ợp lí ra, hi ện nay ng ười ta dùng các biện pháp hóa học như: các dạng phân đạm bọc lưu huỳnh; dùng thu ốc ức ch ế nitrificid bón vào đất để ức chế hoạt động các loài vi sinh vật tham gia vào quá trình nitrat hóa. Quá trình chuyển hóa từ NO3- thành N2 để bù trả lại nitơ cho không khí được gọi là quá trình phản nitrat hóa. Những vi khuẩn phản nitrat hóa điển hình là: Pseudomonas denitrificans, Ps. Acruginosa, Ps.stutzeri, Ps.fluorescens, micrococcus denitrificans, Bacillus licheforsmis,... Một số loại vi khuẩn tự dưỡng hóa năng cũng có khả năng thực hiện quá trình này nh ư Thiobacillus denitrificans, Hydrogenomonas agilis Ý nghĩa: Tất cả các loại vi sinh vật tham gia vào quá trình phản nitrat hóa đ ều là loài vi sinh vật yếm khí, chúng phân bố rộng rãi trong t ự nhiên và đ ược li ệt vào các loài vi sinh v ật có tác dụng xấu đối với nông nghiệp. Vì vậy phải đưa ra các bi ện pháp canh tác sao cho h ợp lí đ ể h ạn chế quá trình phản nitrat hóa. Ngoài các bi ện pháp phòng tr ừ nh ư đã đ ược nêu, ng ười ta th ường làm cỏ, sục bùn, tiêu úng cho các vùng b ị úng l ụt, t ưới n ước cho các vùng b ị h ạn, bón phân đạm vào lúc trời ít nắng cho lúa. . Câu 3: sự khác biệt giữa 2 domain Archaea và Eubacteria. Sự tiến hóa trong giới vi khuẩn
  19. 19 Đặc điểm Eubacteria Archaea Hầu hết có peptidoglycan chứa Nhiều loại khác nhau, không Thành tế bào chứa axit muramic axit muramic Chứa liên kết este, các axit Chứa liên kết ete, các chuỗi Màng lipid béo mạch thẳng aliphatic phân nhánh Không có tymin trong nhánh T ARN vận chuyển Tymin có trong phần lớn tARN hoặc TψC của tARN tARN mở đầu chứa N- Yếu tố kéo dài EF2 tARN mở đầu chứa metionin formylmetionin Mẫn cảm với cloramphenicol Không phản ứng với độc tố Có phản ứng bạch hầu và kanamycin Mẫn cảm với anisomycin Mẫn cảm Không Mẫn cảm Không ARN polymeraza (trên khuôn ADN) Số lượng enzym Một Một số Cấu trúc 4 tiểu đơn vị 8-12 tiểu đơn vị Mẫn cảm với rifampicin Mẫn cảm Không Promoter typ Polymerase II Không Có Trao đổi chất Tương tự ATPase Không Có Sinh metan Không Có Cố định N2 Có Có Quang hợp với diệp lục Có Không Hoá dưỡng vô cơ Có Có Tiến hóa: vi khuẩn cổ tiến hóa hơn vi khuẩn  Archaea: vi sinh vật cổ (cổ khuẩn, vi khuẩn cổ) Chúng có quá trình truyền đạt thông tin di truyền (nhân đôi DNA,  phiên mã, dịch mã) gần với sinh vật nhân thật. Câu 6: kiểu sinh sản của vi khuẩn, hình dạng, kích thước của các loại vi khuẩn: Kiểu sinh sản của vi khuẩn: -Vi khuẩn sinh sản bằng cách chia đôi hay trưc phân. Mặc dù không có hình thức sinh sản hữu tính nhưng các biến đổi di truyền vẫn sảy ra trong cơ thể vi khuẩn thông qua các hoạt động tái tổ hợp di truyền với 3 kiểu tái tổ hợp là biến nạp, tải nạp và tiếp hợp. Biến nạp: chuyển AND trần từ tế bào vi khuẩn sang tế bào khác thông qua môi trường lỏng bên ngoài hiện tượng này gồm cả vi khuẩn chết. Tải nạp: chuyển AND vi khuẩn từ tế bào sang tế bào khác nhờ thể thực khuẩn. Tiếp hợp: chuyển AND của vi khuẩn này sang vi khuẩn khác thông qua lông giới tính hay ống tiêp hợp. Sau khi nhận AND từ một trong 3 kiểu nói trên vi khuẩn sẽ tiến hành phân chia và truyền bộ gen tái tổ hợp cho thế hệ sau. Hình dạng kích thước các loại vi khuẩn: Kích thước trung bình 0,2-8 µm Những hình dạng chính của vi khuẩn:
  20. 20 +cầu khuẩn(coccus): khi phân chia theo một phương và dính nhau ta có song cầu khuẩn (Diplococcus), hoặc chuỗi cầu khuẩn, liên cầu khuẩn(Streptococcus), phân chia theo 2 phương và dính nhau ta có tứ cầu khuẩn tetracoccus, phân chia theo 3 phương dinh nhau tạo thành khối lập phương ta có Sacrina, hoặc phân chia theo nhiều phương ta có tụ cầu khuẩn(staphylococcus) đường kính từ 0,8-1,0 µm. + trực khuẩn: trực khuẩn không sinh bào tử như Escherichia coli…(0,5x2-3 µm).tr ực khu ẩn sinh bào tử :Bicillus,Clostridium với kích thước khoảng 2-3x1 µm +dạng trung gian phẩy khuẩn, xoắn khuẩn: -xoắn khuẩn và xoắn thể: xoắn khuẩn như Spirillum, Campylobacter, xo ắn th ể v ới các vòng xoắn khắc nhau:Spirochaeta, Leptospira(1x5-500 µm) - xạ khuẩn:gồm những vi khuẩn thuộc bộ Actinomycetales trong đó có các gi ống quan trong như Streptomyces, Micromonospora(1-2x100-5000 µm) -+vi sinh vật hình sao giống stella và vi sinh vật hình vuông gi ống Haloarcula. Câu 34: thí nhiệm của Lederberg chọn dán tiếp các chủng đột biến ở các chủng vi sinh vật và chứng minh tính đột biến vô hướng của vi khuẩn Lederberg thực hiện vào năm 1952, ông dùng nhiều khúc gỗ hình trụ tròn có đường kính nhỏ hơn đường kính đĩa pétri một chút. Một đầu của khúc gỗ có bọc một mảnh nhung đã vô trùng. Các khúc gỗ bọc nhung này dùng để in vết các khuẩn lạc trên mặt đĩa pétri sang mặt thạch của một đĩa khác. Như thế các khuẩn lạc mọc ra ở đĩa sẽ có vị trí giống in ở đĩa một và vi khuẩn của các khuẩn lạc ở đĩa hai có cùng đặc tính với khuẩn lạc cùng vị trí ở đĩa một. Đầu tiên, Lederberg dùng một huyền phù chứa vi khuẩn Escherichia coli B, mẫn cảm với phage T1, với mật số 108 vk/ml. Ông cấy huyền phù vi khuẩn vào mặt thạch của một đĩa pétri. Đem úm đến khi vi khuẩn mọc đầy đĩa, ông dùng khúc gô bọc nhung ấn vào mặt vi khuẩn trong đĩa để lấy vết và đem in vào mặt thạch của một đĩa pétri thứ hai (II) và một đĩa pétri thứ ba (III). Ở đĩa pétri III có phage T1. Đem úm trong tủ nuôi cấy. Sau đó , đĩa hai có vô số vi khuẩn mọc ra, còn ở đĩa ba chỉ co một vài khuẩn lạc mọc, đó là khuẩn lạc của các chủng đột biến kháng phage. Ông lấy vi khuẩn ở đĩa II ở ngay cùng vị trí mà ở đĩa III có khuẩn lạc kháng phage đem nuôi trong môi trường nuôi cấy để nhân ra. Sau đó , ông tạo một huyền phù với mật số 105 tế bào/ml từ vi khuẩn vừa nuôi ra. Huyền phù này được đem xoa trên mặt thạch của đĩa I (thuộc đợt 2) để úm trong tủ nuôi cấy. Sau đó , có một số khá nhiều khuẩn lạc mọc ra. Ông bèn dùng khúc gỗ bọc nhung khác để lấy vết khuẩn lạc và in vào mặt thạch ở đĩa II và đĩa III (thuộc đợt 2). Ở đĩa III cũng có phage T1. Sau khi nuôi cấy, ơ đĩa III chỉ có một số khuẩn lạc kháng phage mọc, còn ở đĩa II số khuẩn lạc mọc ra như ở đĩa I. Ông lấy vài khuẩn lạc ở đĩa hai có cùng vị trí với khuẩn lạc kháng phage của đĩa III (đợt 2) đem nuôi cấy ra. Thí nghiệm được tiếp tục nhiều lần, theo như Hình 8-12, và cuối cùng chỉ còn lại huyền phù chứa toàn vi khuẩn E. coli kháng phage. Trong thí nghiệm này, Lederberg chỉ lấy vi khuẩn từ đĩa II ở vị trí mà ơ đĩa III có khuẩn lạc kháng phage. Như thế suốt quá trình thí nghiệm, vi khuẩn được lấy để nhân ra hoàn toàn chưa tiếp xúc lần nào với phage cả. Dù vậy, ông vẫn co được chủng vi khuẩn

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản